BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Vũ Thị Hoàng Yến
HÌNH ẢNH NGƯỜI KỸ NỮ TRONG VĂN
HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
Mã số : 60 22 34
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
XVIII – XIX. Dù có đề cập đến nội dung nào thì xuyên suốt chặng đường trung đại, văn học
luôn thể hiện chất nhân văn. Có thể do con người là một tế bào quan trọng nhất của xã hội.
Cho nên, cất tiếng nói để ca ngợi, để thông cảm với con người là nội dung ta dễ dàng nhận
thấy trong văn học trung đại. Đặc bi
ệt ở đây là thân phận người phụ nữ. Người phụ nữ ngoài
cuộc sống và trong văn chương đều có một đặc điểm chung là những con người luôn phải
chịu bất công. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến thân phận của người phụ nữ
trong xã hội phong kiến. Luận văn này tiếp cận một khía cạnh khác trong đời sống của người
phụ
nữ xưa, những con người vừa có sắc đẹp, vừa có tài năng. Và lớp người này cũng chịu
những đau khổ do tài sắc của mình đem lại, đó là những người kỹ nữ.
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1 Giá trị nhân văn luôn là một giá trị quan trọng trong bất cứ một nền văn học nào. Đặc
biệt nó sẽ được thể hiện rõ nét nhất trong giai đoạn mà số ph
ận con người bị đè nén, cuộc
sống của họ phải chịu nhiều bất công. Ta có thể thấy điều này trong văn học Phục hưng của
văn học thế giới, khi mà người dân phải sống trong “ đêm trường trung cổ”. Ở ta, giai đoạn
văn học trung đại cũng không nằm ngoài quy luật đó. Khi xã hội phong kiến không còn sức
mạnh, giai cấp thống trị không còn là đạ
i biểu tích cực của nhân dân thì tiếng nói ca ngợi,
bênh vực con người, nhất là những người yếu đuối, thấp bé xuất hiện.
1.2 Văn học trung đại Việt Nam là một giai đoạn nở rộ nhiều hình tượng nhân vật. Nổi bật
trong đó là hình ảnh người phụ nữ. Họ là những nạn nhân nhỏ bé nhất, cùng cực nhất của xã
hội. Đặc biệt trong những thân phận ng
ười phụ nữ đau khổ đó, có một bộ phận những người
kỹ nữ. Đây là một hình ảnh xuất hiện khá thường xuyên trong những tác phẩm quen thuộc
của Nguyễn Du như : "Truyện Kiều", trong một số bài thơ chữ Hán như : " Ngộ gia đệ cựu
ca cơ", "Long Thành cầm giả ca",…; trong một số truyện thuộc " Truyền kỳ mạn lục" của
Nguyễn Dữ. Khảo sát thân phận người phụ nữ dưới góc độ là người kỹ nữ sẽ cho ta hiểu hơn
về số phận của những con người tài sắc sống trong xã hộ
trong lĩnh vực văn hóa. Hát ca trù xuất thân từ tài ca hát của các ca nữ trong thời phong kiến
mà ta thường hay gọi là " đào nương". Trong văn học trung đại, hình ảnh các đào nương xuất
hiện với mật độ dày đặc nhất là trong những bài thơ của Nguy
ễn Khuyến, Trần Tế Xương,
Dương Khuê vào đầu thế kỷ XIX. Từ đó, hình ảnh các đào nương vừa gõ phách vừa hát
được gọi là hát "ca trù" ( còn gọi là hát ả đào). Lối hát này hiện giờ đang được xem là một
giá trị văn hóa dân tộc cần được bảo tồn. Thông qua văn chương để tìm hiểu về văn hóa dân
tộc là một việc làm cũng khá thú vị mà luận văn sẽ đề cập đến.
3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ PHẠM VI KHẢO SÁT
Với đề tài này, đối tượng nghiên cứu chủ yếu của lu
ận văn là các tác phẩm có sự
xuất hiện hình ảnh kỹ nữ trong thời trung đại. Trong đó, luận văn sẽ tập trung vào một số tác
giả tiêu biểu như : Nguyễn Dữ, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, Trần Tế
Xương, Dương Khuê,… Ngoài ra, luận văn sẽ khảo sát một số tác phẩm xuất hiện vào thời
kỳ đầu của văn học trung đại có hình ả
nh kỹ nữ như : " Việt sử tiêu án" ( Ngô Thì Sĩ), "Công
dư tiệp ký" ( Vũ Phương Đề), "Lão kỹ ngâm" ( Thái Thuận).
