Chuyển dịch cơ cấu thị trường xuất khẩu của hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam- Thực trạng và giải pháp - Pdf 17

MỞ ĐẦU
Năm 2007, một năm sau khi Việt Nam chính thức là thành viên thứ
150 của WTO đã đánh dấu bước phát triển vượt bậc của nền kinh tế Việt
Nam nói chung và của ngành dệt may nói riêng. Giá trị sản xuất toàn
ngành tăng một cách nhanh chóng, xuất khẩu hàng dệt may vượt qua dầu
thô vươn lên vị trí số 1trong kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Một năm
dệt may Việt Nam bước ra biển lớn, có điều kiện cạnh tranh một cách công
bằng với các quốc gia và vùng lãnh thổ khác đã đưa Việt Nam vào top 10
nước và vùng lãnh thổ xuất khẩu hàng dệt may lớn nhất thế giới.
Đồng thời, cơ cấu thị trường xuất khẩu của hàng dệt may Việt Nam
cũng có nhiều chuyển biến. Thị trường xuất khẩu chủ lực là ba thị trường:
Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản. Ngoài ra, dệt may Việt Nam cũng đã mở rộng thị
trường sang khu vực châu Phi, Nga, Thổ Nhĩ Kỳ, châu Đại Dương, Đông
Nam Á, Ukraina,… Sự chuyển dịch cơ cấu thị trường xuất khẩu của hàng
dệt may Việt Nam là cần thiết và phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế
thế giới. Vì vậy, em đã lựa chọn đề tài: “Chuyển dịch cơ cấu thị trường
xuất khẩu của hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam- Thực trạng và
giải pháp”. Mục đích nghiên cứu nhằm xác định cơ cấu thị trường xuất
khẩu của hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay,
tổng hợp, phân tích, và đưa ra các giải pháp nhằm chuyển dịch cơ cấu thị
trường xuất khẩu của hàng dệt may xuất khẩu theo hướng có lợi nhất cho
hàng dệt may xuất khẩu, tận dụng tối đa các lợi thế mà Việt Nam vốn có
như: sản phẩm, uy tín, quan hệ ngoại giao, quan hệ kinh tế quốc tế…Từ
đó, giúp dệt may Việt Nam tránh và giảm bớt những tác động do khó khăn
trên thị trường thế giới nói chung và tại các thị trường chủ lực nói riêng
mang lại.
Em xin chân thành cảm ơn sự chỉ bảo tận tình của GS-TS Đặng
Đình Đào đã giúp em nhận thức vấn đề một cách rõ ràng hơn và hoàn
thành Đề án này. Trong bài viết của em còn nhiều thiếu sót do chưa có
kinh nghiệm, em rất mong nhận được sự góp ý của thầy để em có thể
hoàn thiện Đề án hơn nữa.

động xuất khẩu dệt may là hoạt động xuất khẩu chủ lực của Việt Nam mang
2
lại những lợi ích rất to lớn, đặc biệt là với một nước đang phát triển như
nước ta.
2. VAI TRÒ CỦA XUẤT KHẨU DỆT MAY
Dệt may là mặt hàng chủ lực trong chiến lược xuất khẩu của nước ta,
là mặt hàng mà chúng ta có nhiều thế mạnh ( năm 2007, xuất khẩu dệt may
vươn lên vị trí số 1 về xuất khẩu ). Vai trò của việc xuất khẩu hàng dệt may
với một nước đang phát triển như nước ta là rất to lớn và không thể phủ
nhận, cụ thể là:
Xuất khẩu hàng dệt may góp phần tạo nguồn vốn cho công nghiệp hóa-
hiện đại hóa ở nước ta

Công nghiệp hóa-hiện đại hóa là một bước đi tất yếu để phát triển
kinh tế đất nước, đưa nước ta thoát khỏi tình trạng đói nghèo. Sự nghiệp
công nghiệp hóa-hiện đại hóa đòi hỏi một lượng vốn rất lớn để phát triển cơ
sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật và nhập khẩu những máy móc, thiết bị hiện đại.
