Luận văn: Lí thuyết H- O và việc vận dụng vào các mặt hàng nhập khẩu của Việt Nam pot - Pdf 11

Luận văn
Lí thuyết H- O và việc vận
dụng vào các mặt hàng
nhập khẩu của Việt Nam

1

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của để tài
Trong thời đại ngày nay hội nhập kinh tế quốc là một yếu tố không thể
thiếu. Một trong những cơ sở quan trọng của việc hình thành và phát triển các
quan hệ kinh tế quốc tế là hợp tác, phân công lao động quốc tế. Mỗi quốc gia
đều có lợi thế riêng về vị trí địa lý, về vốn, lao động, công nghệ, ngoài ra
những đặc điểm về kinh tế, văn hoá, xã hội cũng rất khác biệt. Cho nên họ chỉ
thuận lợi để phát triển một số ngành kinh tế nhất định. Do đó chỉ nên chuyên
môn hoá vào sản xuất một số sản phẩm nhất định và xuất khẩu những hàng
hoá của mình để đổi lấy hàng nhập khẩu từ nước khác. Như vậy nhập khẩu
hàng hóa và dịch vụ là yếu tố không thể thiếu trong cơ cấu kinh tế của một
quốc gia. Tuy nhiên nhập khẩu mặt hàng gì, khối lượng bao nhiêu lại không
phải vấn đề đơn giản. Để xác định được cơ cấu hàng nhập khẩu phù hợp đòi
hỏi việc nắm vững và vận dụng một cách đúng đắn các học thuyết kinh tế liên
quan vào thực tiễn nền kinh tế của mỗi quốc gia . Đối với Việt Nam, mục tiêu
đặt ra là thực hiện thành công quá trình CNH- HĐH đất nước, phấn đấu đến
năm 2020, Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Do đó việc xác
định cơ cấu nhập khẩu hợp lí là sao cho có hiệu quả, phù hợp với mục tiêu và
định hướng phát triển đất nước là một yêu cầu tất yếu.
Chính vì những lí do kể trên, chúng em quyết định nghiên cứu đề tài:
“Lí thuyết H- O và việc vận dụng vào các mặt hàng nhập khẩu của Việt

Chương I: Tổng quan về lí thuyết H-O
Chương II: Thực trạng nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam thời gian qua
(giai đoạn từ 2000 đến nay)
Chương III: Vận dụng lí thuyết H-O vào xác định cơ cấu hàng nhập
khẩu của Việt Nam

3

6. Đóng góp của đề tài
Với ý nghĩa thực tiễn, kết quả nghiên cứu cho thấy cái nhìn toàn diện
về thực trạng cũng như việc áp dụng lý thuyết H- O vào thực tiễn hoạt động
NK của Việt Nam thời gian vừa qua. Đồng thời bài nghiên cứu cũng nêu ra
định hướng phát triển cho chính hoạt động này thời gian tới. Bài nghiên cứu
là nguồn tham khảo cho những người lập kế hoạch vĩ mô và những người
muốn tìm hiểu các vấn đề liên quan tới lý thuyết H-O cũng như hoạt động NK
của Việt Nam thời gian vừa qua.
7. Hướng phát triển của đề tài
Từ kết quả nghiên cứu, đề tài còn tạo tiền đề cho những nghiên cứu
chuyên sâu hơn về xác định cơ cấu NK hợp lý, nâng cao hiệu quả hoạt động
XNK, các vấn đề cơ chế, chính sách NK tại Việt Nam

CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT H –O

1.1 Cơ sở hình thành lý thuyết H- O
Mô hình Heckscher-Ohlin, nhiều khi được gọi tắt là Mô hình H-O, là
một mô hình toán cân bằng tổng thể trong lý thuyết thương mại quốc tế và

mặt hàng nhất định và xuất khẩu hàng hoá của mình để đổi lấy hàng nhập
khẩu từ các nước khác.