Về những tác phẩm của các tác giả kể trên, hiện nay có nhiều văn bản khác nhau. Ở
đây, người viết dựa vào những văn bản thuộc những công trình sau : với tác giả Nguyễn Dữ,
người viết dựa vào cuốn " Truyền kỳ mạn lục", nxb văn nghệ, 1988. Đối vớ
i tác gia Nguyễn
Du, luận văn sẽ khảo sát các văn bản trong " Tổng tập văn học Việt Nam" – tập 13 và tập 14,
nxb Khoa học Xã hội, 2000. Với tác giả Nguyễn Công Trứ, người viết tham khảo trong "
Nguyễn Công Trứ : tác giả - tác phẩm – giai thoại", nxb Đại học quốc gia TPHCM, 2002 do
Nguyễn Viết Ngoạn nghiên cứu, sưu tầm và tuyển chọn. Đối với tác giả Trần Tế Xương,
người viết chọ
n cuốn " Trần Tế Xương, về tác gia và tác phẩm", nxb Giáo dục, 2001. Bên
cạnh đó, để tìm hiểu các văn bản của tác giả Nguyễn Khuyến, người viết tham khảo "
Nguyễn Khuyến tác phẩm", nxb Khoa học xã hội, 1984 do Nguyễn Văn Huyền sưu tầm –
biên dịch – giới thiệu. Ngoài ra , người viết cũng tham khảo thêm một số bài hát nói trong "
n chương trung đại của nước ta vẫn còn đó sức hấp dẫn, bắt nguồn từ
những hình ảnh lí thú. Vì đặc trưng của thời đại, khi sức mạnh của giai cấp trống trị không
còn, đất nước trở nên rối ren. Đó là khoảng thời gian bắt đầu từ thế kỷ XVII. Ảnh hưởng bởi
lịch sử xã hội, văn chương lúc đó đã phản ánh rấ
t nhiều về quyền tự do, quyền sống của con
người mà số phận của người phụ nữ là được các nhà thơ, nhà văn đề cập nhiều nhất. Mỗi
người phụ nữ trong mỗi tác phẩm có số phận riêng, nhưng tựu trung, đây là hình ảnh gây
nhiều thương cảm nhất. Và trong vô vàn những số phận đó, ở một khía cạnh khác là thân
phận của những người ph
ụ nữ tài sắc, người kỹ nữ. Là phụ nữ, họ đã khổ. Khoác trên mình
những ưu ái của tạo hóa như sắc đẹp và tài năng, họ càng phải chịu số phận khốn cùng. Đó là
cuộc sống " buôn phấn bán hương", chịu mọi tủi nhục, xót xa nhưng vẫn không nguôi khao
khát về hạnh phúc, về một cuộc sống chân chính. Tuy nhiên, đề tài này không phải đến nay
mới được nhắc đế
n. Trong bài " Truyền kỳ mạn lục – một thành tựu của truyện ký văn học
viết bằng chữ Hán" nhà nghiên cứu Bùi Duy Tân đã nói về vấn đề này như sau: “ Các
truyện Chuyện nghiệp oan của Đào Thị, Chuyện nàng Túy Tiêu,… phản ánh quan niệm
sống đồi bại của nho sĩ trụy lạc,lái buôn hãnh tiến nhưng Nguyễn Dữ có phần thông cảm với
khát vọng hạnh phúc chính đáng khi miêu tả
những cặp trai gái công khai yêu nhau…” [ 25,
518]. Trước đó, Bùi Duy Tân cũng đã đề cập đến vấn đề này một cách khái quát, chưa rõ
ràng khi ông có nhắc đến việc giải phóng tình cảm của người phụ nữ trong bài viết Sự phong
phú về mặt đề tài và thể loại văn học biểu hiện những xu thế mới của xã hội Đại Việt từ
thế kỷ XVI đến nửa đầu thế kỷ XVIII như sau: “… trong thời kỳ lịch sử này, do ảnh hưởng
ngày càng gia tăng của văn hóa dân gian, chủ đề quy
ền sống của con người được văn học
viết bước đầu đề cập tới. Một số tác phẩm đã phần nào thể hiện yêu cầu giải phóng tình
cảm… Truyền kỳ mạn lục đã dựng nên những cảnh tượng, những nhân vật cụ thể, sinh
động… Nhưng thông qua cách miêu tả đôi lúc say sưa về tình yêu nam nữ và cách thể hiện
đôi khi táo bạo về một số
đề tài hồng nhan bạc mệnh: ông viết về Dương Quý Phi, nàng Tiểu Thanh, về cô Cầm đất
Long Thành, người con gái đánh đàn ở La Thành, những cô gái “Liều tuổi xuân buôn
nguyệt bán hoa” và nàng Đạm Tiên, nàng Kiều. Trong sự phong phú của các nhân vật phụ
nữ tài sắc mà bất hạnh, mặc dầu có hiện diện một số gương mặt phụ nữ thuộc tầng lớp trên
như Dương Quý Phi, ta thấy có sự tập trung rõ rệ
t vào hình tượng người kỹ nữ, cô đào. Do
đó, câu chuyện về hồng nhan bạc mệnh của Truyện Kiều không chỉ dừng lại ở vấn đề về bất
hạnh của người đẹp nói chung mặc dù bản thân vấn đề bất hạnh của các mỹ nhân cũng là
vấn đề có căn cứ ở thực tế xã hội phong kiến. Người đẹp nói chung không phải là quan tâm
chủ
yếu của Nguyễn Du mà ông nhìn nó gắn liền với những người kỹ nữ bất hạnh. Nói cách
khác, câu chuyện tài sắc ở Truyện Kiều không thể nhìn cô lập mà phải đặt trong tương quan
với vấn đề tài tình”. [45, 145]
Điểm qua những ý kiến, những bài viết ở trên, có thể thấy rõ vấn đề hình ảnh kỹ nữ
trong văn học trung đại của ta không phải chưa được nhắc đến. Tuy nhiên, nh
ững bài viết
trên chưa đề cập một cách trọn vẹn, chuyên biệt ở từng khía cạnh về nhân vật này. Trong
tình hình đó, luận văn này xin góp thêm một tiếng nói, một suy nghĩ. Những kiến giải của
những công trình nghiên cứu đi trước chính là tiền đề để người viết lựa chọn và thực hiện đề
tài này. Với thời gian và năng lực có hạn, hy vọng luận văn sẽ đư
a ra được những nét mới,
hệ thống hơn về một hình ảnh khá thú vị và cũng không kém phần nhạy cảm này.
