lời nói đầu
Phơng hớng phát triển kinh tế đối ngoại của Việt Nam thời kỳ 2000-
2020 là tiếp tục mở rộng hoạt động ngoại thơng theo hớng đa dạng hoá,
đa phơng hoá, tích cực hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới. Tuy
nhiên khi chấp nhận hoà nhập vào kinh tế khu vực và kinh tế thế giới là
chấp nhận xu hớng hợp tác trong cạnh tranh gay gắt. Đây là thời cơ vừa là
thách thức, đòi hỏi cơ quan quản lý cũng nh doanh nghiệp phải có các
định hớng phát triển thị trờng xuất nhập khẩu và các biện pháp phù hợp
trong hoàn thiện chính sách ngoại thơng, nhằm đẩy mạnh xuất nhập khẩu
theo hớng công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nớc.
Trong quá trình công nghiệp hoá, sự chuyển dịch cơ cấu xuất nhập
khẩu không chỉ phản ánh sự tiến hoá của các hình thái nhu cầu phục vụ
sản xuất và tiêu dùng trong phạm vi từng quốc gia mà còn phản ánh sự
phân bố lại năng lực sanr xuất trên phạm vi toàn cầu. Chính vì vậy, công
nghiệp hoá hớng xuất khẩu là một định hớng vô cùng quan trọng đa nền
kinh tế đất nớc đêns thành công.
Xuất khẩu thể hiện nhu cầu về hàng nội của các quốc gia khác nhau
đối với quốc gia chủ thể và nhập khẩu thể hiện nhu cầu về hàng ngoại của
quốc gia chủ thể. Xuất khẩu còn có thể chỉ ra đợc những lĩnh vực có thể
chuyên môn hoá, những công nghệ và t liệu sản xuất trong nớc còn thiếu
để sản xuất ra sản phẩm xuất khẩu đạt đợc chất lợng quóc tế. Sự chuyển
dịch cơ cấu xuất khẩu còn giữ vai trò quyết định làm chuyển dịch cơ cấu
kinh tế chung cả nớc do hai chức năng cơ bản của nó là: làm chuyển dịch
cơ cấu đầu t và nâng cao hiệu quả kinh tế.
Để đạt đợc mục tiêu tăng giá trị xuất khẩu tuyệt đối hơn 2 tỷ
USD/năm đòi hỏi nhiều biện pháp. Nhng trong đó vấn đề vấn đề tìm kiến
thị trờng xuất khẩu của Việt Nam có một vị trí đặc biệt quan trọng quyết
định đến sự thành công của kế hoạch.
1
Trên cơ sở đánh giá tầm quan trọng của xuất khẩu và thị trờng xuất
khẩu em chọn đề tài Thị trờng xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của
trờng-cạnh tranh về chất lợng sản phẩm, về phơng thức giao dịch mua
bán, giữa những ngời mua với nhau. Cạnh tranh là bộ máy điều chỉnh trật
tự thị trờng, là yếu tố quan trọng khích thích tích cực tính đa dạng và
3
nâng cao chất lợng sản phẩm cho phù hợp với yêu cầu của ngời tiêu dùng,
là yếu tố phát triễn thị trờng.
Phát triễn thị trờng là mục tiêu, phơng thức quan trọng để tồn tại và
chiến thắng trong cạnh tranh. Có mở rộng và phát triễn thị trờng thì mới
tăng nhanh doanh số bán, mới duy trì mối quan hệ thờng xuyên gắn bó
với khách hàng. Đồng thời cũng cố uy tín của doanh nghiệp, không ngừng
nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Để nắm vững đợc các yếu tố của thị trờng, hiểu biết về quy luật vận
động của chúng nhằm ứng xử kịp thời, mỗi nhà kinh doanh nhất thiết phải
tiến hành các hoạt động về nghiên cứu thị trờng.
Nghiên cứu thị trờng hàng hoá thế giới có ý nghĩa rất quan trọng
trong việc phát triễn và nâng cao hiệu quả kinh tế, đặc biệt là trong công
tác xuất khẩu hàng hoá của quốc gia, mỗi doanh nghiệp nghiên cứu và
nắm vững biến động của tình hình thị trờng và giá cả hàng hoá trên thế
giới là những tiền đề quan trọng đảm bảo cho các tổ chức xuất khẩu hoạt
động trên thị trờng thế giới có hiệu quả cao nhất.
