TRƯỜNG
KHOA……………………
TIỂU LUẬN
Đề tài
Học thuyết Mac về hình thái kinh tế –
xã hội và sự vận dụng của đảng ta
trong thời kì đổi mới gắn với hoạt
động ngân hàng
TiÓu luËn triÕt A.GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
Mọi người đều biết, trong lịch sử tư tưởng nhân loại trước Mác đã có
không ít cách tiếp cận khi nghiên cứu sự phát triển của xã hội. Xuất phát từ
những nhận thức khác nhau, với những ý tưởng khác nhau mà có sự phân
chia lịch sử tiến hóa của xã hội theo những cách khác nhau. Chẳng hạn, nhà
xã hội học Vi – cô ở Italia (1668-1744) đã phân chia các thời kì phát triển
của xã hội giống như phân chia các giai đoạn của một đời người: thơ ấu,
thanh niên, thành niên và tuổi già. Nhà triết học duy tâm Hê-ghen (1770 -
1831) phân chia lịch sử xã hội loài người thành ba thời kì chủ yếu: thời kì
phương Đông, thời kì cổ đại và thời kì Giéc- ma- ni . Nhà xã hội chủ nghĩa
không tưởng Pháp Phu- ri- ê (1722-1837) chia lịch sử xã hội thành bốn giai
đoạn: giai đoạn mông muội, giai đoạn dã man, giai đoạn gia trưởng, giai
đoạn văn minh. Còn nhà nhân chủng Mỹ Hang- ri Moóc- găng ( 1818-1881 )
lại phân chia xã hội thành ba thời đại : thời đại mông muội , thời đại dã man
và thời đại văn minh
Mọi người cũng đã quen với những khái niệm : thời đại đồ
đồng , thời đại cối xay gió, thời đại máy hơi nước, và gần đây là các nền văn
minh : văn minh nông nghiệp, văn minh hậu công nghiệp.
TiÓu luËn triÕt B.NỘI DUNG ĐỀ TÀI
I.TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN
Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác như Lênin đánh giá là
thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học, trong đó cốt lõi là học thuyết
hình thái kinh tế-xã hội. Giai cấp tư bản không thể chấp nhận được học
thuyết này vì trong đó đã luận chứng một cách khoa học chặt chẽ chế độ tư
bản sẽ bị thay thế bằng chế độ cộng sản chủ nghĩa theo quy luật chung của
tiến hóa xã hội, mà chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác đã tìm ra.
Bằng sự nghiêm túc khoa học, chúng ta thấy rằng cho đến
nay chưa có học thuyết nào về tiến hóa xã hội có thể thay thế được học
thuyết Mác về hình thái kinh tế-xã hội. Học thuyết này đem đến cho chúng
ta cơ sở phương pháp luận để nhận thức quy luật phát triển xã hội và một
niềm tin khoa học vào lý tưởng cộng sản chủ nghĩa.
Như vậy, chủ nghĩa duy vật của Mác đã nhìn nhận học thuyết
hình thái kinh tế-xã hội là một quy luật phát triển của xã hội.
Từ đó ta đi tới khái niệm: hình thái kinh tế-xã hội
“ Hình thái kinh tế-xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy
vật lịch sử dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, với một
kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó phù hợp với một trình độ nhất
định của lực lượng sản xuất và với một kiến trúc thượng tầng tương ứng
được xây dựng trên những quan hệ sản xuất ấy”
Khi nghiên cứu lịch sử phát triển của xã hội xuất phát từ
những nhận thức khác nhau, với những ý tưởng khác nhau mà có sự phân
lịch sử tiến hóa của xã hội theo những cách khác nhau.
Đơn cử như triết gia duy tâm Hê-ghen(1770-1831) phân kì
sản xuất của nó tương ứng với một trình độ nhất định của lực lượng sản
xuất. Quan hệ sản xuất là một tiêu chuẩn khách quan để phân biệt xã hội cụ
thể này với xã hội khác, đồng thời tiêu biểu cho một giai đoạn phát triển nhất
định của của lịch sử.