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Với đặc trưng của đề tài, người viết tiến hành các phương pháp nghiên cứu như:
- Phương pháp lịch sử
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp phân tích tổng hợp
Những phương pháp trên được kết hợp với các thao tác: phân loại, thống kê, phân tích,
đối chiếu so sánh. Các phương pháp này được dùng ở xuyên suốt các chương.
Đầu tiên là thống kê các đối tượng. tiếp theo là phân loại một cách hợp lý. Sau đó, ở
I. Hình ảnh kỹ nữ trong thơ văn một số nước Châu Á
1. Kỹ n
ữ ở Trung Quốc
1.1. Nguồn gốc
1.2. Phát triển
1.3. Đặc điểm
1.4. Hình ảnh kỹ nữ trong văn học Trung Quốc
2. Kisaeng ở Hàn Quốc
2.1. Nguồn gốc và phát triển
2.2. Đặc điểm
2.3. Hình ảnh Kisaeng trong văn học Hàn Quốc
3. Geisha ở Nhật Bản
3.1. Tên gọi
3.2. Nguồn gốc
3.3. Đặc điểm
3.4. Hình ảnh geisha trong văn học Nhật Bản
II. Những điểm tương đồng và dị biệt giữa hình ảnh kỹ nữ trong văn học Việt Nam và
các nước Châu Á
1. Điểm tương đồng
2. Điểm dị biệt
Chương 1 : ĐÔI NÉT VỀ NHÂN VẬT KỸ NỮ TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI
VIỆT NAM
I. KHÁI NIỆM “KỸ NỮ”
Nhìn từ lịch sử phát triển của nghề kỹ nữ và từ từ nguyên, ta có các cách giải thích
sau:
- Chữ “kỹ” (nữ + chi)
1
: + Gái đẹp
+ Người phụ nữ làm nghề ca hát
+ Tục gọi gái đĩ
6
o Kỹ nữ: gái hành nghề tại các thanh lâu, kỹ viện.
7
o Ca kỹ: người phụ nữ sống bằng nghề ca hát và mại dâm trong xã hội cũ.
8
o Ca kỹ: những người con gái làm nghề ca hát, có khi cả nghề mại dâm trong xã hội cũ.
91
Từ điển Hán Việt, Nguyễn Tôn Nhan, NXB Từ điển Bách Khoa, 2003, trang 190
2
Từ điển Hán Việt, Nguyễn Tôn Nhan, NXB Từ điển Bách Khoa, 2003, trang 325
3
Từ điển Hán Việt, Nguyễn Tôn Nhan, NXB Từ điển Bách Khoa, 2003, trang 28
4
Từ điển tiếng Việt, Nxb VHTT, 2005, trang 1095
5
Từ điển từ và ngữ Việt Nam, Nxb TpHCM, 2000, trang 980
6
Đại từ điển tiếng Việt, Nxb VHTT, 1999, trang 934
7
Từ điển tiếng Việt phổ thông, Nxb TpHCM, 2002, trang 638
8
Từ điển tiếng Việt phổ thông, Nxb TpHCM, 2002, trang 87
9
Từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hóa Sài Gòn, 2006, trang 144
kỹ nữ ở đây đều được chỉ bảo bài bản việc ca múa đàn hát. Đây cũng là một trong những tài
năng cơ bản của kỹ nữ. Đa phần các kỹ nữ đều rất xinh đẹp. Ngoài tài năng đàn hát ca múa,
họ còn phải biết cách tiếp chuyện, biế
t cách quyến rũ, làm vừa lòng khách.