Nguồn vốn chủ yếu xuất phát từ bản thân nền kinh tế, nhưng cũng có thể lấy
từ các nguồn viện trợ hay đi vay…Tuy nhiên, các nguồn viện trợ hay đi
vay… thường rất khó khăn và đòi hỏi phải hoàn trả sau thời gian nhất định.
Đối với một nền kinh tế bất kỳ, nguồn vốn chủ yếu và quan trọng nhất là
nguồn vốn có được từ xuất khẩu.
Từ nhiều năm nay, hàng dệt may luôn là mặt hàng xuất khẩu chủ lực
của nước ta và trong những năm gần đây kim ngạch xuất khẩu dệt may luôn
đứng ở vị trí thứ hai trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, đóng góp
một phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế đất nước và tạo ra một vốn
lớn( ngoại tệ) để đầu tư vào trang thiết bị máy móc và xây dựng cơ sở hạ
tầng quốc gia. Đặc biệt, trong năm 2007 hàng dệt may xuất khẩu vươn lên vị
trí số 1 trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.
Có thể thấy rằng, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của nước ta tăng

phẩm…Đầu tiên phải nhắc đến việc sản xuất các nguyên phụ liệu như bông,
vải sợi, tơ, …Hiện nay, dù sản xuất nhiều hàng dệt may nhưng nước ta đã và
đang phải nhập khẩu khoảng 70% nhu cầu về nguyên phụ liệu, do vậy, khi
xuất khẩu dệt may càng phát triển chúng ta càng phải cố gắng chủ động về
nguồn nguyên phụ liệu cho sản xuất, từ đó làm tăng giá trị của sản phẩm.
Mặt khác, để phục vụ cho sản xuất ngày càng phát triển thì càng cần
nhiều những máy móc, thiết bị tiên tiến để phục vụ cho việc sản xuất ra
những sản phẩm có chất lượng cao mà chi phí cho phế liệu, phế phẩm ngày
càng thấp. Từ đó, kéo theo sự phát triển của các ngành cơ khí, chế tạo máy.
Hàng dệt may xuất khẩu của nước ta thường xuất khẩu với số lượng lớn, nên
thường chọn vận tải bằng đường biển vì chi phí thấp và có thể vận chuyển
những khối lượng hàng hóa lớn . Vì vậy, mà ngành hàng hải cũng sẽ có
nhiều điều kiện phát triển hơn.
4
Góp phần giải quyết công việc cho người dân và cải thiện đời sống
nhân dân
Ngành dệt may là ngành sản xuất đòi hỏi nhiều nhân lực, cần rất nhiều
những lao động khéo léo và cần cù, mà không đòi hỏi nhiều về trình độ.
Điều này rất phù hợp với đặc điểm của lao động Việt Nam, đặc biệt là lao
động nữ. Số lượng lao động nữ làm việc tại các doanh nghiệp dệt may
thương chiếm trên 80%. Sự tăng nhanh chóng của kim ngạch dệt may xuất
khẩu đã tạo ra một khối lượng việc làm khổng lồ cho nước ta, chủ yếu là cho
những lao động giản đơn ở khu vực nông thôn. Nhiều người lao động có
việc làm, có thu nhập ổn định, từ đó góp phần nâng cao đời sống nhân dân
và giảm bớt được các tệ nạn xã hội.
Xuất khẩu hàng may mặc phát triển tạo điều kiện mở rộng và thúc đẩy
các quan hệ kinh tế đối ngoại
Xuất khẩu và các quan hệ kinh tế có tác động qua lại, phụ thuộc vào
nhau, xuất khẩu cũng chính là một hoạt động kinh tế đối ngoại. Hiện nay,
hàng dệt may của Việt Nam có mặt tại hơn 170 quốc gia và vùng lãnh thổ,

chung và dệt may Việt Nam nói riêng. Kim ngạch xuất khẩu dệt may đã
vươn lên vị trí số 1 sau nhiều năm đứng sau dầu thô. Kể từ khi Hiệp định
thương mại Việt Hoa Kỳ có hiệu lực năm 2002 đến năm 2007 là năm Việt
Nam chính thức là thành viên thứ 150 của WTO, kim ngạch xuất khẩu của
dệt may Việt Nam không ngừng gia tăng một cách nhanh chóng.
