HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ XÃ HỘI
VÀ VIỆC VẬN DỤNG VÀO SỰ NGHIỆP HÌNH
THÀNH KTV XÃ HỘI
1
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU_____________________________________________________2
I. Tính cấp thiết của đề tài..............................................................................................2
II. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu............................................................................3
III. Phạm vi nghiên cứu...................................................................................................3
NỘI DUNG___________________________________________________
CHƯƠNG I: HỌC THUYẾT LÝ LUẬN HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI
1. Quan niệm duy vật về lịch sử và học thuyết hình thái kinh tế - xã hội.....................4
2. Các yếu tố cơ bản cấu thành một hình thái kinh tế xã hội..............................................7
3. Sự phát triển của hình thái kinh tế xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên.............18
CHƯƠNG II: VẬN DỰNG LÝ THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ XÃ HỘI VÀO
SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1 Tính tất yếu của con đường định hướng XHCN........................................................23
2. Thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay.........................................25
KẾT LUẬN___________________________________________________29
Tài liệu tham khảo:.....................................................................................................32
2
MỞ ĐẦU
I. Tính cấp thiết của đề tài
Lý luận hình thái kinh tế - xã hội là lý luận cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử
do C.Mác xây dựng lên. Nó có vị trí quan trọng trong triết học Mác. Lý luận đó đã được
thừa nhận là lý luận khoa học và là phương pháp luận cơ bản trong việc nghiên cứu lĩnh
vực xã hội. Nhờ có lý luận hình thái kinh tế - xã hội, lần đầu tiên trong lịch sử loài người,
Mác đã chỉ rõ nguồn gốc, động lực bên trong nội tại của sự phát triển xã hội, chỉ rõ được
bản chất của từng chế độ xã hội. Lý luận đó giúp chúng ta nghiên cứu một cách đứng đắn
và khoa học sự vận hành của xã hội trong giai đoạn phát triển nhất định cũng như tiến
4
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: HỌC THUYẾT LÝ LUẬN HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI
1. Quan niệm duy vật về lịch sử và học thuyết hình thái kinh tế - xã hội
Trước khi có chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa duy tâm đã thống trị trong việc giải thích lịch
sử. Ngay cả Feuerbach- đại biểu xuất sắc cho chủ nghĩa duy vật trước Mác nhưng cuối
cũng rơi vào chủ nghĩa duy tâm khi giải thích các hiện tượng lịch sử- xã hội.
Trước Mác, người ta đã xuất phát từ tự nhiên để giải thích mọi hiện tượng trong xã
hội, xem lực lượng tự nhiên hoạt động tự động, không có ý thức còn trong xã hội thì con
người hoạt động có lý tính, ý thức. Do vậy, họ đã đi tới kết luận rằng: trong giới tự nhiên
thì tính quy luật, tính tất nhiên thống trị, mọi thay đổi của những hiện tượng tự nhiên
không phụ thuộc vào ý chí, ý thức của con người. Còn những sự kiện lịch sử thì do hoạt
động tự giác của con người mà trước hết đó là những nhân vật lịch sử, những lãnh tụ anh
hùng quyết định và ý chí của họ có thể làm thay đổi lịch sử.
Đáng lẽ phải lấy sự phát triển của điều kiện vật chất của xã hội để giải thích lịch sử
và bản chất con người, giải thích tự nhiên xã hội, quan điểm chính trị, …người ta lại đi
từ ý thức con người, từ những tư tưởng lí luận về chính trị, triết học, pháp luật, để giải
thích toàn bộ lịch sử. Nguyên nhân giải thích của sự duy tâm về lịch sử chính là chỗ các
nhà triết học trước Mác đã coi ý thức xã hội quyết định tồn tại xã hội. Những quan điểm
đó có những thiếu xót căn bản như: không vạch ra được bản chất của các hiện tượng xã
hội, nguyên nhân vật chất của những hiện tượng ấy, không tìm ra những quy luật phổ
biến chi phối sự vận động và phát triển của xã hội, không thấy vai trò quyết định của
quần chúng nhân dân trong lịch sử.