Càng về sau, kỹ nữ càng biến tướng. Họ không chỉ đơn thuần là người đàn hát ca múa
bình thường ở các kỹ viện nữa, mà trở thành những người kiêm luôn nghề bán thân để sinh
sống. Kỹ viện cũng trở thành những nhà chứa, lầu xanh đích thực, là nơi đi lại dập dìu của
khách làng chơi. Khách làng chơi ở đây chủ yếu là những kẻ có tiền, có quy
ền; không có
tiền, có quyền thì là khách giang hồ đến để mua vui, hoặc là những người đam mê tửu sắc. Ở
10
Từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hóa Sài Gòn, 2006, trang 144
11
Từ điển từ và ngữ Việt Nam, Nxb TpHCM, 2000, 203
các thanh lâu tấp nập các bóng hồng, họ chính là những kỹ nữ. Và loại người này luôn hứng
chịu những thiệt thòi, bị xã hội phong kiến xem thường, khinh miệt. Sự thống khổ của kỹ nữ
biểu hiện trên nhiều phương diện, hoặc từ sự áp bức của quan phủ, hoặc do tú bà ngược đãi
hoặc do khách làng chơi coi khinh hạch sách, hoặc từ sự dày vò tâm tư của chính mình, …
muôn đời không sao dứt h
ết được. Đối với kỹ nữ mà nói, họ không những biểu diễn tài nghệ
ca múa miễn phí cho quan lại mà còn phải đảm nhiệm việc làm công cụ thỏa mãn dục vọng
cho kẻ thống trị. Họ trở thành những vật hy sinh đáng thương, bị đem ra trao đổi, mua bán,
hành hạ, cưỡng bức. Một khi đã bước vào lầu xanh thì họ bị đè nén và khó lòng thoát nổi.
Phần lớn kỹ nữ hoàn toàn không có quyề
n tự do cá nhân, họ phụ thuộc hoàn toàn vào tú bà,
chủ thanh lâu. Họ không có gì đảm bảo tính mạng của mình. Người kỹ nữ trong “ địa ngục
trần gian” chẳng qua chỉ là công cụ hái ra tiền của các tú bà. Kỹ nữ tiếp khách ít, không kiếm
được tiền, hoặc chiêu đãi khách không chu đáo, hoặc tham ngủ dậy trễ, hoặc không cẩn thận
làm trái quy định của kỹ viện, … nhất định bị đánh đập tàn nhẫn. Mỗi lúc chị
người vào những phép tắc lễ nghĩa trong ứng xử. Những ràng buộc đó tác động rất lớn đến
cuộc sống của những người phụ nữ. Vào đất nước chúng ta, với sự tiếp nhận bị động ( do
chủ ý muốn đồng hóa dân tộc ta của người Trung Quố
c), thân phận người phụ nữ phải chịu
bao đắng cay tủi nhục. Họ hoàn toàn phụ thuộc, lệ thuộc vào người đàn ông. Với những
người có nhan sắc thì càng tai họa hơn. Những người đẹp này thường bất hạnh vì chính nhan
sắc của họ. Xã hội phân hóa giai cấp càng sâu sắc thì người đẹp càng dễ trở thành nạn nhân
của vua chúa, quan lại, những kẻ lắm tiền. Bị lệ thuộc vào ng
ười khác nên họ hoàn toàn
không chủ động được cuộc sống của mình. "Người phụ nữ không có quyền lựa chọn riêng
cho mình cách sống, cách ứng xử, hay thậm chí là làm chủ than xác và tâm lý của mình" [
45, 144]. Những người phụ nữ đẹp thời xưa thường hay bị tuyển mộ, dâng nạp, bị gả bán
cho quan lại, vua chúa. Vì vậy, họ trở thành công cụ để thỏa mãn nhục dục của tầng lớp trên.
Vì chỉ là m
ột công cụ mua vui cho người có chức quyền và tiền của cho nên khi sắc đẹp phai
tàn, số phận của họ trở nên thật bi đát.
Không những là công cụ mua vui, người tài sắc còn là một phương tiện để vua chúa
thực hiện những mưu đồ chính trị. Thành ngữ "nghiêng nước nghiêng thành" là một cách nói
để nói về sắc đẹp nguy hiểm của các mỹ nhân đối với sự tồn vong của một triều đại. Nghịch
lí thay, chính những kẻ có chức quyền khi cần thì dùng sắc đẹp của họ để tranh giành quyền
lực, còn khi triều đại sụp đổ thì lại miệt thị, lên án. Đau đớn hơn cả là khi bọn vua chúa thực
hiện thành công mưu đồ thì có thể họ sẽ kết thúc cuộc đời của các mỹ nhân một cách hết sức
đau đớn. Sử sách đã ghi lại rất nhiều câu chuyện đau lòng như trên. Ví nh
ư Tây Thi được
Việt Vương Câu Tiễn dung làm mỹ nhân kế để đánh Ngô Phù Sai, việc lớn thành công, Câu
Tiễn phục thù được thì cũng là lúc Tây Thi bị bỏ vào túi da ném xuống sông. Đó là sách sử
Trung Quốc. Ở Việt Nam ta, Đại Việt sử ký toàn thư có ghi lại việc tuyển cung, một cách
đẩy đưa những người con gái đẹp đến gần hơn với số phận bất hạnh như sau: "Năm 1441,
đời Lê Thái Tông, mùa hạ tháng năm, xu
ống lệnh tuyển con gái đẹp ở các phủ huyện. Mùa
quyền độc đoán củ
a bọn chúng.