TiÓu luËn triÕt
Xuyên tạc, cắt xén nội dung học thuyết để phủ nhận học thuyết.
Điển hình của loại quan điểm này là quy lý luận của Mác thành quyết định
luật kinh tế với nghĩa coi kinh tế là yếu tố duy nhất quyết định sự vận động
và phát triển của xã hội. Điều này đã bị chính Ăng Ghen bác bỏ- Dùng chính
lý luận hình thái kinh tế- xã hội để bác bỏ sự ra đời của các nước xã hội chủ
nghĩa, cho rằng nó trái với quá trình lịch sử- tự nhiên rằng cách mạng tháng
Mười "Đẻ non" do chỗ dựa chưa có ''tất yếu kinh tế" cứ để qua chế độ tư
bản chủ nghĩa rồi tiến lên chủ nghĩa xã hội rồi chủ nghĩa cộng sản theo đúng
quy luật". Lúc còn sống Lênin đã bác bỏ quan điểm này, song đến nay vẫn
tồn tại, kể cả biến thể của nó là loại quan điểm cho rằng chế độ xã hội chủ
nghĩa sụp đổ ở Liên Xô và các nước Đông Âu là do hệ tư tưởng Mác-Lênin
sai trong đó có"lý luận hình thái kinh tế-xã hội". Đối với nước ta những năm
gần đây cũng có một số ý kiến tương tự, cho rằng ta chưa có"tất yếu kinh tế"
để lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa và để bỏ qua chế độ tư bản chủ
nghĩa.
Bác bỏ gián tiếp: Loại quan điểm này thể hiện dưới dạng:
Chứng minh chủ nghĩa xã hội không có tương lai, tất yếu bị diệt vong. Chủ
nghĩa tư bản là nấc thang cao nhất của lịch sử xã hội, nó tồn tại vĩnh viễn.
Muốn thay thế học thuyết hình thái kinh tế xã hội bằng học
thuyết khác. Điển hình cho loại quan điểm này là tiếp cận theo nền văn
cách mạng trong toàn bộ quan niệm về lịch sử xã hội.
Học thuyết Mác về hình thái kinh tế- xã hội đối lập với quan
niệm trừu tượng, duy tâm về xã hội. Nó bác bỏ cách miêu tả xã hội nói
chung, một xã hội cấu thành chỉ bởi những con người tự nhiên sinh vật. Nó
đánh đổ hẳn quan niệm cho rằng xã hội là một tổ hợp có tính máy móc, có
TiÓu luËn triÕt thể biến đổi tùy ý theo đủ mọi kiểu, một tổ hợp sinh ra và biến hóa một cách
ngẫu nhiên.
Các- Mác đã vận dụng lý luận hình thái kinh tế-xã hội và
phân tích xã hội tư bản, vạch ra các quy luật vận động và phát triển của nó.
Từ đó dự báo về sự ra đời của hình thái kinh tế-xã hội cao hơn là: Cộng sản
chủ nghĩa mà giai đoạn thấp là chủ nghĩa xã hội.
Trong công cuộc đổi mới ở nước ta, chúng ta vẫn giữ vững
mục tiêu xã hội chủ nghĩa. Đi lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với xu hướng
của thời đại,và tuy nhiên chúng ta tiến lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh
tế phổ biến là sản xuất nhỏ, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa nên phải trải qua
nhiều khâu trung gian, nhiều bước quá độ. Chúng ta phải trải qua những
bước đi tất yếu mà không thể bỏ qua được. Chúng ta phải kế thừa và phát
triển để tạo ra những tiền đề cần thiết cho chủ nghĩa xã hội trên tất cả các
mặt: từ lực lượng sản xuất đến quan hệ sản xuất, từ cơ sở hạ tầng đến kiến
trúc thượng tầng.
II. SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG HIỆN NAY GẮN
VỚI HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG
-Trong hoàn cảnh có nhiều khó khăn và thách thức nhưng nền
kinh tế vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng. Mặc dù GDP năm 1999 tăng 5%
so với năm 1998 có kém hơn so với tốc độ của các năm trước nhưng mức
tăng trưởng đã nhích dần từng tháng, từng quý: Quý I, GDP tăng 4,2%- Quý
II tăng 4,5%- Quý III tăng 5% làm xuất hiện khả năng chặn đà giảm sút,
tuy còn phải phấn đấu rất cao mới biến khả năng đó thành hiện thực.
