Đặc điểm ngôn ngữ của giới nữ trong văn học đương đại việt nam - Pdf 56

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

------------

CHU HUYỀN THƯƠNG

ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ
CỦA GIỚI NỮ TRONG VĂN HỌC
ĐƯƠNG ĐẠI VIỆT NAM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ

HÀ NỘI – 2018


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

------------

CHU HUYỀN THƯƠNG

ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ
CỦA GIỚI NỮ TRONG VĂN HỌC
ĐƯƠNG ĐẠI VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ

Người hướng dẫn khoa học:

nghiên cứu có hạn nên không thể tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong
nhận được sự chỉ bảo từ các thầy, cô giáo và các bạn để cho khóa luận hoàn
thiện hơn.
Hà Nội, ngày 13 tháng 05 năm 2018
Tác giả khóa luận

Chu Huyền Thương


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU

1

1. Lý do chọn đề tài

1

2. Lịch sử nghiên cứu

2

3. Mục đích nghiên cứu

5

4. Đối tượng nghiên cứu

5


1.1.1. Đặc điểm về ngữ âm

7

1.1.2. Đặc điểm về từ vựng

9

1.1.3. Đặc điểm về ngữ pháp

12

1.2.

Ngôn ngữ nhân vật

15

1.3.

Bức tranh văn học đương đại Việt Nam

16

1.3.1. Bức tranh văn học đương đại Việt Nam từ góc độ nội dung

16

1.3.2. Bức tranh văn học đương đại Việt Nam từ góc độ nghệ thuật


nói của nhân vật nữ trong văn học đương đại

2.2.1. Các thao tác lập luận và đặc điểm lập luận của giới nữ
2.2.2. Đặc điểm về cách sử dụng các thao tác lập luận tiêu biểu
trong lời nói của nhân vật nữ trong văn học đương đại
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

54
54
55
59


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay, vấn đề về giới trong nghiên cứu ngôn ngữ của thế giới nói
chung và Việt Nam nói riêng là một vấn đề nóng hổi, mới mẻ, tạo ra sự hứng
thú, say mê cho các nhà nghiên cứu ngôn ngữ. Xuất phát từ góc nhìn ngôn
ngữ học xã hội về giới, các nhà nghiên cứu đã dựa vào những khía cạnh về
ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp cùng với những đặc điểm về tâm sinh lý, về địa vị
xã hội,.. để phân biệt rõ đặc điểm ngôn ngữ của giới nữ với đặc điểm ngôn
ngữ của giới nam.
Văn học Việt Nam đang trên đà phát triển và cũng đã đạt được rất nhiều
thành tựu xuất sắc với nhiều nghệ sĩ tài năng cùng với những tác phẩm mới
mẻ, sâu sắc đã làm giàu cho nền văn học nước nhà. Đặc biệt, hiện nay, thế
giới đã có rất nhiều nhà nghiên cứu và cũng hình thành nhiều hướng nghiên
cứu khác nhau về văn học. Bên cạnh các hướng tiếp cận tác phẩm như khai
thác đặc sắc nội dung, độc đáo nghệ thuật; tiếp cận tác phẩm từ góc độ văn

trong đó R. Lakoff là nhà nghiên cứu tiên phong với cuốn Language and
woman’s place, NXB Harper and Row, 1975 hay những nghiên cứ về các
hành vi và sự tiếp nhận hành vi dưới góc độ giới
Kế thừa những thành quả nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học trên thế
giới, các nhà ngôn ngữ học Việt Nam cũng đã mở rộng các vấn đề nghiên cứu
về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới. Thành công hơn cả chính là kết quả
nghiên cứu của Giáo sư Nguyễn Văn Khang với tác phẩm Ngôn ngữ học xã
hội trong đó dành hẳn một chương (chương 10) để bàn luận về ngôn ngữ và
giới trong đó tác gả đã khẳng định: “Có thể đi đến khẳng định rằng, yếu tố
giới là sự tồn tại có thực trong giao tiếp ngôn ngữ. Nó còn tồn tại từ hai
chiều: chiều tác động của giới đến sự lựa chọn ngôn ngữ trong giao tiếp và
chiều thông qua giao tiếp yếu tố giới được bộc lộ.” [4; 261].