Tóm lại, số phận thực tế của những người phụ nữ tài sắc trong xã hội phong kiến
phương Đông đã là nền tảng cho sự hình thành triết lý về thân phận bất hạnh của người hồng
nhan. Người xưa không thể hiểu rằng chính xã hội nam quyền với sự lạm dụng vô hạn quyền
lực của nam giới đối với phụ nữ, chính xã h
ội không có các thiết chế luật pháp hữu hiệu bảo
vệ cho những người phụ nữ tài sắc vốn dễ bị xâm hại đã gây ra nỗi bất hạnh của người hồng
nhan. Nhà nho xa lánh, hắt hủi những người đẹp, xem người đẹp như là nguyên nhân gây
nên sự suy vong, sụp đổ của nhiều triều đại, bất hạnh và tai họa cho gia đình, đau khổ cho cá
nhân. Trọng đức hơn trọng sắc, đó là thực tế đã từng kéo dài ở cả Trung Quốc và Việt Nam.
Người ta đã nhìn hiện thực dưới dạng lộn ngược: lẽ ra phải lên án xã hội nam quyền, phụ
quyền mà Nho giáo bảo vệ, lẽ ra phải bênh vực những người phụ nữ đẹp thì người ta lại xa
lánh, hắt hủi người hồng nhan. Đúng như Trần Đình Hượ
u nhận xét:" Họ (các nhà nho) cho
sắc đẹp là một thứ của "làm nước mất nhà tan", một điềm "bất tường". Gia đình xã hội đề
cao người con gái nết na, đoan trang, đảm đang chứ không đề cao sắc đẹp. Khi dạm vợ cho
con cháu, người ta thường tránh người đẹp vì lo nó không mang phúc mà mang họa đến cho
gia đình. Trần Ngọc Vương cũng rất có lý khi cho rằng "triết lý hồng nhan bạc mệnh từ chỗ
có ngu
ồn gốc xã hội thuần túy duy vật, dần dần bị trừu tượng hóa trở thành một triết lý tướng
số, đậm chất tiên nghiệm, duy tâm."
Nếu chú ý xem xét các sự kiện văn hóa thời kỳ này, ta dễ thấy, thực ra vấn đề "tài
mệnh tương đố (tài không tách rời tình) có căn nguyên xã hội sâu sắc. Đây là hiện tượng có
thực của xã hội Việt Nam từ thế kỷ XVIII trở đi, gắ
n liền với hiện tượng ả đào đã xuất hiện
thành một tầng lớp xã hội đông đảo.[45, 146]
Trong khi lập trường Nho giáo phổ biến là kết án các mỹ nhân, tuyên truyền thái độ
ghẻ lạnh, xa lánh người đẹp, sợ người đẹp thì các nhà thơ, nhà văn trung đại cất tiếng nói
bênh vực, cảm thông với số phận của họ. Trong bối cảnh cả xã hội coi khinh, miệt thị nh
xâm lược nước ta, rất thích tài đàn hát của một cô gái tên gọi Đào Nương. Chúng thường ra
lệnh cho người ca nữ này hát mua vui. Bà đã lập công tiêu diệt bọn chúng bằng tài ca hát và
sắc đẹp của mình. Khi bà mất, dân làng nhớ công ơn bà nên đã lập đền thờ và gọi làng Đào
Đặng là làng Ả Đào.[42, 44]
Đã là thân phận mộ
t kỹ nữ, cho dù công việc tiếp khách của kỹ nữ đơn thuần là xướng
ca múa hát hay có liên quan đến thân xác đi nữa thì một khi nhắc đến kỹ nữ, ta đều có một
tình cảm cảm thông đến thân phận cô đơn, hẩm hiu của họ. Khi còn trẻ đẹp, các kỹ nữ được
người ta tôn vinh tài nghệ, sắc đẹp là thế. Nhưng khi về già thì sao ? Nhà thơ Thái Thuận đã
diễn tả tâm trạng của một k
ỹ nữ khi về già:
Hao mòn niên thiếu thủơ ăn chơi
Trang điểm hồng nhan khó đẹp người
Hoa rụng trước đình gương biếng ngắm
Trăng soi hồ nhớ hái sen chơi.
Lầu son gái trẻ vui mà thẹn
Gác tía thuyền quyên nhớ một thời
Chiếc gối du tiên khơi trí tưởng
Cùng ra ngủ giấc chia đôi.
(Lão kỹ ngâm – Thái Thuận – Quách Tấn dịch)
Cả bài thơ là sự nuố
i tiếc, nhung nhớ khôn nguôi của người ca kỹ khi đến tuổi xế
chiều. Sắc đẹp giờ đây đã “hao mòn”, không còn là “hồng nhan” nữa vì đến việc soi gương
giờ đây cũng biếng. Thời gian đẽ đem đi sắc đẹp, tiếng hát – những thứ mà bất cứ một người
ca kỹ nào cũng cần phải có. Giờ đây, khi tuổi đời đã về chiều, khi thấy trăng sáng bên bờ hồ
mà xao xuyến, bần thần tưởng nhớ lại bài hát “ Thái liên khúc” của một thuở “Lầu son gác
tía”, cùng khách bơi thuyền đi hái sen mua vui trên hồ trong đêm thanh vắng.