5

 Những nước có lợi thế tuyệt đối hoàn toàn hơn các nước khác hoặc
bị kém lợi thế tuyệt đối so với các nước khác trong sản xuất mọi sản phẩm, thì
vẫn có thể và vẫn có lợi khi tham gia và phân công lao động và thương mại
quốc tế bởi vì mỗi nước có một lợi thế so sánh nhất định về một số mặt hàng
và một số kém thế so sánh nhất định về các mặt hàng khác.
Chúng ta hãy xem xét ví dụ sau đây của Ricardo, ông đã chứng minh
mọi nước đều có lợi thông qua phân công lao động và thương mại quốc tế, và
lời kêu gọi sự tự do mậu dịch quốc tế, phá bỏ mọi trở ngại cho quá trình này.
Bảng 1.1 Lợi thế so sánh của Mỹ và châu Âu trong sản xuất lương
thực và quần áo

Qua bảng 1.1 ta thấy: ở Mỹ sản xuất 1 đơn vị lương thực hết 1 giờ lao
động và sản xuất 1 đơn vị quần áo hết 2 giờ lao động. Còn ở Châu Âu sản
xuất 1 đơn vị quần áo hết 4 giờ lao động.
Nếu căn cứ vào học thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith thì quá
trình phân công lao động quốc tế sẽ không diễn ra và sẽ không có trao đổi
quốc tế bời vì Mỹ có lợi thế tuyệt đối hoàn toàn hơn so với Châu Âu, cho nên
sản xuất quần áo và lương thực đều với chi phí thấp hơn Châu Âu.
Nhưng theo Ricardo cả Mỹ và Châu Âu đều có lợi thế nếu 2 nước thực
hiện phân công lao động và trao đổi buôn bán với nhau: Mỹ chuyên vào sản
Quốc gia

Sản phẩm

Mỹ

chuyên môn hoá vào sản xuất lương thực và mang một phần lương thực sang
Châu Âu , nơi đó có giá lương thực tương đối cao hơn và giá quần áo tương
đối rẻ hơn ở Mỹ. Và Châu Âu thì ngược lại. Như vậy cả 2 khu vực đều có lợi
thông qua thương mại.
Ngoài ra sau khi có thương mại , một giờ công lao động của công nhân
Mỹ mua được nhiều quần áo nhập khẩu hơn và công nhân Châu Âu mua được
nhiều lương thực nhập khẩu hơn.
Theo qui luật này, ngay cả một quốc gia không có lợi thế tuyệt đối để
sản xuẩt cả hai loại sản phẩm vẫn có lợi khi giao thương với một quốc gia
khác được coi là có lợi thế tuyệt đối để sản xuất cả hai loại sản phẩm. Trong
điều kiện đó, quốc qia thứ hai lại càng có lợi hơn so với khi họ không giao
thương. Trong trường hợp này, nếu một quốc gia bất lợi hoàn toàn trong sản
xuất tất cả các sản phẩm thì họ vẫn có thể chuyên môn hóa sản xuất và xuất
khẩu sản phẩm bất lợi là nhỏ nhất thì họ vẫn có lợi. Còn quốc gia có lợi hoàn
toàn trong sản xuất tất cả các sản phẩm sẽ tập trung chuyên môn hóa trong
việc sản xuất và xuất khẩu sản phẩm có lợi là lớn nhất thì họ vẫn luôn có lợi.
Tóm lại phát triển thương mại quốc tế có lợi cho tất cả các nước tham gia vào
quá trình phân công lao động quốc tế

7

1.1.2 Những hạn chế trong của lí thuyết của D. Ricacrdo dẫn tới sự
hình thành của lí thuyết H-O
Qui luật lợi thế so sánh được xem là một trong những lí thuyết kinh tế
quốc tế quan trọng. Tuy nhiên lí thuyết của Ricardo vẫn còn những hạn chế
cơ bản như sau:
 Các phân tích của Ricardo không tính đến cơ cấu về nhu cầu tiêu
dùng của mỗi nước, cho nên dựa vào lí thuyết của ông người ta không thể xác
định giá tương đối mà các nước dùng trao đổi sản phẩm.
 Các phân tích của Ricardo không đề cập tới chi phí vận tải, bảo