Đối với các tổ chức xuất khẩu, nghiên cứu thị trờng hàng hoá trên thế
giới phải trả lời đợc các câu hỏi: xuất khẩu cái gì, dung lợng của thị trờng
hàng hoá đó ra sao, sự biến động của giá cả hàng hoá đó nh thế nào, th-
ơng nhân trong giao dịch là ai, với phơng thức giao dịch nào và cuối cùng
là chiến thuật kinh doanh của từng giai đoạn để đạt đợc mục tiêu đề ra.
2. Vai trò của xuất khẩu hàng hoá nói chung và các mặt hàng chủ
lực nói riêng.
Đối với những nớc đang phát triễn nh nớc ta, sự phát triễn của xuất
khẩu nói chung và xuất khẩu các mặt hàng chủ lực nói riêng sẽ có một ý
nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triễn của đất nớc. Đặc biệt là trong
Một khía cạnh hết sức có ý nghĩa là thông qua phát triễn kinh doanh
xuất khẩu, đáp ứng nhu cầu khách hàng về sản xuất ra sản phẩm có trình
độ kỹ thuật, tiêu chuẩn quốc tế, mà đào tạo rèn luyện về trình độ kỹ thuật
và chuyên môn hoá lành nghề cho một bộ phận lao động. Đây là cơ sở để
mở ra một xu hớng mới, làm tăng cờng xuất khẩu và xuất khẩu các mặt
hàng có hàm lợng ky thuật cao. Đó cũng là một tiền đề, nền kinh tế có
một bớc chuyển về chất từ nông nghiệp sang công nghiệp.
Xuất khẩu còn góp phần quan trọng vào việc giải quyết vấn đề sử
dụng có hiệu quả cao hơn các nguônf tài nguyên thiên nhiên. Việc đa các
5
nguồn tài nguyên này tham gia vào sự phân công lao động quốc tế, thông
qua việc phát triễn các ngành chế biến xuất khẩu, góp phần nâng cao giá
trị của hàng hoá.
Nh vậy xuất khẩu không chỉ đóng vai trò chất xúc tác hỗ trợ sự
phát triễn, mà đã trở thành một nhân tố rất quan trọng trong dự phát triễn
của nền kinh tế quốc dân.
II. nội dung cơ bản của xuất khẩu hàng hóa nói chung
và xuất khẩu các mặt hàng chủ lực noí riêng
1. Nhận biết về mặt hàng xuất khẩu
Việc nhận biết mặt hàng xuất khẩu nói chung và xuất khẩu các mặt
hàng chủ lực nói riêng trớc tiên phải dựa vào nhu cầu của sản xuất và tiêu
dùng về quy cách và chủng loại, giá cả, thời vụ và các thị hiếu cũng nh
tập quán của từng vùng, từng lĩnh vực sản xuất. Từ đó, sẽ tiến hành xem
xét các khía cạnh của hàng hoá trên thế giới. Về khía cạnh thơng phẩm,
phải hiểu giá trị, công dụng, các đặc tính của nó, quy cách phẩm chất,
mẩu mã. Nắm bắt đợc đầy đủ về giá cả hàng hoá, khả năng sản xuất và
nguồn cung cấp chủ yếu của các công ty cạnh tranh, các hoạt động dịch
vụ phục vụ cho hàng hoá nh bảo hành, cung cấp phụ tùng, hớng dẫn sử
dụng...
Việc lựa chọn mặt hàng xuất khẩu không những chỉ dựa vào các tính
vào khủng hoảng tiêu điều thì dung lợng thị trờng bị co hẹp và ngợc lại
thì đợc mơ rộng.
Nhân tố thời vụ ảnh hởng tới thị trờng hàng hoá trong khâu sản xuất,
lu thông các laọi hàng hoá khác nên sự tác động của các nhân tố này rất
đa dạng với các mức độ khác nhau.
Loại thứ hai là các nhân tố ảnh hởng lâu dài đến sự biến động của
thị trờng bao gồm tiến bộ khoa học kỹ thuật, các biến pháp chính sách của
nhà nớc và các tập đoàn t bản lũng đoạn, thị hiếu, tập quan ngời tiêu thụ,
ảnh hởng của khả năng sản xuất hàng thay thế.