Đây có thể là một trong những tác phẩm văn học đầu tiên có hình ảnh của người kỹ nữ
của văn học trung đại đ
ã diễn tả gần như cả cuộc đời người kỹ nữ. Nhất là tâm trạng nhung
phê phán bè lũ thống trị, đồng thời các nhà văn, nhà thơ cất tiếng nói cảm thông với số phận
của những người nhỏ bé trong xã hội. Hình ảnh những con người nhỏ bé cùng với cuộc sống
cùng cực của họ trở thành hình tượng trung tâm của những sáng tác lúc bấy giờ. Trong đó,
hình ảnh gợi lên nhiều nỗi thương tâm, suy nghĩ nhất là số phận của những người phụ nữ.
Vào giai đoạn chế độ phong kiến thịnh trị, vấn đề được đề cập nhiề
u trong văn học là cảm
hứng hào hùng của toàn dân tộc trước những chiến tích lẫy lừng, là hình ảnh con người trong
mối tương quan nhất thể với vạn vật, tự nhiên. Hình ảnh con người với những gì riêng tư
nhất vẫn chưa xuất hiện. Sang thời kỳ chế độ phong kiến bắt đầu có dấu hiệu suy vi, giai cấp
thống trị thoái hóa thì chính sách chuyên chế trở nên vô cùng nghiệt ngã. Những quan hệ tình
cảm của con người tuyệt đối bị cấm nhắc đến trên mọi lĩnh vực, đặc biệt là văn chương. Giai
cấp thống trị muốn đưa con người vào quy củ trên danh nghĩa là ngăn chặn những mối quan
hệ buông thả. Một mặt, họ rêu rao vấn đề giới tính là xấu xa, nó là vấn đề cần bị cấm kỵ. Mặt
khác, chế độ phong kiến đã dung dưỡ
ng cho lối sống xa hoa, phóng túng, sa đọa của bọn vua
chúa. Chính vì thấy được bộ mặt thật của chế độ phong kiến, con người đã ý thức được thân
phận của mình. Con người nhận ra cần phải đấu tranh để giành lại cuộc sống tự do chính
đáng của mình. Họ vùng dậy chống lại giai cấp phong kiến, đòi quyền được sống trong tình
cảm và những mối quan hệ thuận theo tự nhiên. Tiế
ng nói ấy đã trở thành trào lưu nhân văn
chủ nghĩa trong văn học. Trào lưu thể hiện khát vọng con người cá nhân nở rộ ở giai đoạn
thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX, nhưng thật ra nó có nền móng từ thế kỷ XV – XVI, mà
Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ là một tác phẩm tiêu biểu. Tình yêu và những biểu hiện
tự nhiên của nó được tác gi
ả xây dựng trong tác phẩm trên được coi là một sự phản ứng lại
với những luật lệ hà khắc của thời phong kiến.
Đáng lưu ý , một hình ảnh khác của người phụ nữ, chính là hình ảnh kỹ nữ đã xuất
hiện có phần rõ nét hơn giai đoạn trước.
Giai đoạn trung đại chính là thời điểm nở rộ của hình ảnh kỹ nữ với khá nhi
ều sáng
gái Nam Xương), hoặc như nàng Nhị Khanh tiết nghĩa, khuyên chồng chịu theo cha đến
nhận chức ở nơi “ tử địa”, rồi ở nhà một mực thủ tiết chờ chồng, thì còn là những phụ nữ có
thân phận hèn kém trong xã hội như Túy Tiêu, m
ột con hát, thực chất là nô lệ trong dinh thự
một vị quan nhà Trần trong “ Chuyện nàng Túy Tiêu”, hay người kỹ nữ tên Hàn Than trong
“Chuyện nghiệp oan của Đào Thị”.
Các truyện “Chuyện nghiệp oan của Đào Thị” và “Chuyện nàng Túy Tiêu” là những
truyện có xuất hiện hình ảnh nhân vật nữ có những biểu hiện đặc trưng của người làm nghề
kỹ nữ. Những nhân vật đó là: nàng Túy Tiêu ( Chuyện nàng Túy Tiêu), Hàn Than ( Chuyện
nghiệp oan củ
a Đào Thị).