Tiếp nối giáo sư Nguyễn Văn Khang là những nhà nghiên cứu tập trung
nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới trong giao tiếp người Việt như
các Luận án tiến sĩ: Phạm Thị Hà Đặc điểm ngôn ngữ giới trong giao tiếp
tiếng Việt qua hành vi khen và tiếp nhận lời khen đã chỉ ra đặc điểm hành vi
khen và tiếp nhận lời khen trong tiếng Việt từ góc độ giới trường hợp người
hâm mộ với nghệ sĩ và trường hợp đối với hình thức bên ngoài của con người.
Trần Thanh Vân trong Luận án Tiến sĩ: Đặc trưng giới tính biểu hiện
cuộc thoại mua bán ở chợ Đồng Tháp đã nghiên cứu được đặc trưng giới tính
biểu hiện qua phần dẫn nhập cuộc thoại, phần thân cuộc thoại và phần kết thúc
cuộc thoại mua bán ở chợ Đồng Tháp.
Ngoài ra còn có Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Thị Mai Hoa “Đặc điểm
ngôn ngữ giới tính trong hát phường vải Nghệ Tĩnh,…
Bên cạnh đó, ta còn thấy rất nhiều nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ giới
được thể hiện thông qua các tác phẩm văn học tiêu biểu là các Luận văn Thạc
sĩ: Hoàng Thị Sâm Đặc điểm lời thoại nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn
Ngọc Tấn - Nguyễn Thi nghiên cứu đặc điểm hành động ngôn ngữ qua lời thoại

hiện rất nhiều trong các tác phẩm văn học chứ không còn bị giới hạn như trong
các giai đoạn văn học trước. Ngôn ngữ trong tác phẩm đã phản ánh được nhiều
vấn đề xã hội đồng thời cũng thể hiện được những nét phong cách của từng
nhân vật, của từng vùng miền. Vì vậy mà nó đã trở thành đề tài nghiên cứu của
những người đam mê nghiên cứu với rất nhiều tác phẩm có giá trị: Luận văn
Thạc sĩ Nguyễn Thị Én Đặc điểm lời thoại nhân vật nữ trong truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp, Đặc điểm lời thoại nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn
Minh Châu, Khóa luận tốt nghiệp Hoàng Thị Thu Hà Đặc điểm ngôn ngữ
trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Văn Đồng Đặc điểm ngôn ngữ
Phạm Thị Hoài (qua tiểu thuyết Thiên sứ) và rất nhiều các tác phẩm.
Như vậy vấn đề nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới trong văn
học không phải là vấn đề xa lạ trong giới nghiên cứu hiện nay. Những tác
phẩm nghiên cứu mà tôi đã kể trên sẽ tạo tiền đề để tôi đi sâu vào phân tích và
tổng hợp đặc điểm ngôn ngữ của giới nữ thông qua lời thoại của họ trong văn
học đương


đại Việt Nam và cụ thể là qua một số truyện ngắn của Nguyễn Minh
Châu, Nguyễn Huy Thiệp và Nguyễn Nhật Ánh.
3. Mục đích nghiên cứu
Khóa luận này có các mục đích sau:
Khái quát lên đặc điểm ngôn ngữ của giới nữ trong văn học đương đại và
lý giải nguyên nhân để góp phần minh chứng cho mối quan hệ giữa ngôn ngữ
và giới trong phạm trù ngôn ngữ học xã hội, sự chi phối của giới tính đối với
việc sử dụng ngôn ngữ.
Khai thác đặc điểm ngôn ngữ của giới nữ để thấy được tài năng, sự sáng
tạo cùng với phong cách riêng trong việc sử dụng ngôn ngữ của giới nữ nói
chung và giới nữ trong văn học đương đại nói chung
4. Đối tượng nghiên cứu
Đặc điểm ngôn ngữ của giới nữ trong văn học đương đại Việt Nam