Loại thứ ba là các nhân tố ảnh hởng tạm thời đối với dung lợng của
thị trờng nói chung và đối với thị trờng xuất khẩu các mặt hàng chủ lực
nói riêng là nh hiện tợng đầu cơ gây ra những đột biến về cung cầu, các
yếu tố tự nhiên nh thiên tai, bảo lụt, động đất... các yếu tố về chính trĩĩa
hội nh đình công...
7
Khi nghiên cứu sự ảnh hởng của các nhân tố phải thấy đợc nhóm các
nhân tố tác động chủ yếu trong từng thời kỳ kể cả trớc kia, hiện nay và xu
hớng tiếp theo.
Nắm đợc dung lợng thị trờng của các nhân tố ảnh hởng đến nó trong
từng thời kỳ có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh xuất
khẩu hàng hoá nói chung và các mặt hàng chủ lực nói riêng giúp cho các
nhà xuất khẩu cân nhức để đề ra quyết định kịp thời, chính xác, nhanh
chóng chớp thời cơ giao dịch nhằm đạt hiệu quả kinh doanh cao nhất.
Cùng với việc nghiên cứu dung lợng thị trờng, ngời kinh doanh phải nắm
bắt đợc tình hình kinh doanh mặt hàng đó trên thị trờng, các đối thủ cạnh
tranh của mình và đặc biệt là các điều kiện chính trị, thơng mại, luật pháp,
tập quán buôn bán quốc tế từng khu vực để có thể hoà nhập với thị trờng
nhanh chóng có hiệu quả, tránh đợc những sơ suất giao dịch buôn bán.
3. Lựa chọn đối tợng buôn bán
Trong thơng mại quóc tế, bạn hàng, khách hàng là những ngời hoặc
nhau. Ví dụ nh cùng một mặt hàng, cùng tính năng, cùng chất lợng nh
nhau nhng hàng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trờng Mỹ phải chịu một
tỷ lệ thuế suất rất cao so với các nớc khác xuất khẩu sang Mỹ do các nớc
này đợc hởng quy chế tối huệ quốc của Mỹ.
Phần lớn các nớc đều sử dụng loại hạn ngạch nhập cảng dới hình
thức này hay hình thức khác. Các loại hạn ngạch thờng đợc a chuộng hơn
là thuế quan và nói chung nó là đối tợng điều chỉnh thông dụng hơn. Bất
cứ lúc nào hạn ngạch đều có thể hạn chế một cách hữu hiệu thị phần có
thể tiếp cận đợc đối với nhà cung cấp nớc ngoài hay đối với các nhà xuất
khẩu của một số nớc. Trong nhiều trờng hợp, chính các hạn ngạch nhập
khẩu của nớc nhập khẩu có thể đóng kín cữa thị trờng hoàn toàn cho các
nhà cung cấp nớc ngoài.
2. Các quy định liên quan đến sức khoẻ và an toàn
Trong nhiều nớc, việc nhập cảng hay bán hàng hoá đều tuỳ thuộc vào
các quy định nghiêm khắc về vệ sinh và an toàn, nhất là nếu liên hệ đến
thực phẩm hay các loại hàng hoá có thể tiếp xúc đợc với miệng lỡi. Vả lại,
các quy định dựa trên các nhận xét về môi sinh càng ngày càng có tầm
quan trọng. Các quy định này có thể liên hệ đến nguyên liệu đã đợc sử
9
dụng, cách thức chế biến hay còn gồm cả bao bì và nhãn hiệu. Nhiều nớc
chẵng hạn quy định việc sử dụng các tác nhân đối với việc chế biến thực
phẩm và đối với thành phần chất hoá học của các chất màu dùng làm
trang trí chén bát và đồ chơi.