Túy Tiêu và Hàn Than là hai nhân vật được giới thiệu ngay từ đầu truyện là ca nữ. Họ
đều mang thân phận của hạng người được coi là thấp kém trong xã hội. Tuy cả hai đều là
những người xinh đẹp, thông minh nhưng đáng thương. Túy Tiêu đã phải chịu nhiều nỗi khổ
trong dinh thự của tên Trụ Quốc, để hy vọng có ngày tái hợp cùng người yêu là Dư Nhuận
Chi. Hàn Than thì trải qua một cuộc đời đầy sóng gió, h
ết kiếp người đến kiếp ma, và dù cho
có tồn tại ở kiếp nào đi nữa, người ca kỹ này cũng bị những thế lực thù địch vùi dập. Hai
nhân vật kỹ nữ trong hai tác phẩm trên, qua lời kể của Nguyễn Dữ là hai ca nữ xinh đẹp, tài
giỏi nhưng cuộc đời lại chìm nổi, gian truân. Và trên hết, họ luôn khát vọng về một cuộc
sống hạnh phúc, điều mà họ đáng được hưởng và đã giành cả cuộ
c đời để đấu tranh.
Thông qua các nhân vật nữ, đặc biệt là những người kỹ nữ, tác giả đã gửi gắm những
thông điệp về cuộc đời, cất lên tiếng nói cho một tình yêu tự do, giải phóng con người ra
khỏi sự chế tài của xã hội. Người kỹ nữ xuất hiện trong những câu chuyện đều sống một
cuộc sống đầy sóng gió. Nàng Túy Tiêu may mắn được gặp l
ại người yêu và sống hạnh phúc
sau chuỗi ngày đau khổ chờ đợi, còn Hàn Than thì kết cục bi thảm hơn. Trải qua bao nhiêu
kiếp, kết cục vẫn không thể vươn tới được cuộc sống hạnh phúc. Ở đây, cũng cần nói thêm
về ảnh hưởng bởi nhận thức của tác giả. Các nhân vật nữ nói chung trong "Truyền kỳ mạn
Kiều – Nguyễn Du), cô Cầm ( Long Thành cầm giả ca), người ca nữ đất La Thành ( La
Thành mại ca giả), người hầu c
ũ của em ( Ngộ gia đệ cựu ca cơ). Nói đến thân phận của
người phụ nữ trong văn học giai đoạn này, đặc biệt những con người có nhan sắc thì ai cũng
nghĩ đến một quan niệm quen thuộc “ hồng nhan bạc mệnh”. Quan niệm này được các tác
giả khai thác tối đa khi xây dựng hình ảnh kỹ nữ. Nguyễn Du đã có hẳn một nhóm tác phẩm
dành cho đề tài này : ông viết về cô C
ầm, về người đánh đàn đất La Thành, về nàng Kiều, về
Đạm Tiên, về những cô gái “liều tuổi xuân buôn nguyệt bán hoa” ( Văn chiêu hồn ). Trong
sự phong phú của các nhân vật phụ nữ tài sắc mà bất hạnh, ta thấy có sự tập trung rõ nét vào
hình tượng kỹ nữ, ả đào. Người đẹp nói chung không phải là quan tâm chủ yếu của Nguyễn
Du mà ông nhìn nó gắn liền với những người kỹ nữ b
ất hạnh. Như đã nói ở trên, từ thế kỷ
XVIII trở đi, ả đào đã xuất hiện thành một tầng lớp đông đảo. Không nghi ngờ gì nữa, những
tài năng của Thúy Kiều gợi ta liên tưởng đến tài nghệ của các kỹ nữ, ả đào. Cuộc đời của
Thúy Kiều cũng trải qua những đau khổ thường thấy ở một kỹ n
ữ.Triết lý nêu lên trong
Truyện Kiều về tài mệnh tương đố hẳn đã bắt nguồn từ những quan sát và suy ngẫm lâu dài
của Nguyễn Du về thân phận của người ả đào mà ông đã có dịp chứng kiến ngay trong gia
đình của mình rồi sau đó ông lại tiếp tục bắt gặp đây đó trên đường đời. Người phụ nữ tài sắc
không chỉ làm cung phi, làm món mồi tranh đoạt của b
ọn quyền quý. Họ còn đem tài sắc
phục vụ cho nhu cầu ăn chơi, giải trí của bọn đàn ông và họ làm thành một lớp người đặc
biệt của xã hội được gọi là đào nương, ả đào. Những phụ nữ gọi là ả đào đã bán tài hát hay,
đàn ngọt của mình để kiếm sống, thậm chí kiếm sống bằng cả thân xác hoặc trở thành vợ
thi
ếp.
Tuy mang thân phận là người kỹ nữ, một nghề chịu nhiều sự khinh miệt của xã hội,
nhưng khi xuất hiện trong văn học giai đoạn này, họ lại được các nhà văn thương cảm, đau
xót cho số phận của họ, những con người “hồng nhan” nhưng “mệnh bạc”. Dưới chế độ
hấp dẫn của ca trù là nghệ thuật ngôn từ trong các bài ca cùng sự biểu hiện tinh tế của người
hát trong sự phối hợp nhịp nhàng với ngón đ
àn, khổ phách.