 Tỷ lệ giữa đầu tư và sản lượng của 2 loại hàng hóa trong 2 quốc gia
là một hằng số. Cả hai quốc gia đều chuyên môn hóa sản xuất ở mức không
hoàn toàn.
 Cạnh tranh hoàn hảo ở thị trường hàng hóa và thị trường các yếu tố
đầu vào ở cả 2 quốc gia.
 Công nghệ sản xuất cố định ở mỗi quốc gia và như nhau giữa các
quốc gia
 Công nghệ đó ở mỗi quốc gia đều có lợi tức theo quy mô cố định.
 Lao động và vốn có thể di chuyển tự do trong biên giới mỗi quốc
gia, nhưng bị cản trở trong phạm vi quốc tế.
 Không có chi phí vận tải, không có hàng rào thuế quan và các trở
ngại khác trong thương mại giữa hai nước.
1.2.2 Hàm lượng các yếu tố sản xuất trong các hàng hóa và
đường giới hạn khả năng sản xuất
Mô hình Heckscher-Ohlin phiên bản 2 x 2 x 2 sử dụng hàm Cobb-
Douglass vì nó phù hợp với giả thiết về lợi tức theo quy mô không đổi.
Chúng ta nói rằng hàng hóa Y là hàng hóa chứa đựng nhiều tư bản nếu
tỷ số tư bản/ lao động (K/L) được sử dụng để sản xuất hàng hóa Y lớn hơn
hàng hóa X trong cả 2 quốc gia.
Chúng ta cũng nói rằng quốc gia thứ II là quốc gia có sẵn tư bản với
quốc gia thứ I nếu tỷ giá giữa tiền thuê tư bản lãi suất trên tiền lương (r/w) ở
quốc gia này thấp hơn so với quốc gia thứ I. Như vậy, đường giới hạn khả

9

năng sản xuất của quốc gia thứ II sẽ nghiêng về OY và của quốc gia thứ I sẽ
nghiêng về phía OX.
Hình 1.2 Đường giới hạn khả năng sản xuất Hình 1.3 Quá trình hình thành giá cả sản phẩm- khung cân bằng
tổng quát của lý thuyết Hecksher- Ohlin

11
Sơ đồ trên hình 1.3 cho thấy tất cả các lực lượng sản xuất cùng với
nhau quyết định giá cả hàng hóa cuối cùng như thế nào. Đây chính là cái mà
chúng ta nói rằng mô hình Heckscher- Ohlin là mô hình cân bằng chung. Tuy
nhiên, trong số tất cả các lực lượng tương tác này, định lí Heckscher- Ohlin
tách riêng sự khác biệt khả năng vật chất hay khả năng cung cấp các yếu tố
sản xuất giữa các nước ( với sở thích và công nghệ như nhau) để giải thích sự
khác biệt về giá tương đối của hàng hóa và thương mại giữa các nước. Đặc
biệt, Ohlin giải thích sở thích ( và phân phối thu nhập) giống nhau giữa các
nước. Điều này dẫn đến nhu cầu giống nhau về hàng hóa cuối cùng và yếu tố

thuật
công
nghệ

12

khác biệt về giá cả tương đối của các yếu tố sản xuất và giá cả hàng hóa mà
chúng được chỉ ra bởi đường đậm trong hình 1.3.
Mô hình đưa ra những kết luận sau: Trong một nền kinh tế mở cửa, mỗi
nước đều hướng đến chuyên môn hoá các ngành sản xuất mà cho phép sử
dụng nhiều yếu tố sản xuất đối với nước đó là thuận lợi nhất. Nói cách khác
bằng cách thừa nhận là mỗi sản phẩm đòi hỏi một sự liên kết khác nhau các
yếu tố sản xuất (vốn, lao động, tài nguyên, đất đai…) và có sự chênh lệch
giữa các nước về các yếu tố này, mỗi nước sẽ chuyên môn hoá trong những
ngành sản xuất cho phép sử dụng các yếu tố với chi phí rẻ hơn, chất lượng tốt
hơn so với các nước khác đồng thời nhập khẩu các sản phẩm thâm dụng yếu
tố đầu vào kia. Kết luận này được kinh tế học gọi là Định lý Heckscher-Ohlin.
1.2 Kiểm nghiệm mô hình H-O
Do lý thuyết thương mại tỷ lệ các yếu tố sản xuất là một trong những lý
thuyết có ảnh hưởng nhất trong kinh tế học quốc tế, nó đã và đang là một chủ
đề được đem ra kiểm nghiệm rộng rãi bằng các dẫn chứng thực tế. Kết quả
những cuộc kiểm nghiệm đó không thuận: các nước trong thực tế không xuất
khẩu những hàng hoá mà lý thuyết này phán đoán. Do đó, câu hỏi đặt ra là
liệu lý thuyết tỷ lệ các yếu tố sản xuất có còn phù hợp với suy nghĩ về thương
mại quốc tế không ???
1.3.1 Kiểm định với nền kinh tế Mỹ
Kiểm nghiệm trên các số liệu của Mỹ cho thấy trước đây, và ở mức độ
nào đó thậm chí hiện nay, Hoa Kỳ vẫn là một trường hợp đặc biệt trong số các
nước trên thế giới. Cách đây không lâu, Hoa Kỳ vẫn là nước giàu có hơn các
nước khác, công nhân Mỹ rõ ràng có số vốn theo đầu người nhiều hơn công