Thị trường xuất khẩu của hàng dệt may Việt Nam không ngừng được
mở rộng và gia tăng giá trị. Các thị trường xuất khẩu chủ lực của dệt may
Việt Nam là Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản. Ngoài ra, còn các thị trường khác như:
Đài Loan, Hàn Quốc, Canada, Nga, Nam Phi, Thổ Nhĩ Kỳ…
Năm 2007, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của nước ta tăng mạnh
chủ yếu do xuất khẩu sang Hoa Kỳ bứt phá mạnh mẽ. Theo số liệu thống kê,
kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường Hoa Kỳ năm đạt 4,47 tỷ
USD, tăng 46,65% so với năm 2006, cao hơn nhiều so với mức tăng 16,97%
của năm 2006. Trong 3 thị trường nhập khẩu hàng dệt may lớn nhất của Việt
Nam năm 2007, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ đạt mức tăng
trưởng cao nhất. Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang Hoa Kỳ
tăng từ 52,18% trong năm 2006 lên 57,39% trong năm 2007. Điều này
khẳng định, thị trường Hoa Kỳ đóng vai trò rất to lớn đến sự phát triển của
ngành công nghiệp dệt may nước ta.
EU là thị trường lớn thứ 2 đối với xuất khẩu hàng dệt may nước ta.
Kim ngạch xuất khẩu sang thị trường EU đạt 1,5 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng
kim ngạch xuất khẩu sang EU đạt 19,74%, thấp hơn so với mức 37,46% của
6
năm 2006 nên tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu sang EU giảm từ 21,32% của
năm 2006 xuống 19,14% trong năm 2007.
Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường Nhật Bản năm
2007 tăng 12,14% so với năm 2006, cao hơn nhiều so với mức 3,93% của
năm 2006. Giá trị hàng dệt may xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản đạt 700
triệu USD. Hiện tại, Nhật Bản là thị trường lớn thứ 3, chiếm 9,05% tỷ trọng
kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của nước ta, giảm so với tỷ trọng năm

đánh giá sơ bộ vào 1/7/2007. Thế nhưng, mãi đến 26/10/2007, DOC mới
công bố quyết định “không tiến hành tự khởi động điều tra chống bán phá
giá đối với 5 nhóm hàng: quần, áo sơ mi, đồ chơi, đồ lót, áo len”. Do đó,
trong khoảng thời gian từ 1/1/2007 đến 26/10/2007, cả nhà nhập khẩu Hoa
Kỳ và nhà xuất khẩu Việt Nam đều vừa làm, vừa ngóng.
Thực tế, đã có những phần đơn hàng được nhà nhập khẩu tách ra, dịch
chuyển sang thị trường lân cận để phân tán rủi ro. Cho đến nay, DOC vẫn
chưa đưa ra bất kỳ một hành động cụ thể nào nhằm giảm bớt tiêu cực của cơ
chế giám sát này, như: không giảm bớt số mặt hàng giám sát, không nêu các
tiêu chí, điều kiện làm cơ sở tự khởi kiện điều tra v.v...
Thị trường lớn thứ 2 là EU, chiếm 18% kim ngạch xuất khẩu dệt may
nước ta, cũng sẵn sàng sử dụng biện pháp tự vệ để hạn chế nhập khẩu. Một
yếu tố khác là ngày càng có nhiều sản phẩm dệt may của Trung Quốc bị từ
chối hoặc đòi bồi thường vì không đảm bảo các tiêu chí về an toàn sức khoẻ
và môi trường. Do đó, hàng dệt may những nước đang phát triển như Việt
Nam, cũng nằm trong “tầm ngắm” của EU.
Thị trường lớn thứ 3 là Nhật Bản, chiếm tỷ trọng 10%. Hiện Việt Nam
là nhà xuất khẩu dệt may vào Nhật Bản lớn nhất khối ASEAN, chiếm 34%.