Khác với các nhà triết học trước đây khi nghiên cứu xã hội Mác đã lấy con người làm
điểm xuất phát cho học thuyết của mình. Con người mà mác nghiên cứu không phải là
con người trừu tượng, con người biệt lập, cố định mà con người hiện thực đang sống và
hoạt động. Trước hết là hoạt động sản xuất, tái sản xuất ra đời sống hiện thực của mình.
Đó là con người cụ thể con người của tự nhiên và xã hội. Bắt đầu từ việc nghiên cứu con
người trong đời sống xã hội ông nhận thấy “con người cần phải ăn, uống, ở và mặc trước
của những lí luận lịch sử trước đây. Cũng từ đây mọi hiện tượng xã hội cũng như bản
thân phát triển của xã hội loài người được nghiên cứu trên một cơ sở lí luận khoa học
Các nguyên lí của chủ nghĩa duy vật lịch sử được C.Mác trình bày ở nhiều tác phẩm
nhưng tập trung nhất là trong lời tựa: Góp phần khoa kinh tế chính trị. Chúng ta có thể
tóm tắt lại những nguyên lí đó trong một số luận điểm sau:
Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội chứ không phải ngược lại ý thức xã hội
quyết định tồn tại xã hội.
Phương thức sản xuất đời sống vật chất quyết định quá trình sinh hoạt, chính trị và
tinh thần nói chung.
Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình con người có những mối quan hệ
nhất định, tất yếu không phụ thuộc vào ý muốn của họ- tức những quan hệ sản xuất,
những quan hệ này phù hợp với một trình độ nhất định của các lực lượng sản xuất vật
chất của họ. Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội.
Tức là cái cơ sở hạ tầng mà trên đó dựng nên một kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính
trị cùng với những hình thái ý thức xã hội nhất định tương ứng với cơ sở hạ tầng ấy.
Tới một giai đoạn phát triển nào đó, các lực lượng sản xuất vật chất của xã hội mâu
thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có hay đây chỉ là những biểu hiện pháp lý của
những quan hệ sản xuất ấy mâu thuẫn với quan hệ sở hữu trong đó từ trước đến nay các
lực lượng sản xuất vẫn phát triển từ chỗ là những hình thức phát triển của lực lượng sản
xuất, những quan hệ ấy trở thành xiềng xích của các lực lượng sản xuất. Khi đó bắt đầu
thời đại một cuộc cách mạng xã hội.
Cơ sở kinh tế thay đổi thì toàn bộ kiến trúc thượng tầng cũng đảo lộn ít nhiều
nhanh chóng. Khi xem xét những cuộc đảo lộn ấy bao giờ cũng cần phân biệt cuộc đảo
lộn vật chất trong những điều kiện kinh tế của sản xuất với những hình thái pháp lý,
chính trị, tôn giáo, nghệ thuật hay triết học. Với những hình thái tư tưởng trong đó con
người ý thức được cuộc xung đột ấy và đấu tranh để giải quyết nó.
Không một hình thái xã hội nào diệt vong trước khi tất cả những lực lượng sản xuất
mà hình thái xã hội đó tạo địa bàn đầy dủ cho phát triển, vẫn chưa phát triển và những
7
quan hệ sản xuất mới cao hơn cũng không bao giờ xuất hiện trước khi những điều kiện
Trong quá trình tồn tại và phát triển, con người không thỏa mãn với những cái đã
có sẵn trong giới tự nhiên, mà luôn luôn tiến hành sản xuất vật chất nhằm tạo ra các tư
liệu sinh hoạt thỏa mãn nhu cầu ngày càng phong phú, đa dạng của con người. Việc sản
xuất ra các tư liệu sinh hoạt là yêu cầu khách quan của đời sống xã hội. Bằng việc "sản
xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình, như thế con người đã gián tiếp sản xuất ra
chính đời sống vật chất của mình"
2
Trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất cho sự tồn tại và phát triển của mình,
con người đồng thời sáng tạo ra toàn bộ các mặt của đời sống xã hội. Tất cả các quan hệ xã
hội về nhà nước, pháp quyền, đạo đức, nghệ thuật, tôn giáo, v.v... đều hình thành, biến
đổi trên cơ sở sản xuất vật chất. Khái quát lịch sử phát triển của nhân loại, C.Mác đã kết
luận: "Việc sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt vật chất trực tiếp tạo ra một cơ sở, chính
từ đó mà người ta phát triển các thể chế nhà nước, các quan điểm pháp quyền, nghệ thuật và
thậm chí cả những quan niệm tôn giáo của con người ta"
3
Trong quá trình sản xuất vật chất, con người không ngừng làm biến đổi tự nhiên,
biến đổi xã hội, đồng thời làm biến đổi bản thân mình. Sản xuất vật chất không ngừng
phát triển. Sự phát triển của sản xuất vật chất quyết định sự biến đổi, phát triển các mặt
của đời sống xã hội, quyết định phát triển xã hội từ thấp đến cao. Chính vì vậy, phải tìm
cơ sở sâu xa của các hiện tượng xã hội ở trong nền sản xuất vật chất của xã hội.