Nếu không biết hoặc thiếu thông tin về vấn đề này, nhà xuất khẩu có
thể bị loại khỏi thị trờng. Do vậy, nhà xuất khẩu phải thu thập thông tin
đầy đủ trớc khi gia nhập thị trờng
3. Các yếu tố kinh tế
Khả năng mua hàng của ngời dân, dĩ nhiên ảnh hởng đến số lợng mà
họ có thể mua và ảnh hởng đến loại sản phẩm mà họ chọn để mua. Nếu có
một tỷ lệ lớn dân số quá nghèo, thị trờng tiềm năng của nhiều loại sản
11
ch ơng II
thực trạng của thị trờng xuất khẩu các
mặt hàng chủ lực của việt nam
I. đặc điểm của thị trờng xuất khẩu các mặt hàng chủ
lực của Việt nam
1. Về cơ hội
Thành quả 15 năm đổi mới nền kinh tế đã đa thế và lực của nớc
ta lên một tầm cao mới. Trong xu thế toàn cầu hoá khu vực hoá thành một
xu hớng tất yếu thúc đẩy hầu hết các quốc gia mở rộng thị trờng bằng
cách giảm bớt, thậm chí xoá bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan;
chuyển dịch một cách thông thoáng hàng hoá, vốn đầu t, tiền tệ, dịch vụ,
lao động giữa các quốc gia với quy mô ngày càng lớn; hình thành vô số tổ
chức kinh tế, tài chính mang tính toàn cầu và khu vực; ký kết hàng vạn
hiệp định song phơng đa phơng, hàng trăm công ớc kinh tế quốc tế, phát
triển nhiều tập đoàn xuyên quốc gia...Khu vực hoá tập hợp những quốc
gia trong từng khu vực với những mục đích đa dạng, hình thức phong phú.
Khu vực hoá góp phần thúc đẩy tự do hoá thơng mại, đầu t, dịch vụ trong
phạm vi khu vực cũng nh giữa các khu vực, tao lập những khu vực rộng
lớn với một chính sách tài chính tiền tệ, công nghệ, thị trờng thống nhất,
giúp cho các quốc gia thành viên tiết kiệm chi phí, tạo mối trờng kinh
doanh có hiệu quả, tạo lợi thế trong hợp tác cạnh tranh trên thị trờng quốc
tế. Việt Nam cũng không nằm trong xu thế đó, ta đã có quan hệ kinh tế
với hơn 130 nớc trên thế giới và nhiều tổ chức kinh tế, tài chính quốc tế.
Hàng hoá Việt Nam đã có mặt tại tất cả các nớc lớn nh: Mỹ, EU, Nhật
Bản và các trung tâm kinh tế lớn. Một số ngành sản xuất phát triễn với tốc
độ cao, tạo đợc khối lợng lớn về sản phẩm hàng hoá chất lợng cao, ổn
định, giá thành hạ, có sức cạnh tranh trên thị trờng quốc tế. Cơ chế chính
12
sách nhằm thúc đẩy xuất khẩu ngày càng đợc thông thoáng, tạo môi trờng
có những thế mạnh nh: cao su, dàu thô, dầu thực vật, hoa quả nhiệt đới,
13
các loại đậu, hàng thủ công mỹ nghệ, đồ chới trẻ em.. dều có thể xuất
khẩu sang Mỹ.. Những thành quả to lớn về đối nội, đối ngoại của nớc ta
và những diễn biến trên thị trờng đã đặt nớc ta nhiều thuận lợi mới để mỏ
rộng kinh tế đối ngoại, làm cho kinh tế đối ngoại nói chung và xuất khẩu
nói riêng trỏ thành đòn bẩy để thúc đẩy nhanh sự tăng trởng kinh tế. Về
tình hình chính trị xã hội của nớc ta ổn định, sự cải tiến liên tục tình
hình kinh tế, pháp luật, chính sách thông thoáng đó là những nhân tố tạo
niềm tin và hấp dẫn với các đối tác nớc ngoài.
2. Về khó khăn và thách thức
Mặc dù thành quả của 15 năm đổi mới đã làm cho bộ mặt kinh tế nớc
tá khác xa hơn trớc. Nhng chúng ta cũng phải thừa nhận một thực tế rằng
nớc ta là một nớc kém phát triễn. Thách thức gay gắt nhất là nguy cơ tụt
hậu về kinh tế ngày càng xa so với các nớc trong khu vực và trên thế giới
do phát triễn của nớc tá quá thấp, lại phải đối phó cạnh trnah gay gắt trên
thị trờng quốc tế. Không hội nhập thị trờng đợc; nhng hội nhập với nền
kinh tế thế giới, nền kinh tế của nớc ta lại không tránh khỏi phải chịu ảnh
hởng của xu thế tự do hoá thơng mại, của biến động giá cả quốc tế và
lãi suất ngân hàng, của tình hình cung cầu và vốn đầu t, của nhu cầu đa
dạng của thị trờng nớc ngoài trong khi bố trí cơ cấu kinh tế...