Nhưng, khó khăn nhất là đến nay, Nhật Bản đã giảm thuế suất xuống 0%
cho Xin-ga-po, Ma-lai-xia, In-đô-nê-xia, Bru-nây, Thái-lan vì các bên đã đạt
được thoả thuận tiêu chí xuất xứ (xuất xứ cộng gộp từ Nhật và ASEAN đạt
40%), trong khi đó, hàng dệt may Việt Nam vẫn bị đánh thuế do 80% nguồn
nguyên phụ liệu nhập khẩu ngoài ASEAN và Nhật Bản.
Ngoài những khó khăn về thị trường nước ngoài, ngành dệt may nước
ta còn chịu nhiều áp lực khác. Cụ thể là các mặt hàng nông sản và dầu thô
nước ta có xu hướng giảm sản lượng xuất khẩu do khan hiếm nguồn cung.
Vì thế, gánh nặng xuất khẩu nói chung, dồn sang vai những mặt hàng công
nghiệp chủ lực, trong đó có dệt may. Do đó, bên cạnh việc thực hiện các
biện pháp ứng phó với những khó khăn tại các thị trường chủ lực, ngành dệt
may cần có các giải pháp để hướng thị trường của hàng dệt may xuất khẩu

thị trường xuất khẩu hàng dệt may là các quốc gia có xu hướng bảo hộ trị
trường trong nước bằng các biện pháp phòng vệ theo quy định của WTO và
xây dựng các hàng rào mang tính kỹ thuật, môi trường ngày càng cao. Nhằm
giúp đỡ các doanh nghiệp xuất khẩu, Chính phủ đã có nhiều biện pháp để
các doanh nghiệp không mắc vào các vụ kiện bán phá giá và bị nước sở tại
kiểm soát hàng dệt may xuất khẩu của nước ta. Chính phủ tăng các hoạt
9
động ngoại giao, xúc tiến thương mại, hướng dẫn các doanh nghiệp hiểu và
thực hiện đúng các quy định của nước sở tại, mặt khác tạo điều kiện thuận
lợi cho các doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất… Nhờ vậy, kim ngạch
xuất khẩu những năm gần đây đã đạt những thành tích đáng khích lệ, đặc
biệt là trong năm 2007.
2.2 Tình hình ngoại thương và các chế định có liên quan
Trong những năm vừa qua, tình hình xuất nhập khẩu của nước ta diễn
ra khá nhộn nhịp và thu hút nhiều sự quan tâm của người dân cũng như các
chuyên gia và cả Chính phủ. Cán cân thương mại tiếp tục âm, nhập siêu gia
tăng, đòi hỏi nước ta phải tiếp tục gia tăng xuất khẩu và giảm nhập khẩu. Dệt
may sẽ là mặt hàng xuất khẩu chủ lực đứng ở vị trí số 1 và tiếp tục được
thúc đẩy để phát triển, trong khi đó thì xuất khẩu dầu thô và than đá( nhóm
ngành nguyên nhiên liệu) sẽ tiếp tục giảm kim ngạch xuất khẩu. Theo đó,
dệt may Việt Nam cần tiếp tục tăng xuất khẩu và gia tăng giá trị của sản
phẩm, tiếp tục mở rộng các thị trường mới và nâng cao thị phần tại các thị
trường quen thuộc.
Các chế định có liên quan như chính sách thuế, các hàng rào phi thuế
quan, chính sách tỉ giá hối đoái, cán cân thương mại quốc tế… Những vấn
đề này đặc biệt quan trọng với các mặt hàng xuất khẩu, đặc biệt là với mặt
hàng nhạy cảm như hàng dệt may xuất khẩu. Chẳng hạn, chính sách duy trì
đồng nội tệ ở mức quá cao có thể sẽ không khuyến khích các doanh nghiệp
sản xuất hàng dệt may xuất khẩu, hạn chế khả năng cạnh tranh của hàng dệt
may nước ta.