TiÓu luËn triÕt Đặc biệt giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 5,2% so với năm
1998, mức tăng cao nhất từ trước tới nay và vượt mục tiêu Quốc hội đề ra.
Với sản lượng lương thực 33,8 triệu tấn đủ khẳng định khả năng của ngành
nông nghiệp với nền kinh tế quốc dân là rất lớn. Cùng với nông nghiệp trồng
trọt các ngành khác như chăn nuôi, đánh bắt thủy sản, hải sản đều có mức
tăng trưởng khá và ổn định.
Về công nghiệp, mặc dù chịu ảnh hưởng của các cuộc khủng
hoảng trên thế giới, cũng như khu vực, thị trường bị thu hẹp, đầu tư nước
ngoài giảm nhưng mức tăng trưởng vẫn duy trỳ trên 10%, đó là một sự cố
gắng lớn của toán ngành công nghiệp. Nhất là sản phẩm quan trọng có nhu
cầu lớn và thị trường đạt mức tăng trưởng khá so với năm 1998: Dầu thô
tăng 20,5%, điện tăng 8,2%, thép tăng 11,8%, may mặc tăng 12%, xe đạp
tăng 16,3%, động cơ Diêzen tăng 31%
Các cân đối kinh tế vĩ mô được duy trỳ tạo điều kiện cho phát
triển.
Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao hơn kế hoạch dự kiến, thu
hẹp đáng kể chênh lệch xút nhập khẩu.
biến và các ngành công nghiệp then chốt, xây dựng cơ sở hạ tầng, giao
thông, bưu điện, giáo dục, khoa học công nghệ, y tế, văn hóa
Thu ngân sách có nhiều cố gắng đạt dự toán năm. Việc thông
qua và đưa vào áp dụng lần đầu tiên ở nước ta thuế V.A.T là một cố gắng
lớn, bước đầu có sự chuyển biến tích cực ở một số lĩnh vực sản xuất, kinh
doanh.
TiÓu luËn triÕt Như vậy, mặc dù đứng trước hoàn cảnh kinh tế thế giới giảm
sút, khủng hoảng kinh tế thế giới và khu vực, nhưng nền kinh tế nước ta cơ
bản có sự phát triển và đổi sắc, góp phần nâng cao cuộc sống của người dân,
ổn định xã hội. Thành tựu đó là phần góp của mọi người dân lao động, công
nhân sản xuất và sự lãnh đạo tài tình của Đảng về mọi mặt của xã hội.
1.2 .Những mặt yếu kémvà tồn tại:
Mặc dù duy trì được sự ổn định trong bối cảnh phức tạp,
song tình hình kinh tế xã hội còn chứa đựng những yếu tố đáng lo ngại.
- Nhịp độ tăng trưởng kinh tế ở mức thấp từ năm 1990 đến
nay, cụ thể: Giai đoạn 1991-1995 GDP tăng 8,2%, năm 1996 tăng 9,3%,
năm 1997 tăng 8,2%, năm 1998 tăng 5,8%, năm 1999 GDP chỉ tăng 4,7%-
5% và vẫn trên đà giảm sút, mặc dù nhịp độ giảm sút có chậm lại. Nếu
không có biện pháp đủ mạnh “chặn đà suy giảm và phục hồi nhịp độ tăng
trưởng” cao thì khó có khả năng đạt được những mục tiêu chính sách đến
năm 2020 là cơ bản biến nước ta thành nước công nghiệp và gần đây nhất là
các chỉ tiêu kinh tế năm 2000.
Một vấn đề được toàn xã hội quan tâm đó là tình trạng
thất nghiệp. Hiện nay thất nghiệp ở Hà Nội đã dẫn tới nhiều tệ nạn xã hội vì
tỷ lệ thất nghiệp đã lên tới 10%, Thành phố Hồ Chí Minh 7%. Đặc biệt ở
nông thôn số thời gian lao động mới được sử dụng khoảng 70%.