2. 2. Biện chứng của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
2.2.1. Khái niệm phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất
Phương thức sản xuất
Sản xuất vật chất được tiến hành bằng phương thức nhất định. Phương thức sản
xuất là cách thức con người thực hiện quá trình sản xuất vật chất ở những giai đoạn lịch
sử nhất định của xã hội loài người. Mỗi xã hội được đặc trưng bằng một phương thức
sản xuất nhất định. Phương thức sản xuất đóng vai trò quyết định đối với tất cả các mặt
của đời sống xã hội: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Sự thay thế kế tiếp nhau của các
phương thức sản xuất trong lịch sử quyết định sự phát triển của xã hội loài người từ thấp
2. C.Mác, Ph.Ăngghen, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998 Sđd, t.3, tr. 29.
4 V.I. Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1977, t. 38, tr. 430.
10
phát triển của công cụ lao động là thước đo trình độ chinh phục tự nhiên của con người,
là tiêu chuẩn phân biệt các thời đại kinh tế trong lịch sử.
Trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, khoa học đóng vai trò ngày càng to
lớn. Sự phát triển của khoa học gắn liền với sản xuất và là động lực mạnh mẽ thúc đẩy
sản xuất phát triển. Ngày nay, khoa học đã phát triển đến mức trở thành nguyên nhân
trực tiếp của nhiều biến đổi to lớn trong sản xuất, trong đời sống và trở thành "lực lượng
sản xuất trực tiếp". Những phát minh khoa học trở thành điểm xuất phát ra đời những
ngành sản xuất mới, những máy móc thiết bị mới, công nghệ mới, nguyên vật liệu mới,
năng lượng mới. Sự thâm nhập ngày càng sâu của khoa học vào sản xuất, trở thành một
yếu tố không thể thiếu được của sản xuất đã làm cho lực lượng sản xuất có bước phát
triển nhảy vọt, tạo thành cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại. Yếu tố trí lực
trong sức lao động đặc trưng cho lao động hiện đại không còn là kinh nghiệm và thói
quen của họ và là tri thức khoa học. Có thể nói: khoa học và công nghệ hiện đại là đặc
trưng cho lực lượng sản xuất hiện đại.
Quan hệ sản xuất
Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất và tái
sản xuất xã hội. Quan hệ sản xuất gồm ba mặt: quan hệ về sở hữu đối với tư liệu sản
xuất, quan hệ trong tổ chức và quản lý sản xuất, quan hệ trong phân phối sản phẩm sản
xuất ra. Quan hệ sản xuất do con người tạo ra, nhưng nó hình thành một cách khách quan
trong quá trình sản xuất, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người. C.Mác
viết: "Trong sản xuất, người ta không chỉ quan hệ với giới tự nhiên. Người ta không thể
sản xuất được nếu không kết hợp với nhau theo một cách nào đó để hoạt động chung và
để trao đổi hoạt động với nhau. Muốn sản xuất được, người ta phải có những mối liên hệ
và quan hệ nhất định với nhau; và quan hệ của họ với giới tự nhiên, tức là việc sản
xuất"
5
. Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của sản xuất; giữa ba mặt của quan hệ sản
xuất thống nhất với nhau, tạo thành một hệ thống mang tính ổn định tương đối so với sự
bắt nguồn từ sự biến đổi và phát triển của lực lượng sản xuất, trước hết là công cụ lao
12