của ngành công nghiệp sản xuất hàng dệt may xuất khẩu. Hiện nay, nước ta
ngày càng xuất hiện nhiều hơn các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực
sản xuất hàng dệt may xuất khẩu. Điều này tạo ra một môi trường kinh
doanh bên trong khá mạnh mẽ, cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn để giành
đơn hàng, phát hiện và mở rộng các thị trường mới, thị phần tại các thị
trường quen thuộc cũng phải chia sẻ. Các doanh nghiệp kinh doanh trong
lĩnh vực sản xuất hàng dệt may xuất khẩu phải không ngừng hoàn thiện hơn
nữa các sản phẩm của mình và tích cực trong việc tìm kiếm, mở rộng thị
trường. Do đó, cơ cấu thị trường xuất khẩu của hàng dệt may xuất khẩu Việt
Nam sẽ có những thay đổi trong thời gian tới.
11
3.MÔI TRƯỜNG QUỐC TẾ
3.1 Nhân tố về xu hướng phát triển thị trường hàng dệt may thế giới
Trên thế giới, việc sản xuất hàng dệt may đang có xu hướng tiếp tục
chuyển dịch sang các nước có lợi thế hơn về giá nhân công và chi phí sản
xuất. Trước đây, việc sản xuất hàng dệt may được chuyển từ các nước phát
triển sang các nước NICs và hiện nay có xu hướng chuyển dịch sang các
nước đang phát triển.
Theo các chuyên gia đầu ngành thế giới về hàng dệt may, sau nhiều
cuộc thảo luận tại các hội thảo chuyên đề, đã thống nhất xu hướng phát triển
chính trên
thị trường hàng dệt may thế giới: Một là, hàng may mặc theo phong cách
phương tây sẽ tăng lên; hai là, kiểu trang phục công sở sẽ ngày càng phổ
biến; ba là, thẩm mĩ của lứa tuổi trung niên và cao niên được cải thiện; bốn
là, hàng dệt may cho trẻ em làm thay đổi khái niệm về tiêu dùng và thiết kế;
năm là,vải, sợi, phụ liệu, thiết kế, kiểu dáng, kỹ thuật sẽ có những bước đột
phá; sáu là, đồ thể thao vẫn được ưu chuộng; bẩy là, hàng may đo vẫn sẽ
thông dụng. Cùng với các nhận định đó, các chuyên gia cũng đưa ra những
nhận định về xu hướng cạnh tranh trên thị trường hàng dệt may thế giới.
Theo đó, sản phẩm dệt may của các nước đang phát triển ở châu Á gồm

lai-xia, In-đô-nê-xia, Bru-nây, Thái-lan, Cam-pu-chia. Các quốc gia này có
nhiều điều kiện thuận lợi hơn Việt Nam trong việc sản xuất và xuất khẩu
hàng dệt may như: họ sẵn có thị trường tiêu thị, chi phí sản xuất và giá nhân
công không cao, những điều kiện khác phục vụ sản xuất cũng có ưu thế hơn
nước ta. Mặt khác, các nước này hầu hết đã tự túc được những nguyên phụ
liệu có chất lượng cao phục vụ sản xuất hàng dệt mayxuất khẩu nên sản
phẩm có khả năng cạnh tranh cao. Trong khi đó, theo tính toán thì khoảng 10
năm nữa Việt Nam mới có thể tự túc hoàn toàn các nguyên phụ liệu phục vụ
sản xuất hàng dệt mayxuất khẩu
Trung Quốc là đối thủ cạnh tranh lớn nhất thế giới đối với hàng dệt
mayxuất khẩu của Việt Nam, nơi được coi là công xưởng của thế giới trong
thế kỷ 21. So với Việt Nam, giá cả lao động trong ngành dệt may Trung
Quốc thấp hơn, mẫu mã sản phẩm cũng phong phú hơn, công nghệ sản xuất
tiên tiến, chủ động về nguồn nguyên phụ liệu… nên hàng dệt may Trung
Quốc đang tràn ngập trên thế giới và ngay cả tại thị trường Việt Nam, làm
cho hàng dệt may Việt Nam khó có thể cạnh tranh ngay cả trên sân nhà.
3.4 Nhân tố quan hệ kinh tế-thương mại giữa Việt Nam với các nước
Ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa
học công nghệ, xu hướng toàn cầu hóa , khu vực hóa ngày càng sâu rộng thì
quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế -thương mại giữa các quốc gia ngày càng
mạnh mẽ và chặt chẽ hơn. Sự hợp tác trên là điều kiện thúc đẩy nền kinh tế
13
của từng quốc gia phát triển và nền kinh tế thế giới cũng có những biến
chuyển tích cực.