Về hàng xuất khẩu caủa Việt Nam nói chung và cũng nh hàng xuất
khẩu chủ lực của nớc ta đang đứng trớc một sự cạnh tranh gay gắt với các
khu vực nh: Thái Lan, Indonesia, Philíppin, Malaysia...Đặc biệt là Trung
Quốc vừu trở thành viên chính thức của tổ chức Thơng mại thế giới WTO
đủ tạo ra một lợi thế rất lớn cho hàng Trung Quốc cạnh tranh chiếm thị
phần các thị trờng trên thế giới. Việc Trung Quốc gia nhập WTO là một
cản trở rất lớn cho hàng hoá Việt Nam thâm nhập thị trờng thế giới. Bởi vì
những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam nh: may mặc, da dày,
hàng nông sản, thủ công mỹ nghệ... cũng là thế mạnh của Trung Quốc.
trong 10 năm tới, mang lại kim ngạch khoảng 120-150 triệu USD). Nhìn
chung giá xuất khẩu than khó có khả năng tăng đột biến do nguồn cung
ứng trên thị trờng thế giới tơng đối dồi dào, vả lại vì lý do môi trờng nên
cầu có xu hớng giảm.
Khả năng tăng xuất khẩu các loại khoáng sản khác để bù vào thiếu
hụt của dầu thô và than đá là rất hạn chế. Nh vậy, tới năm 2005, nhóm
nguyên liệu có khả năng chỉ còn đóng góp 9% kim ngạch xuất khẩu(2,5
tỷ USD) so với trên 20% hiện nay; đến năm 2010 tỷ trọng của nhóm này
15
sẽ giảm xuống còn cha đầy 1%(dới 500 triệu USD) hoặc 3.5%(khoảng
1,75 tỷ USD), tuỳ theo phơng án khai thác dầu thô. Vì vậy, việc tìm ra các
mặt hàng mới để thay thế là một thách thức lớn đối với việc gia tăng xuất
khẩu.
3.2. Nhóm hàng nông, lâm, thuỷ sản
Hiện nay nhóm hàng này chiếm gần 25% kim ngạch xuất khẩu với
những mặt hàng chủ yếu là gạo, cà phê, cao su, rau quả, thuỷ sản, hạt tiêu,
và nhân điều, tất cả đều đạt kim ngạch trên 100 triệu USD/năm. Nhóm
hàng này có xu hớng tăng kim ngạch tuyệt đối nhng tỷ trọng tuyệt đối
của nhóm sẽ giảm xuống còn 22%(tơng đơng 5,85 tỷ USD) vào năm 2005
và 17,2%(tơng đơng 8-8.6 tỷ USD) vào năm 2010. Nguyên nhân là do
xuất khẩu nông nghiệp phải chịu những hạn chế mang tính cơ cấu(nh diện
tích có hạn, khả năng khai thác và đánh bắt có hạn). Bên cạnh đó nhu cầu
của thế giới cũng có hạn, giá cả lại không ổn định.
Theo Bộ Thơng Mại hạt nhân tăng trởng của nhóm sẽ là mặt hàng
thuỷ sản bởi tiềm năng khai thác và nuôi trồng còn nhiều, nhu cầu thế
giới lại tăng khá ổn định, bình quân tăng mỗi năm trên 13%. Thị trờng
xuất khẩu chính của mặt hàng này là Nhật Bản, Hoa Kỳ, Trung Quốc...
Đối với mặt hàng gạo, do nhu cầu thế giới tơng đối ổn định, khoảng
20 triệu tấn/ năm, nhiều nớc nhập khẩu chú trọng vào an ninh lơng thực,
thâm canh tăng năng suất cây trồng, gia tăng bảo hộ, giảm nhập khẩu.
cần chú trọng vào những mặt hàng nh thủ công mỹ nghệ, thực phẩm chế
biến, sản phẩm gỗ, hoá phẩm tiêu dùng, sản phẩm cơ khí, điện, sản phẩm
nhựa.
Mặt hàg thủ công mỹ nghệ hiện nay đạt xấp xĩ 200 triệu USD. Đây là
ngành nhiều tiềm năng, dung lợng thị trờng thế giới còn lớn. Nếu có
chính sách đúng đắn để khởi động tiềm năng thì có thể đạt kim ngạch.