7.2. Ý nghĩa thực tiễn
Khóa luận giúp định hướng một hướng tiếp cận một tác phẩm văn học,
vận dụng đặc điểm ngôn ngữ về giới để có thể lí giải, phân tích nhân vật. Và
cũng dựa vào ngôn ngữ của nhân vật, chúng ta có thể thấy được tài năng, sự
sáng tạo của người nghệ sĩ.
8. Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
chính của khóa luận được cấu trúc thành 2 chương
Chương 1: Cơ sở lí luận liên quan đến đề tài
Chương 2: Đặc điểm ngôn ngữ của giới nữ trong các tác phẩm văn học
đương đại Việt Nam


NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Đặc điểm ngôn ngữ giới nữ
1.1.1. Đặc điểm về ngữ âm
Nhà nghiên cứu ngôn ngữ ngôn ngữ nổi tiếng thế giới là R. Lakoff đã
trình bày những đặc điểm ngôn ngữ của giới nữ trong cuốn sách Language
and woman’s place (Ngôn ngữ và vị trí của phụ nữ), NXB Harper and Row,
1975 [4; 239]. Và giáo sư Nguyễn Văn Khang cũng đã kế thừa thành tựu đó
và thể hiện trong cuốn sách của mình. Các nhà ngôn ngữ đều cho rằng đặc
điểm ngôn ngữ của phụ nữ bao gồm ba đặc điểm chính là đặc điểm về ngữ
âm, đặc điểm về từ ngữ và đặc điểm về ngữ pháp.
Về mặt ngữ âm, ngôn ngữ của phụ nữ có khá nhiều điểm khác so với
nam giới. Đầu tiên, Giáo sư Nguyễn Văn Khang cho rằng: “Phụ nữ phát âm
chuẩn hơn nam giới. Ví dụ nữ giới phát âm chính xác các âm như âm (g)
trong từ going thay vì cách nói thân mật goin” [4; 239].
Thứ hai, cao độ và ngữ điệu trong phát ngôn của phụ nữ được sử dụng
khá đa dạng. Họ ưa chuộng sự cường điệu hóa, thường có sự nhấn nhá khi

tỉ mỉ không chỉ trong các công việc trong cuộc sống mà cả lời ăn tiếng nói
hàng ngày. Họ thường rất thận trọng khi giao tiếp. Và trong quá trình giao
tiếp đó, họ cũng gửi gắm cảm xúc của mình và từ ngữ vào giọng điệu của lời
nói. Chúng ta có thể đoán ra ngay tâm trạng của người phụ nữ khi nghe họ nói
bởi cao độ và ngữ điệu của họ. Đó chính là một trong số những điểm khác
biệt của phụ nữ so với nam giới.