Có vị trí địa lí thuận tiện, Việt Nam được coi là cửa ngõ để các quốc
gia tiến vào thị trường ASEAN và châu Á. Việt Nam là bạn hàng quan trọng
với nhiều quốc gia trong kinh tế-thương mại quốc tế. Do đó, hàng dệt
mayxuất khẩu của Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển và
phát triển thị trường. Việt Nam liên tục mở rộng quan hệ với tất cả các nước
và vùng lãnh thổ: Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Đài Loan, Hồng Kông, châu Phi,

bản thân các doanh nghiệp xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam mới chỉ
chú ý làm hàng gia công cho đối tác nước ngoài mà chưa làm theo chu trình
khép kín: thời trang-thiết kế-thương hiệu. Do đó chúng ta cần phát triển đội
15
ngũ thiết kế thời trang cùng với việc đẩy mạnh các hoạt động sản xuất
thương mại sản phẩm thời trang và xây dựng hình ảnh ngành thời trang Việt
Nam, xây dựng thương hiệu doanh nghiệp và thương hiệu sản phẩm.
Lợi thế cạnh tranh hiện nay của các sản phẩm dệt may của nước ta chủ
yếu là từ lợi thế về nhân công giá rẻ
Lao động trong ngành dệt may không đòi hỏi cao về trình độ kỹ thuật,
mà chủ yếu đòi hỏi sự cần cù, khéo léo. Ngành công nghiệp dệt may cũng sử
dụng rất nhiều lao động, đa số là lao động nữ. Lợi thế về lao động ( nhân
công dồi dào, giá rẻ) có ở hầu hết các nước đang phát triển. Ngành dệt may
nước ta tận dụng khá tốt lợi thế này, nhưng trong tương lai cạnh tranh về giá
cả không được đặt lên hàng đầu thì ngành dệt may Việt Nam sẽ gặp rất
nhiều khó khăn. Do đó, ngay từ bây giờ chúng ta phải tận dụng và tạo ra các
lợi thế khác để nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm như: nguyên
liệu, thiết kế, thời trang, thương hiệu… Có vậy, chúng ta mới có thể cạnh
tranh với sản phẩm dệt may của Trung Quốc .
II. THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY TRONG HỘI NHẬP
KINH TẾ QUỐC TẾ VÀ CƠ CẤU THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU
1.THỜI KỲ TRƯỚC BTA CÓ HIỆU LỰC ( trước 2002)
Năm 1992 là thời điểm vàng, mở ra cơ hội xuất khẩu các sản phẩm
dệt may Việt Nam với việc ký kết Hiệp định buôn bán hàng dệt may với EU.
Từ năm 1993, hàng dệt may Việt Nam bắt đầu tim đường ra thế giới, và đến
năm 1996, lần đầu tiên kim ngạch xuất khẩu vượt ngưỡng 1 tỷ USD (đạt
1,15 tỷ USD). Sản phẩm dệt may từ vị trí khiêm tốn trong các sản phẩm xuất
khẩu chủ lực vào thời điểm trước năm 1990 (chủ yếu xuất khẩu sang Liên
Xô và Đông Âu) đã vươ lên vị trí số 1 trong những năm 1996, 1997 và ổn
định ở vị trí thứ 2 từ năm 1998 đến năm 2006 đạt mức tăng trưởng hàng năm

Năm Xuất khẩu vào EU Tăng (%) So với tổng kn (%)
1994 298 19,2 54,2
1995 355 19,1 47,3
1996 428 20,6 37,2
1997 460 7,5 34,1
1998 546 18,7 40,4
1999 605 10,8 35,96
2000 650 7,4 35,7
* Nguồn: Bộ Thương Mại và Tổng cục Hải Quan
Kim ngạch xuất khẩu sang EU bắt đầu tăng mạnh kể từ khi Hiệp định
buôn bán hàng dệt may được ký tắt vào tháng 12-1992 và liên tục được điều
chỉnh, bổ sung cho từng giai đoạn. Các sản phẩm xuất khẩu chủ lực thời
gian nay là những hàng quen làm, dễ thu lợi nhuận chiếm tới 70% giá trị kim
17
ngạch như: áo Jacket (51,7%), áo sơ mi (11%), quần âu (5%), áo len và áo
dệt kim (3,9%), T-shirt và Polo-shirt (3,4%). Các sản phẩm có yêu cầu phức
tạp, chất lượng cao thì Việt Nam vẫn chưa sản xuất được, hoặc sx với tỉ lệ
rất nhỏ.