Trên đất Thăng Long , có một hình thức ca nhạc xuất hiện sớm nhất, đó là hát ả đào,
một hình thức ca hát dân gian, nguồn gốc là hát cửa đình. Hát cửa đình còn gọi là hát thẻ (
hát ca trù). Trù là thẻ làm bằng tre ghi chữ đánh dấu để thưởng cho người hát hay. Sau khi
hát xong, các ban hát, hoặc ca kỹ cứ đếm thẻ mà lĩnh thưởng. Hát dân gian cửa đình phát
triển lên chuyên nghiệp vào thành Thăng Long đã có nhiều biến đổ
i theo tên gọi: hát cửa
đình, ca trù, ả đào, hát nhà tơ, nhà trò, cô đầu.
Theo sách “Đại Việt sử ký toàn thư” về nguồn gốc loại nhạc này có viết:
“Mùa thu,
tháng 7 năm Ất Sửu (1025) đời Lý Thái Tổ... định lại các khoản quản giáp. Chỉ con hát mới
được gọi là quản giáp. Khi ấy có con hát là Đào thị, giỏi nghề hát, thường được thưởng,
người bấy giờ hâm mộ tiếng của Đào Thị, cho nên phàm con hát đều gọi là đào nương”. Như
vậy, có thể thấy người con gái hát giỏi kia là họ Đào. Sau này ai làm nghề đó đều được gọi là
“Đào hát”. “Đào nương” hay “ả Đào” đều có nghĩa ám chỉ người con gái làm nghề hát
xướng.[8,23]
Ngày xưa, hát ả đào là một thứ mua vui cho các nhà quan, nên mỗi khi đãi khách hoặc
yến tiệc trong dinh thì gọi là Ty. Dinh tuần phủ thì gọi là phiên ty, dinh án sát gọi là niết ty.
Những cuộc hát ở đào ở trong dinh gọi là hát nhà tơ. Còn hát nhà trò là hát có điệu bộ, đó là
một hình thức ra trò, làm trò diễn. Từ hát nhà trò sau lại đổi tên thành hát cô đầu. Hát cô đầu
thịnh hành
ở phố Khâm Thiên. Đây là giai đoạn phát triển cuối cùng của hát ả đào. Ngày
xưa, các phường gánh cầm ca thường thu gom tiền của một gánh, số tiền đóng góp ấy thường
gọi là tiền đầu. Từ đó, chữ "ả" có vẻ miệt thị nên gọi là "cô", chữ "đào" gọi là "đầu", nên từ
đó có tên gọi là hát cô đầu. Hát cô đầu dưới thời phong kiến thực dân là một thú chơi sang,
có thể th
ức lề lối hát. Những người có tiền hoặc các quan lại, công tử, các nhà địa chủ, phú
-
Thơ Dương Khuê : Gặp đào Hồng đào Tuyết, Gặp cô đầu cũ, Tặng cô đầu Hai,
Tặng cô đầu Cúc, Thăm cô đầu ốm,…
- Thơ Nguyễn Công Trứ : Một ngày là nghĩa, Cảnh biệt ly, Yêu hoa, Bỡn cô đầu
già,…
- Thơ Trần Tế Xương : Hát cô đầu, Thú cô đầu, Tết cô đầu, Chơi ả đào, Hỏi ông
trời,…
- Thơ Nguyễn Khuyền : Đĩ cầu nôm, Bóng
đè cô đầu,…
Mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau thì nội dung phản ánh trong văn học cũng khác đi.
Với hình ảnh nhân vật kỹ nữ, sự xuất hiện của lớp người này cũng theo quy luật trên. Giai
đoạn đầu của thời trung đại, kỹ nữ chỉ được nhắc đến với tư cách là tên gọi của một hạng
người trong xã hội. Đến khi xã hội suy vi, người dân l
ầm than, khổ cực, người kỹ nữ hiện lên
là một nhân vật đại diện tiêu biểu cho tiếng nói thống thiết của thân phận con người. Khi
nghệ thuật hát ca trù ra đời, người kỹ nữ xuất hiện với tên gọi là cô đầu. Cô đầu trong văn
học trung đại được mô tả với hai chiều hướng: những cô đầu là truyền nhân của nghệ thuật
và những cô đầu đã bị biế
n tướng cùng thời gian.
Chương 2 : NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA NHÂN VẬT KỸ NỮ TRONG THƠ VĂN
TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
Ở chương I, chúng ta đã điểm qua sự xuất hiện của nhân vật kỹ nữ trong văn học qua
từng giai đoạn lịch sử. Ở mỗi giai đoạn, hình ảnh kỹ nữ mang một màu sắc khác nhau. Nếu ở
giai đoạn đầu thế kỷ XV – VI, k
ỹ nữ chỉ mới xuất hiện dưới một lời giới thiệu của tác giả thì
đến thế kỷ XVIII, khi quyền sống của con người trở thành một vấn đề bức thiết, kỹ nữ như
một phương tiện để các nhà văn bày tỏ sự cảm thông đến những kiếp người nhỏ bé và tố cáo
những xấu xa của xã hội. Rồi dần dầ
n đến giai đoạn cuối thời kỳ trung đại, thế kỷ XIX, kỹ