1.1.2. Đặc điểm về từ vựng
“Theo nghiên cứu về xã hội ngữ học (sociolinguistics) và trên thực tế có
sự khác biệt giữa nam và nữ về ngôn ngữ. Con gái thường phát triển ngôn
ngữ sớm hơn con trai. Ngay từ 2, 3 tuổi, khả năng tiếp nhận tiếng nói của các
trẻ em gái đều trội hơn các trẻ em trai”. [11]. Chính vì vậy, bên cạnh sự khác
biệt về phát âm thì từ vựng mà mỗi giới sử dụng cũng có sự khác nhau rõ rệt
Thứ nhất, chúng ta có thể thấy, trong giao tiếp, phụ nữ thường sử dụng
nhiều những từ chỉ màu sắc và thể hiện chính xác chúng. Trong khi đó, nam
giới lại rất hạn chế trong việc sử dụng và nếu có sử dụng thì cũng mang tính
chung chung không chính xác. Nguyên nhân cũng bắt nguồn từ tâm lý của
mỗi giới. Người phụ nữ thì rất chu đáo, có sự quan sát tỉ mỉ và đặc biệt rất chú
trọng đến cái đẹp. Do vậy, phụ nữ có sự tinh tế và nhạy cảm hơn so với nam
giới. "Phụ nữ thường sử dụng từ màu sắc như màu pastel (tức là những màu
nhạt như hồng, xanh, tím), màu be, màu xanh ngọc bích, màu cam cà rốt, màu
xanh navy,... Họ chú ý đến độ đậm nhạt của màu sắc để sử dụng đúng tên gọi
của màu sắc đó. Trong khi nam giới chỉ dùng những từ ngữ chỉ màu sắc
chung chung quen thuộc như đen, đỏ, xám, xanh,... Có khi, nam giới còn
không hình dung được màu sắc mà nữ giới thường gọi tên" [2; 21]. Đó chính
là sự đặc biệt đầu tiên trong ngôn ngữ của người phụ nữ.
Thứ hai, ở các nước châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng, người phụ
nữ xưa kia không được học hành tử tế. Họ chỉ quanh quẩn ở nhà nội trợ, chăm
sóc gia đình con cái, làm những công việc nữ công gia chánh. Vì vậy, vốn từ

ưa dùng những từ ngữ mạnh mẽ nhưng có phần dung tục, thô thiển như “mẹ
kiếp”, “chết tiệt”, “chó chết”,..
Thứ tư, Nguyễn Văn Khang đã khẳng định: “Phụ nữ thường dùng các từ
do dự như “sort of, I guess, I think"" [4; 240]. Điều đó có nghĩa là, phụ nữ


thường dùng những từ như “nghĩ”, “cho rằng”, “thấy rằng”,... để thể hiện suy
nghĩ của mình, tránh bộc lộ thái độ một cách “trực diện” [4; 240]. Làm như
vậy bởi phụ nữ luôn tránh việc làm mất lòng người khác hoặc sợ người khác
bị tổn thương.
Không chỉ vậy, phụ nữ đều rất mềm yếu, nhạy cảm, họ luôn mang trong
mình những cảm xúc khá mãnh liệt. Do vậy, phụ nữ rất ưa sử dụng những từ
thiên về bộc lộ cảm xúc của mình hơn là để thể hiện một nội dung nào đó.
“Phụ nữ thường sử dụng một số từ nghe có vẻ dịu dàng như “adorable” (thay
vì great), “charming” (thay vì terrific), “sweet” (thay vì coll), “lovely”,
“divine” (thay vì neat)” [4; 240]. (tức là dùng từ đáng quý (thay vì to lớn),
yêu kiều ( thay vì rất lớn), ngọt ngào, đáng yêu, tuyệt diệu (thay vì rõ ràng).
Còn đối với phụ nữ Việt của chúng ta, họ cũng hay dùng những từ mang cảm
xúc như: “Bộ phim này thật cảm động”, thay vì nói lên nội dung của phim hay
“tuyệt vời”, “tuyệt diệu”, “mĩ miều”, “tuyệt trần”,...
Và đặc biệt, phụ nữ rất thích dùng các từ tăng cường để nhấn mạnh như
là rất, cực kì, thật sự,.. Ví dụ như khi khen một chiếc áo đẹp, nam giới sẽ nói:
“Cái áo này đẹp đấy” nhưng phụ nữ sẽ nói rằng “Cái áo này đẹp cực”. Trong
giao tiếp, phụ nữ khá là tinh tế và họ thường rất thích khen người khác. Vì
vậy, phụ nữ thích dùng những từ nhấn mạnh để thể hiện cảm xúc của mình
đồng thời cũng tăng hiệu quả giao tiếp, luôn làm người đối diện thoải mái, vui
sướng. Đồng thời, khi gặp những tình huống khó khăn, căng thẳng, phụ nữ lại
ưa dùng những từ ngữ giảm nhẹ như “hơi hơi” hoặc “kiểu như”. Nó sẽ giúp
cho người nghe cảm thấy dễ chịu hơn. Ví dụ khi một người hỏi ý kiến về
chiếc áo mà người đó rất thích và đang mặc thử nhưng bạn lại chê nó, nếu là

- Đừng đi chơi về muộn.