II. thực trạng của thị trờng xuất khẩu các nmặt hàng
chủ lực của việt nam
1. Các thị trờng xuất khẩu chính của Việt Nam
1.1. Thị trờng Châu á- Thái Bình Dơng
Thị trờng Châu á - Thái Bình Dơng là một thị trờng xuất khẩu trọng
điểm của Việt Nam. Với kim ngạch 9,7 tỷ USD chiếm tỷ trong gần 60%
trong kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Với những thuận lợi nh dung l-
ợng thị trờng lớn, vị trí địa lý gần gủi, là một khu vực phát triễn năng
17
động. Tại khu vực này, cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ năm 1998 gần
nh đã kết thúc với sự phục hồi kinh tế ở các nớc Malaysia, Singapore, Hàn
Quốc, Thái Lan... Trong số các nớc bị ảnh hởng nghiêm trong nhất của
cuộc khủng hoảng, Hàn Quốc đã dẫn đầu qua tình trạng phục hồi với mức
tăng GDP 9%(1999) so với 6%(1998), Singapore có mức tăng 5%(1999)
so với mức âm 0,2%(1998), Hồng Kông tăng 0,7%(1999) so với âm
4,7%(1998), Indonesia tăng 2%(1999) so với mức âm 7,5%(1998), Thái
Lan tăng 4%(1999) so với mức âm 8%(1998), Malaysia tăng 3%(1999) so
với mức âm(1998), Philippin tăng 2,9%(1999) so với mức âm
0,2%(1998). Các nớc Nam á nh ấn Độ, Trung Quốc vẫn tiếp tục tăng tr-
ởng ổn định. Đây là điều kiện rất thuận lợi để giao lu hàng hoá của Việt
Nam vào khu vực Châu á- Thái Bình Dơng tăng rất nhanh. Dự kiến đến
năm 2005 xuất khẩu của Việt Nam vào khu vực Châu á-Thái Bình Dơng
tiếp tục tăng 10-12%/năm, nhng từ năm 2006-2010 sẽ còn 8%/năm. Với
tốc độ tăng trởng nh dự báo thì đầu năm 2003 khu vực này chiếm khoảng
viên có thể bổ sung cho nhau đem lại sự phồn vinh cho mỗi nớc và cho cả
khu vực. Hiện nay ASEAN chiếm khoảng 25-30% kim ngạch xuất nhập
khẩu của Việt Nam và khoảng 15% tổng vốn đầu t của nớc ngoài vào
Việt Nam.
Hiện nay các nớc ASEAN đang chuẩn bị tiến hành thực hiện Hiệp
định khu vực mậu dịch tự do ASEAN(AFTA), thực hiện chơng trình u đãi
thuế quan có hiệu lực chung(CEPT). Khu mậu dịch tự do ASEAN(AFTA)
ra đời hớng vào các mục đích nh: mở rộng và tăng cờng buôn bán giữa
các nớc ASEAN, thúc đẩy hợp tác đầu t trong nội bộ khu vực và thu hút
đầu t nớc ngoài vào ASEAN, xây dựng ASEAN thanh một khu vực sản
xuất có sức cạnh tranh mạnh hớng vào toàn cầu.
Để thực hiện AFTA, năm 1992 các nớc ASEAN đã ký kết thực hiện
chơng trình u đãi thuế quan có hiệu lực chung(CEPT). Mục tiêu của CEPT
là giảm thuế quan trong thơng mại nội bộ ASEAN xuống 0-5%, đồng thời
loại bỏ tất cả các hạn chế về định lợng và hàng rào phi thuế quan khác. Có
thể nói khi khu vực mậu dịch AFTA thành công, hàng rào thuế quan giữa
các nớc ASEAN không còn nữa thì việc giao lu giữa các nớc ASEAN dễ
dàng. Đây thực sự là điều kiện rất tốt để gia tăng hàng xuất khẩu của Việt
Nam sang các nớc ASEAN nhng đồng thời nó cũng đặt ra một thách thức
19
rất lớn về sự cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam trong nớc và trong khu
vực ASEAN.