* Một số vấn đề cản trở sự phát triển:
Vấn đề chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh thấp vẫn
là tồn tại lớn nhất của nền kinh tế nước ta, vấn đề này đã được hội nghị trung
ương khóa VIII chỉ ra song trong hai năm qua không có chuyển biến tích
TiÓu luËn triÕt cực. Biểu hiện rõ nét nhất là chi phí vật chất trong việc sản xuất kinh doanh
có chiều hướng tăng cao và khó tiêu thụ. Chi phí sản xuất vật chất toàn bộ
các ngành kinh tế chiếm khoảng 48% trong giá trị sản xuất năm 1998 và
tăng lên 50% trong năm 1999.
Sức cạnh tranh của nền kinh tế nước ta đã thấp lại càng
thấp hơn khi các nền kinh tế bị khủng hoảng trong khu vực đang có dấu hiệu
phục hồi. Điều này chúng ta không thể đổ lỗi cho các ngành sản xuất kinh
doanh vì trình độ phát triển của kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội: Điện, nước,
đường, bến cảng, viễn thông ở nước ta còn thấp.
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch còn chậm nên chưa phát huy
được nguồn lực các thành phần kinh tế trong từng ngành và từng vùng để
phát triển. Đặc biệt khu vực kinh tế Nhà nước: Chỉ có 21% các doanh
nghiệp, thậm chí 15-20% có nguy cơ bị phá sản. Việc thực hiện cổ phần hóa
và các bện pháp sắp xếp đổi mới doanh nghiệp nhà nước còn nhiều hạn chế.
- Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã
hội năm 1999 theo tinh thần nghị quyết Trung ương 4, Trung ương 6 (lần 1)
và nghị quyết 06 của Bộ chính trị, mặc dù gặp phải khó khăn và thách thức
to lớn do những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới chúng ta vẫn duy
trì được tốc độ tăng trưởng khoảng 5%.
Theo số liệu thống kê của bá Nguyễn Thị Hằng - Đăng
trên tạp chí Cộng sản 2/2000.
Hàng năm chúng ta giải quyết việc làm mới cho 1,2 -1,3
triệu người lao động có trình độ nghề.
TiÓu luËn triÕt Đời sống của tuyệt đại bộ phận nhân dân được cải thiện
rõ rệt. Tỉ lệ đói nghèo cả nước đã giảm từ 20,3%(năm 1995)- xuống 14%
(1999).
Bình quân mỗi năm giảm 300 ngàn hộ (2% tổng số hộ
đói nghèo) 805 người có công đã có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống
trung bình của dân cư cùng xã, phường nơi cư trú.
Để đạt được những thành tựu đó là do: Sự nỗ lực, quyết
tâm cao của toàn dân, toàn Đảng, sự cố gắng của các ngành, các cấp thực
hiện Nghị quyết Trung ương 4, và Nghị quyết Trung ương 6 (lần 1).
Cơ chế, chính sách, pháp luật đã được đồng bộ hóa thêm
một bước. Công tác chỉ đạo, điều chỉnh của Chính phủ, các ngành, các cấp
có tiến bộ. Bám sát kịp thời những biến động bất thường trong tình hình
tín dụng ngân hàng chưa cao, chưa phát huy được những tiềm lực kinh tế.
Cuối cùng là bộ máy quản lý điều hành còn cồng kềnh trùng
lặp chức năng. Sự phối hợp giải quyết các công việc giữa các ngành, các cấp
chưa chặt chẽ. Phân công công việc chưa rõ ràng, chưa đảm bảo tập trung
thống nhất lại vừa thiếu dân chủ trong điều hành nên gây nhiều chủ trương,
quyết định đúng đắn không được tổ chức triển khai kịp thời nên hiệu quả
kém.