Hay
- Xuống đây ngay!
Hay bạn gái nói với bạn trai (vợ nói với chồng):
- Đừng để tôi phát hiện ra.
Hoặc
- Đừng có léng phéng với cô nào đấy.”,....
Nhưng đa phần người phụ nữ thường dùng hình thức: “Làm ơn... ”,
“Cảm phiền.... ”, “Xin vui lòng.... ”, “Xin cảm ơn.... ”,... Nó thể hiện thái độ
lịch sự khi nhờ cậy người khác và điều đó rất dễ được chấp nhận. Ví dụ cùng
một hành động ngôn ngữ đề nghị đi nhờ xe, người phụ nữ ưa sử dụng một số
cách diễn đạt như :
- Cậu có thể cho tôi đi nhờ xe được không?;
- Làm ơn cho tôi đi nhờ xe.;
- Cảm phiền cậu chở tôi một đoạn.;
- Làm ơn cho tôi đi nhờ xe được không?,...
Tùy thuộc vào đối tượng thân quen và cũng tùy thuộc vào tính cách của
người nói mà họ sẽ sử dụng những cách diễn đạt khác nhau nhưng chung quy
lại, phụ nữ vẫn ưa sử dụng những câu cầu khiến phức hợp để thể hiện thái độ
lịch sự.
Thứ ba, phụ nữ nói có phần dài dòng hơn nam giới. “Họ thường đưa ra
những yêu cầu ở dạng kết hợp và gián tiếp để thể hiện tính lịch sự” [4; 241].
Thay vì nói: “Cho tôi đi nhờ xe.” thì họ lại diễn đạt khá dài dòng: “Tôi phân
vân không biết liệu rằng bạn có phiền không khi tôi muốn đi nhờ một đoạn.”.
Lỗi diễn đạt đó khiến cho đối phương không nỡ từ chối đề nghị của mình.
Và đặc biệt, phụ nữ thường có hành vi phân trần, rào đón trước khi đi
vào thông tin để làm giảm nhẹ đi áp lực cũng như để người đối diện thấy
thoải mái hơn. Vì vậy, “phụ nữ thường sử dụng một số từ và kiểu cấu trúc,