1.1.2. Thị tr ờng Nhật Bản
Từ năm 1986 đến nay, lợng hàng Việt Nam nhập khẩu của Nhật Bản
đã tăng 3-4 lân trong khi lợng hàng Việt Nam xuất khẩu sang Nhật Bản
lại tăng từ 13-14 lần. Vậy mà, suốt từ năm 1988 đến nay Nhật Bản luôn là
nớc xuất siêu. Sau Indonesia, Việt Nam là nớc đang phát triễn tại Châu á
luôn xuất siêu sang Nhật Bản, trờng hợp này rất hiếm. Nhật Bản đợc đánh
giá là bạn hàng lớn nhất trong 8 bạn hàng lớn nhất của Việt Nam trong
những năm qua(8 bạnn hàng này chiếm 89% kim ngạch xuất khẩu và trên
Trong các mặt hàng xuất khẩu vào thị trờng Nhật Bản thì đáng lu ý là
các mặt hàng tôm đông lạnh và mực, hàng may mặc, cà phê, than đá đang
là nhng mặt hàng có tốc độ tăng rất nhanh. Tôm đông lạnh Việt Nam
chiếm tỷ phần xấp xỉ 10% thị phần nhập khẩu của Nhật Bản. Nhật Bản
cũng đã trở thành thị trờng lớn nhất đối với hàng may mặc xuất khẩu của
Việt Nam, lại là thị trờng phi hạn ngạch nên tiềm năng của thị trờng này
cho hàng may mặc xuất khẩu của Việt Nam là rất lớn. Than đá của Việt
Nam xuất khẩu sang Nhật gần đây đạt mức kỷ lục hơn triệu tấn/năm. Thị
trờng cà phê, dày dép của Nhật Bản cũng hứa hẹn nhiều triễn vọng đối với
hàng xuất khẩu của Việt Nam. Có một số mặt hàng xuất khẩu của Việt
Nam trong vài năm gần đây đã có tính cạnh tranh cao cả về chất lợng và
giá cả, đáng chú ý là may mặc, khăn lau tay, một số hàng thuỷ snr nh tôm
và mực. Năm 1998, Việt Nam đã vơn tới vị trí một trong 4 nớc hàng đầu
sang Nhật về một số mặt hàng nh than đá(đứng thứ 2), mực(thứ 2),
tôm(thứ 4),... Phần lớn các đối thủ cạnh tranh mặt hàng này của Việt Nam
tại thị trờng Nhật Bản là một số nớc Châu á nh: Trung Quốc, Hàn Quốc,
Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippin, ấn Độ... Rõ ràng là Việt Nam
đã từng bớc chiếm lĩnh thị trờng Nhật Bản, một thị trờng có sức tiêu thụ
rất mạnh, những đã từng nổi tiếng là khó tính. Không những thế, nhìn về
triễn vọng, xuất khẩu hàng Việt Nam sang Nhật Bản còn có khả năng tiếp
tục phát triễn khả quan hơn nữa, khi mà nền kinh tế Nhật Bản kể từ năm
1999 đến nay đang phục hồi trở lại. Nhu cầu tiêu dùng của ngời Nhật đối
với hàng hoá tiêu dùng của Việt Nam sẽ ngày càng gia tăng hơn, nếu họ
quen sử dụng, còn các hàng hóa tiêu dùng cho sản xuất của Việt Nam vẫn
xuất sang Nhật nh: dầu thô, than đá, sắt thép... thì thực tiễn đã cho thấy
đó là những hàng hoá nguyên vật liệu thiết yếu dùng cho sản xuất công
nghiệp mà nền kinh tế Nhật Bản luôn luôn cần tới. Năm 1998 có thể nói
nền kinh tế của Nhật Bản đang chạm tới đáy của sự suy thoái, với tốc
21
độ tăng trởng 18%, đạt kỹ lục cha từng có từ 5 thập niên gần đây, song
chất lợng hàng hoá của ta cha đồng đều, còn thua kém nhiều nớc trong
khu vực, đặc biệt là chất lợng quảng cáo, thông tin trên bao bì, cũng nh kỹ
22
thuật đóng gói còn đơn điệu, kém hấp dãn và độ dài thời gian bảo hành
sản phẩm còn cha chuẩn xác nh quảng cáo giới thiệu trên các bao bì hàng
hoá. Từ đó đặc ra bên cạnh vấn đề chất lợng cao, Việt Nam cần chú ý
nhiều hơn nữa đến khâu thông tin, quảng cáo tiếp thị với thị trờng Nhật
Bản, mà trớc hết là chú ý tới hình thức mỹ thuật và chất lợng kỹ thuật của
bao bì hàng hoá và vấn đề tiết kiệm giá thành sản phẩm để giảm giá ở
mức hợp lý mới có thể cạnh tranh đợc với hàng hoá của các nớc khác .