Trên đây ta đã nghiên cứu thực trạng kinh tế Việt Nam trong
những năm đổi mới đặc biệt là năm 1998-1999 là hai năm đánh dấu những
bước ngoặt kinh tế của thế kỷ XX mở đầu cho những định hướng kinh tế
trong tương lai. Với những thành tựu đã đạt được là nguồn cổ vũ khích lệ
cho các cấp, các ngành để cùng nhau tiến bộ. Nhưng những yếu kém và tồn
TiÓu luËn triÕt tại cũng là những bài học đầy ý nghĩa cần phải được nghiên cứu lại một cách
hòan thịên bộ máy Nhà nước và sau nữa là định hướng đường lối phát triển
cuả đất nước nhằm biến nước ta thoát khỏi đói nghèo, lạc hậu, trở thành một
nước công nghiệp để có thể "sánh vai" với những cường quốc năm châu -
như ý nguyện của Bác Hồ vĩ đại.
Với những tiên đề tiền lệ đó Đảng ta có những chính sách,
chủ trương gì để phát triển đất nước trong thời kì đổi mới ?
Một trong những chính sách và chủ trương lớn của Đảng, của
Nhà nước là: ta tiếp tục nghiên cứu:
2.Đường lối lãnh đạo của Đảng.
2.2. Đổi mới quản lý kinh tế tất yếu phải đổi mới hệ thống
tiền tệ, tín dụng ngân hàng Nền kinh tế hiện đại thực chất là nền kinh tế tiền tệ nền
kinh tế đã được tiền tệ hóa cao độ. Những công trình nghiên cứu về các nước
công nghiệp mới trong khu vực trong những năm gần đây để đi đến một kết
luận thống nhất là nền kinh tế nào được tiền tệ hóa cao thì nền kinh tế đó có
điều kiện tăng trưởng tốt nhất.
Nền kinh tế nước ta đang trong quá trình chuyển đổi sang
một nền kinh tế thị trường về thực chất cũng là một quá trình tiền tệ hóa mọi
hoạt động của đất nước.
TiÓu luËn triÕt Trong cơ chế quản lý hành chính tập trung quan liêu bao
cấp như văn kiện đại hội VI đã vạch rõ: “ Cơ chế đó chưa chú ý đầy đủ đến
quan hệ hàng hóa- tiền tệ và hiệu quả kinh tế, dẫn tới cách quản lý và kế
hoạch hóa thông qua chế độ cấp phát và giao nộp theo quan hệ hiện vật là
chủ yếu”. Cơ chế bao cấp ở nước ta thể hiện qua bao cấp qua giá, bao cấp
qua chế độ lương hiện vật, bao cấp qua chế độ cấp phát vốn, kể cả vốn tín
dụng ngân hàng với lãi suất rất thấp.
Rõ ràng là trong một cơ chế quản lý như vậy mọi động
lực kinh tế đều bị triệt tiêu, các hoạt động kinh tế không thể điều tiết và kiểm
soát được, tính năng động và sáng tạo bị tê liệt, và hiệu quả kinh tế thật sự
thấp kém, mọi hiện tượng tiêu cực và rối ren trong xã hội đều phát sinh từ
cơ bản và lâu dài là đổi mới cơ chế lãi suất, đồng thời đòi hỏi các doanh
nghiệp phải làm ăn có lãi, trả được nợ, nếu mất khả năng thanh tóan thì áp
dụng luật phá sản, kể cả với doanh nghiệp nhà nước. Hệ thống ngân hàng
thương mại mà hạt nhân là các ngân hàng phải được chấn chỉnh và tổ chức
lại để kinh doanh có hiệu quả, thực hiện đầy đủ quyền tự chủ, tự chịu trách
nhiệm trong hoạt động tín dụng, chấm dứt việc ngân hàng thương mại cho
vay cho vay theo lệnh hành chính. Chính phủ tạo nguồn vốn để hỗ trợ việc
giải quyết các khoản nợ quá hạn, có cơ chế xử lý tài sản thế chấp bị xiết nợ
đồng thời triển khai xây dựng công ty mua bán nợ, tạo cơ sở để sớm hạ thấp
tỷ lệ nợ quá hạn xuống giới hạn cho phép, tăng khối lượng và vòng quay vốn
qua ngân hàng.
2.4.Xây dựng chiến lược cải tổ hệ thống ngân hàng.