như sau: Mỹ có một lợi thế đặc biệt trong việc snả xuất những sản phẩm hoặc
hàng hoá sử dụng những công nghệ mới phát minh. Nhưng sản phẩm này có
thể cần sự tập trung vốn ít hơn so với những sản phẩm mà kỹ thuật có đủ thời
gian chin muồi và trở nên phù hợp cho việc sản xuất hàng loạt. Vì vậy, Mỹ có

14

thể sẽ xuất khẩu những hàng hoá sử dụng nhiều lao động có tay nghề cao và
kỹ năng kinh doanh đổi mới, trong khi nhập khẩu hàng công nghiệp nặng sử
dụng khối lượng vốn lớn.
Bảng 1.4 Nội dung các yếu tố trong hàng xuất khẩu và nhập khẩu
của Mỹ năm 1962.
Các yếu tố Hàng nhập khẩu Hàng xuất khẩu
Vốn
2.132.000$
1.876.000$

Lao động (người-năm) 119 131
Số năm giáo dục trung bình 9.9 10,1
Tỷ lệ kỹ sư và nhà KH
0.0189
0.0255

1.3.2 Kiểm nghiệm số liệu trên thế giới
Gần đây hơn, các nhà kinh tế đã tiến hành kiểm nghiệm mô hình H-O
trên số liệu của nhiều nước. Một công trình nghiên cứu quan trọng của Harry
P.Bowen, Edward E.Leamer và Leo Sveikauskas dựa trên ý tưởng đã nói trên
đây rằng việc trao đổi, buôn bán hàng hoá là một cách buôn bán gián tiếp các
yếu tố sản xuất. Vì thế nếu ta muốn tính toán các yếu tố sản xuất hàm chứa
trong những hàng hoá xuất khẩu và nhập khẩu của một nước, chúng ta nên

tưởng của Ricardo rằng mô thức thương mại phần lớn được thúc đẩy bởi
những khác biệt quốc tế về trình độ công nghệ hơn là những khác biệt về
nguồn lực. Ví dụ, ở Mỹ xuất khẩu máy vi tính và máy bay, không phải do các
nguồn lực của Mỹ đặc biệt thích hợp với những hoạt động này, mà là do Mỹ
sản xuất những hàng hoá này một cách có hiệu quả hơn so với sản xuất ôtô
hoặc thép. Điều này vẫn bỏ qua các lý do chưa được giải thích về sự khác biệt
công nghệ.
Vì thế hiểu được nguồn gốc của những khác biệt về công nghệ giữa các
nước là một chủ đề cơ bản của công nghệ giữa các nước là một chủ đề cơ bản
của công việc nghiên cứu hiện nay.
Bảng 1.5 Kiểm nghiệm mô hình Heckscher – Ohlin

16 Yếu tố sản xuất Mức độ thành công của phán đoán*
Vốn 0,52
Lao động 0,67
Công chức chuyên nghiệp 0,78
Nhân viên quản lý 0,22
Nhân viên văn phòng 0,59
Nhân viên bán hàng 0,67
Công nhân dịch vụ 0,67
Công nhân nông nghiệp 0,63
Công nhân sản xuất(công nghiệp) 0,70
Đất trồng hoa màu 0,70
Đất trồng cỏ 0,52
Rừng 0,70

(*Tỷ lệ của các nước có xuất khẩu ròng yếu tố sản xuất diễn ra theo

THỰC TRẠNG NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM
2.1 Vai trò và nhiệm vụ của nhập khẩu đối với Việt Nam
2.1.1 Vai trò của nhập khẩu
Nhập khẩu có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế của Việt
Nam trên các mặt như sau:
Thứ nhất, nhập khẩu có tác động trực tiếp đến sản xuất và kinh doanh
thương mại vì thông qua hoạt động nhập khẩu cung cấp cho nền kinh tế 60-
100% nguyên, nhiên vật liệu chính phục vụ cho sản xuất. Trong điều kiện sản
xuất nguyên liệu trong nước chưa phát triển, việc nhập khẩu những nguyên
liệu cao cấp như sợi cho ngành dệt, vải cho ngành may, phân bón cho nông
nghiệp, các linh kiện cho ngành lắp ráp xe hơi, điện tử…Hoạt động nhập khẩu
đã và đang góp phần quan trọng trong việc thực hiện chiến lược công nghiệp
hóa- hiện đại hóa đất nước hướng về xuất khẩu.