nhàng, mềm mỏng thì bị đánh giá là không có lập trường, không có chính
kiến. Nhưng khi họ nói năng mạnh mẽ, cá tính thì lại đánh giá họ không dịu
dàng, “đàn ông”. Bởi vậy mà người phụ nữ khá trau chuốt trong giao tiếp đặc
biệt là giao tiếp xã hội. Những nguyên nhân đó chung quy lại đã chi phối
mạnh mẽ đến việc sử dụng từ ngữ, cách diễn đạt mang tính đặc trưng của
người phụ nữ trong quá trình giao tiếp.
1.2. Ngôn ngữ nhân vật
Có rất nhiều những khái niệm về ngôn ngữ nhân vật
Từ điển thuật ngữ văn học nêu khái niệm như sau: “Ngôn ngữ nhân vật
là một trong các phương tiện quan trọng được nhà văn sử dụng nhằm thể
hiện cuộc sống và cá tính nhân vật. Trong tác phẩm, nhà văn có thể cá thể
hóa ngôn ngữ nhân vật bằng nhiều cách: nhấn mạnh cách đặt câu, ghép từ,
lời phát âm đặc biệt của nhân vật, cho nhân vật lắp lại những từ, câu mà
nhân vật thích nói kể cả từ ngoại quốc và từ địa phương... Trong các tác
phẩm tự sự, nhà văn còn thường trực tiếp miêu tả phong cách ngôn ngữ của
nhân vật.” [3; 214]
Nhà nghiên cứu Nguyễn Thái Hòa cũng đã khẳng định rằng: “Lời thoại
là hình thức kể bằng lời nhân vật. Nó còn được gọi là lời trực tiếp của nhân
vật trong văn học, là “hình thức kể chuyện cá thể hóa triệt để tính cách và
tình huống đối thoại”. [10]
“Lời thoại của nhân vật trong tác phẩm văn học là hình thức giao tiếp
thường xuyên, phổ biến nhất của ngôn ngữ, đồng thời cũng là hình thức căn
bản của mọi hoạt động ngôn ngữ khác. Hội thoại thường là cuộc trò chuyện,
đối thoại giữa hai nhân vật, dạng phổ biến nhất của hội thoại là song thoại.
Đơn vị cơ sở của hội thoại là cuộc thoại. Cuộc thoại bao gồm sự tương tác
qua lại giữa người nói và người nghe kết hợp với sự luận phiên lượt lời và
thay đổi vai trò trong suốt quá trình giao tiếp.” [10] Như vậy, lời thoại của



hơn vào những cách tân nghệ thuật”. [5; 10]
Giai đoạn văn học sau năm 1975 vận động theo hướng dân chủ hóa. Văn
học giờ đây đã nhìn thẳng, đào sâu vào sự thật phản ánh những gì xấu xa còn
tồn tại trong xã hội. Có sự thay đổi về đời sống, người nghệ sĩ mang trong
mình ý thức cách tân, sự đột phá trong cách tiếp cận và xử lí hiện thực đời
sống để đưa vào tác phẩm của mình. Trong xu hướng dân chủ hóa đó, văn học
cũng đã thể hiện những quan điểm, những chính kiến của người nghệ sĩ về xã
hội và về chính con người. "Tiếp cận với thế giới nhân vật trong các sáng tác,
người đọc như được tiếp xúc với con người trong đời sống thực với tất cả sự
sinh động, phong phú, đa dạng.” [12]. Hiện thực giờ đây là cuộc sống sinh
hoạt bình thường của con người với những vấn đề phức tạp của cuộc sống. Đó
là đời sống cá nhân của mỗi con người với những số phận riêng, những cảm
xúc riêng, những ước mơ, khát vọng riêng được người nghệ sĩ phản ánh thông
qua lăng kính của mình.
Tinh thần yêu nước chính là cảm hứng chủ đạo của nhiều giai đoạn văn
học Việt Nam. Con người giờ đây không còn chỉ bó hẹp trong mối quan hệ
với đất nước mà đã được nhìn ở góc độ đa chiều với nhiều vị thế và trong
nhiều mối quan hệ. Con người trong văn học đã bộc lộ rõ hơn những cá tính
riêng của mình, trở nên gần gũi hơn so với nhưng giai đoạn văn học trước
đây. Chính xu hướng dân chủ cùng với ý thức về cái tôi cá nhân đã mang đến
sự phát triển phong phú, đa dạng của văn học từ sau năm 1975.
Văn học sau năm 1975 đã chuyển sang một quỹ đạo mới, với sự hình
thành đội ngũ những cây bút mới bên cạnh những cây bút đã đi qua những
cuộc chiến tranh khốc liệt và họ đã viết về hiện thực của ngày hôm nay, phản
ánh đời sống từ những điểm nhìn, bằng cảm quan, tư tưởng của hiện tại.


1.3.2. Bức tranh văn học đương đại Việt Nam từ góc độ nghệ thuật
Bên cạnh những sự đổi mới trong nội dung thì văn học đương đại Việt
Nam cũng đã có rất nhiều cách tân về hình thức. Trong đó, văn xuôi đã có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status