-Thứ hai là: hoàn tiện và nâng cao các biện pháp thâm nhập tị trờng
Nhật Bản. Về vấn đề này của ta còn quá đơn giản và cha chủ động. Việc
thâm nhập thị trờng Nhật bằng hình thức tiếp cận trực tiếp thị trờng cha đ-
ợc các doanh nghiệp của ta quan tâm đúng mức, trong đó có nguyên nhân
đó là chi phí khảo sát thị trờng rất tốn kem, các doanh nghiệp của ta dù có
muốn khảo sát trực tiếp cũng cha có thể thực hiện đợc vì một thực tế là
phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam còn ở quy mô nhỏ, cha có đủ tiềm
lực kinh tế làm ăn lớn. Chính vì thế mà cho đến nay các doanh nghiệp
Việt Nam không thể nắm bắt kịp thời chính xác đợc nhu cầu hàng hoá, thị
hiếu tiêu dùng cũng nh các quy định về quản lý xuất nhập khẩu của Nhật
Bản... Do vậy việc xuất khẩu hàng sang Nhật Bản hoàn toàn phụ thuộc vào
phía đối tác Nhật.
-Thứ ba là: mở rộng quy mô của các doanh nghiệp Việt Nam.
Quy mô của các doanh nghiệp Viêt Nam hiện nay còn nhỏ bé và do
phơng thức gom hàng của ta để xuất khẩu lâu nay vẫn cha khắc phục hết
tình trạng sản xuất nhỏ, manh mún... Vì thế rất khó khăn trong việc đáp
ứng các hợp đồng lớn, hoặc các hợp đồng đột xuất ngoài kế hoạch dự kiến
của phía ta nhng phía Nhật lạ có nhu cầu.
Tóm lại, xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản trong những năm
qua đã phát triễn khả quan hơn trớc nhiều song vẫn cha thực sự xứng với
hành các biện pháp chống phá giá. Những thuận lợi này càng tạo thêm các
cơ hội mới cho hai bên mở rộng các quan hệ kinh tế thơng mại và đầu t
trong thời gian tới.
Về những mặt hàng cụ thể, khả năng thâm nhập thị trờng EU của các
sản phẩm truyền thống của Việt Nam nh: dày dép, quần áo, thuỷ sản...
nên tăng thêm do đang đợc giảm miễn thuế GSP. Trong khi đó nhiều
nhóm hàng của các nớc có khả năng rất mạnh trên thị trờng EU đã bị loại
khỏi diện đợc hởng GSP(do tỷ lệ tổng sản phẩm trong nớc tính trên đầu
ngời của các nớc đó đã đạt tới mức không đợc hởng GSP nữa, hoặc do
24
nhóm hàng nào đó đã chiếm tới 25% thị phần hoặc bán phá giá tai thị tr-
ờng EU).
Với việc EU công nhận 40 doanh nghiệp thuỷ sản Việt Nam đã đủ
tiêu chuẩn xuất khẩu sang EU là điều kiện thuận lợi để đảm bảo xuất
khẩu ổn định. Ngoài ra điều này còn giúp nâng cao uy tính về chất lợng
hàng thuỷ sản Việt Nam trên các thị trờng khác, tăng khả năng thâm nhập
thị trờng của nhóm hàng này.
Đặc biệt là mấy năm gần đây hàng điện tử Việt Nam xuất sang EU
đã tăng nhanh, đến năm 1999 kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 60 triệu
USD. Sản phẩm tủ công mỹ nghệ cũng đợc ngời tiêu dùng EU u thích.
Nếu sản phẩm đợc sản xuất theo đơn đặt hàng của mùa vụ(hàng lu niệm
phục vụ các sự kiện văn hoá xã hội chẳng hạn), đảm bảo chất lợng, mẩu
mả và thời gian giao hàng, chắc chắn khả năng thâm nhập vào thị trờng
EU sẽ rất lớn. Đấy là điều các doanh nghiệp Việt Nam cần lu ý và nên
hợp tác chặt chẻ với các doanh nghiệp để nắm bắt thông tin thị trờng.
EU thực sự là một thị trờng đầy tiềm năng, với số dân 374,2 triệu ng-
ời với GDP hơn 9000 tỷ USD, đợc xác định là khu vực thị trờng rộng lớn
phát triễn cao. Nhng để hàng hoá của Việt Nam xâm nhập vào thị trờng
này ngày một rộng lớn thì vấn đề mấu chốt ở đây là Việt Nam phải đáp
ứng đợc yêu cầu chất lợng cao của EU, việc Việt Nam có mở rộng đợc th-