18

Thứ hai, nhập khẩu tác động mạnh vào quá trình đổi mới công nghệ,
trang thiết bị sản xuất. Qua đó nâng cao trình độ sản xuất và năng suất lao
động trong nước.
Thứ ba, nhập khẩu có vai trò nhất định trong việc nâng cao mức sống,
mở rộng nhu cầu trong nước của người dân. Bởi vì không chỉ cải thiện đồng
lương của đội ngũ nhân viên hoạt động trong lĩnh vực nhập khẩu mà hoạt
động này còn cung cấp các yếu tố đầu vào ( khoa học công nghê, máy móc
thiết bị, nguyên vật liệu…) qua đó thúc đẩy hoạt động sản xuất, giải quyết
công ăn, việc làm cho người lao động. Mặt khác, việc nhập khẩu hàng hóa
tiêu dùng, sách báo, văn hóa phẩm đã góp phần nâng cao trình độ dân trí , cải
thiện đời sống của người dân.

2.1.2 Nhiệm vụ của công tác nhập khẩu
 Đảm bảo kịp thời đầy đủ và đồng bộ nhu cầu về tư liệu sản xuất

năm 2007. Tuy nhập khẩu và tỷ lệ nhập siêu đang được kiềm chế, nhưng vẫn
ở mức cao. Con số nhập siêu cả năm 2008 của Việt Nam là 19 tỷ USD, bằng
29,2% kim ngạch xuất khẩu, tăng 10% so với năm 2007, gần bằng cả thời kì
2001-2005 và vượt xa con số kế hoạch( 10,8-10,9 tỷ USD).
Nhưng qua thống kê có thể thấy, kim ngạch nhập khẩu trong năm 2008
tăng chủ yếu là do giá tăng mạnh trong khi khối lượng nhập khẩu tăng không
đáng kể. Điều đáng nói là ở một số mặt hàng khối lượng hàng nhập về tăng
mạnh lại đúng vào thời điểm giá trên thị trường thế giới lên đến đỉnh, điển
hình ở một số mặt hàng như xăng dầu, thức ăn chăn nuôi, giấy… Chính điều
này đã cản trở cho việc giảm giá bán lẻ ở trong nước, gây thiệt hại cho nền
kinh tế, cho người tiêu dùng và cho chính bản thân doanh nghiệp.
Năm 2009 kim ngạch nhập khẩu đạt 69.95 tỷ USD, tăng 16% so với
năm 2008. Trong đó kim ngạch nhập khẩu của các doanh nghiệp FDI đạt
26.07 tỷ USD, trong đó các doanh nghiệp (DN) trong nước tăng 15,1% và các

20

DN có vốn đầu tư nước ngoài tăng 14,9%. Nhóm mặt hàng máy móc, thiết bị
phụ tùng, nguyên, nhiên vật liệu phục vụ cho đầu vào sản xuất xuất khẩu sẽ
tiếp tục gia tăng, chiếm tỷ trọng 76% với 53.162 tỷ USD. Nhóm mặt hàng bị
kiểm soát nhập khẩu bao gồm giấy, dầu mỡ động thực vật, sản phẩm dầu gốc,
gas , chiếm tỷ trọng 16,7% với 11.68 tỷ USD. Nhóm hàng hạn chế nhập
khẩu bao gồm nguyên phụ liệu thuốc lá, ô tô và phụ tùng ô tô dưới 12 chỗ
ngồi, linh kiện xe gắn máy sẽ chiếm 7,2%, khoảng 5 tỷ USD. Châu Á vẫn là
thị trường nhập khẩu chính của Việt Nam, với tỷ trọng khoảng 75-85%, tiếp
theo là EU và châu Mỹ. Trong năm 2009, các biện pháp kiểm soát nhập khẩu
thông qua các biện pháp thuế quan và phi thuế quan đã được áp dụng mạnh để
giảm nhập siêu.
Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 4/2010 ước tính đạt gần 7 tỷ USD,
tăng 3% so với tháng trước và tăng 25% so với cùng kỳ năm trước. Tính