Để công cuộc cải tổ thu được nhiều kết quả mong muốn
đòi hỏi không chỉ thực hiện cải tổ toàn bộ hệ thống tài chính nói chung mà
còn phải cải tổ hoạt động của các ngân hàng riêng lẻ.
TiÓu luËn triÕt
2.4.1.Đánh giá:
Để xây dựng một chiến lược hoạt động và xác định công
cụ nhằm đạt được các mục tiêu của nó, các nhà hoạch định chính sách cần
phải đánh giá điều kện tài chính và hoạt động của các ngân hàng riêng lẻ và
những vấn đề trong hệ thống ngân hàng nói chung. Trong đánh giá cần phân
loại các ngân hàng có khả năng đứng vững, có thể đưa vào chương trình cải
tổ và những ngân hàng không đứng vững cần phải đóng cửa.
3/ ý nghĩa rút ra đối với bản thân: Nhận thức được vai trò to lớn của “hoạt động đổi mới
hệ thống ngân hàng” Đảng và Nhà nước ta luôn ra sức phát triển và xây
dựng, nhằm phục vụ lý tưởng xã hội chủ nghĩa cao cả là: Vì con người, do
con người. Chính vì lẽ đó phát huy nhân tố con người, luôn là mục tiêu hàng
đầu và thiết thực nhất. Đảng và Nhà nước ta đã luôn cố gắng không mệt mỏi
để đấu tranh vì nhân quyền và nhân lợi đi đôi với giáo dục đào tạo vì một
tương lai tươi sáng hơn.
Là một sinh viên khoa Ngân Hàng Tài Chính, KTQD,
em hiểu ý nghĩa của học thuết kinh tế-xã hội có tác dụng như thế nào đối với
bản thân và luôn tự nhủ mình phải làm gì để học thuyết hình thái kinh tế - xã
hội đi sâu hơn vào cuộc sống.
Sống và học tập dưới mái trường xã hội chủ nghĩa, mỗi
sinh viên chúng ta được thừa hưởng những thành quả to lớn mà chế độ đã
TiÓu luËn triÕt mang tới. Đó là một cơ sở hạ tầng tương đối hoàn chỉnh với một hệ thống
trường lớp từ thấp đến cao. Cộng với một đội ngũ thầy cô giáo được đào tạo
căn bản và chuyên sâu là một nguồn tài sản vô giá của quốc gia bởi nguồn
nhân lực của một nước mạnh hay yếu là phụ thuộc vào giáo dục và đào tạo.
Thoát khỏi các cuộc chiến tranh liên miên, đặc biệt là
sau chiến thắng năm 1975 cả nước ta đi lên xây dựng xã hội chủ nghĩa với
một cơ sở hạ tầng bị tàn phá gần hết. Nhưng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân
mà những việc cần làm trước mắt là trau dồi kiến thức đã học, chịu khó
nghiên cứu tìm hiểu tài liệu và đón nhận thông tin cập nhật về các lĩnh vực
đời sống kinh tế - xã hội.
Cùng với chủ trương "Phát triển lực lượng sản xuất đi đôi với
xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa ".
Trong sự nghiệp đổi mới của Đảng ta hiện nay, nhiều vấn đề cũng đượcđặt
ra, mà giải quyết được nó phải có sự đồng lòng, đồng sức của tất cả mọi
người như: Vấn đề nổi cộm là tình trạng phân biệt chủng tộc, khác biệt tôn
giáo , vấn đề môi sinh môi trường và đặc biệt là hòa bình và ổn định thế
giới, ổn định trong nước. Nhưng chúng ta tin rằng với chủ trương và đường
lối chíng sách của Đảng, mọi vấn đề sẽ được giải quyết, tạo mọi hành lang
pháp lý thuận lợi cho cả xã hội phát triển.
C. KẾT LUẬN.
Thực tế đã khẳng định rằng, cho đến nay học thuyết
của Mác về hình thái kinh tế -xã hội vẫn là quan niệm duy nhất khoa học và
cách mạng để nghiên cứu phân tích lịch sử và nhận thức các vấn đề trong xã