Nhật Bản là thị trường nhập khẩu không hạn ngạch về hàng dệt may
lớn nhất thế giới. Với Việt Nam, Nhật Bản là thị trường có kim ngạch nhập
khẩu hàng dệt may lớn thứ hai. Năm 1994,1995, Việt Nam có mặt trong số
10 nước dẫn đầu về xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường này,đến năm
1996 vươn lên vị trí thứ 8, năm 1997 xếp vị trí thứ 7, và từ đó đến năm 2001
giữ vị trí thứ 5.
Bảng 4: Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may vào Nhật Bản 1996-1999
Đơn vị: Tấn, Triệu Yên
1996 1997 1998 1999
SL GT SL GT SL GT SL GT
Dệt kim 299.344 782.147 275.135 770.204 296.950 783.120 349.540 719.312
Dệt thoi 334.608 1.062.748 292.937 995.128 272.126 906.234 331.989 902.649

Hàng dệt may được xuất khẩu tới 170 nước và vùng lãnh thổ, và có sự
biến động lớn về cơ cấu thị trường những năm gần đây theo hướng gia tăng
ở thị trường Hoa Kỳ, giảm ở thị trường EU, Nhật Bản, Đài Loan, Han Quốc.
Thị trường Hoa Kỳ chiếm khoảng 54-56% kim ngạch xuất khẩu hàng dệt
may, EU là 19% ( trước là 30-35%), Nhật Bản 13%, Đài Loan 4%. Trong
nhóm hàng dệt may xuất khẩu thì hàng gia công vẫn chiếm tỷ trọng lớn,
khoảng 90-95%, hàng mua đứt bán đoạn vẫn còn thấp nên lượng ngoại tệ
thực thu không nhiều, hiệu quả thấp. Xuất khẩu hàng dệt may của nước ta đã
và đang phải cạnh tranh với một số nước và vùng lãnh thổ như Trung Quốc(
kim ngạch xuất khẩu 40 tỷ USD, chiếm 20% thị phần thế giới) và Hồng
Kông, Thổ Nhĩ Kỳ, Ấn Độ, Băng la det, Mê hi cô, Căm pu chia.
Nhìn lại quá trình phát triển xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang
thị trường Hoa Kỳ có thể nhận thấy hai mốc dáng nhớ, đó là thời điểm BTA
có hiệu lực ngày 10/12/2001 và thời điểm Việt Nam chính thức trở thành
thành viên của WTO vào đầu năm 2007.
Bảng 6: Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang Hoa Kỳ
(Đơn vị tính: 1.000 USD,)
Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006
Giá
trị
47400 975700 1973600 2474382 2602902 3044579
(Nguồn: Tổng cục Hải quan và Bộ Công Thương Việt Nam)
Bảng thống kê trên cho thấy, xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam
sang thị trường Hoa Kỳ tăng vọt hơn 20 lần ngay năm đầu tiên khi BTA có
hiệu lực (từ 47,4 triệu USD lên 975,7 triệu USD), tiếp đó đều duy trì mức
tăng trưởng đều đặn đến năm 2006. Năm 2006, kim ngạch xuất khẩu đạt
5,834 tỷ USD, chiếm 15% tổng kim ngạch xuất khẩu, tăng trưởng 20,5% so
với 2005. Trong đó, thị trường Mỹ đạt khoảng 3,044 tỷ (chiếm 55%), EU:
1,243 tỷ (20%); Nhật: 628 triệu USD (11%); ASEAN: 107 triệu USD (2%)...
19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status