tăng 14,4% so với năm trước , nâng tổng kim ngạch nhập khẩu năm 2009 lên
69,95 tỷ USD, tăng 17,9% so với năm 2008.
Nhóm hàng máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng nhập khẩu vào Việt
Nam trong năm 2009 có xuất xứ chủ yếu từ Trung Quốc với 2,1 tỷ USD,
giảm 6,2%; Nhật Bản: 1,26 tỷ USD, giảm 21,9%; Hàn Quốc: 439 triệu USD;
giảm 22,7%; Hoa Kỳ: 395 triệu USD, tăng 9,5%, so với cùng kỳ năm 2008.
2.2.2.2 Sắt thép các loại:
Năm 2009, cả nước nhập khẩu hơn 9.7 triệu tấn thép các loại, tăng
13,8% so với năm trước với trị giá là 5.4 tỷUSD. Lượng phôi thép nhập khẩu
vào Việt Nam trong năm là 2.4 triêu tấn, tăng 22% so với năm trước, trị giá
trên 1tỷ USD.

Hình 2.2.2.2: Nhập khẩu sắt thép từ các thị trường chính
7 tháng 2009 so với 7 tháng 2008

22
2.2.2.3 Thức ăn gia súc và nguyên liệu:
Trong năm 2009, trị giá nhập khẩu nhóm hàng này 1.76 tỷ USD, cao
hơn nhiều so với năm 2008.
Trong đó, nhập khẩu từ Achentina là: 294 triệu USD, tăng 202,6%; Ấn
Độ : 285 triệu USD, giảm 52%; Trung Quốc: 98 triệu USD, tăng 32,4%; và
Hoa Kỳ: 97,6 triệu USD, giảm 6,9% so với 7 tháng 2008.
2.2.2.4 Nhóm hàng nguyên liệu ngành dệt may, da giày:
Trong năm 2009 nhập khẩu 17.4 tỷ USD, tổng kim ngạch nhập khẩu
của nhóm hàng này giảm 8.62% so với năm 2008.
Bảng 2.2.2.4 : Lượng, trị giá nhập khẩu các mặt hàng nguyên liệu
ngành dệt may, da, giày năm 2009 và năm 2008

xuất xứ từ Singapore với hơn 6,1 triệu tấn, tiếp theo là Đài Loan: 2,6 triệu tấn,
Trung Quốc: 1,41 triệu tấn, Hàn Quốc: 1.4 triệu tấn, Thái Lan: 880 nghìn tấn,

2.2.2.6. Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện:
Nhập khẩu trong năm 2009 là 3.95 tỷ USD, tăng 6.5% so với năm
2008.
Tính đến hết năm 2009, Nhật Bản là thị trường dẫn đầu về cung cấp
nhóm hàng này cho nước ta với 928 triệu USD. Tiếp theo là Singapo với
815triệu USD, Trung Quốc : 654 triệu USD;

2.2.2.7. Chất dẻo nguyên liệu:
Hết năm 2009, tổng lượng nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu của cả nước
là 2,2 triệu tấn, tăng 29.4% so với cùng kỳ năm trước và đạt trị giá là 2.8 tỷ
USD.
Năm 2009, chất dẻo nguyên liệu được nhập khẩu vào Việt Nam chủ
yếu có xuất xứ từ: Hàn quốc : 291 nghìn tấn, tăng 44,0% so với cùng kỳ 2008;
Đài Loan: 319 nghìn tấn, giảm 3,9%; Thái Lan: 270 nghìn tấn, tăng 7,1%.

24

2.2.2.8 Phân bón:
Trong năm 2009 nhập khẩu 4.5 triêu tấn, tăng 50% so với năm 2008
với trị giá đạt trên 1.4 tỷUSD.
Lượng phân Urê nhập khẩu vào Việt Nam trong năm 2009 qua là 1.4
triêu tấn, phân SA là 1.1 triệu tấn, phân DAP là 981 tấn, phân Kali là 481
nghìn tấn, phân NPK là 334 nghìn tấn.
Mặt hàng phân bón các loại được nhập khẩu vào Việt Nam chủ yếu có
xuất xứ từ Trung Quốc với 1.5 triệu tấn. Tiếp theo là 346 nghìn tấn,Nhật Bản:
199 nghìn tấn, Hàn Quốc: 161 nghìn tấn, Hoa Kỳ: 102 nghìn tấn, Đài Loan:
102 nghìn tấn,…


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status