LỜI NÓI ĐẦU
Thương mại quốc tế đóng một vai trò to lớn trong sự nghiệp phát triển
kinh tế của mỗi quốc gia trên thế giới trong đó xuất khẩu là hoạt động thương
mại cực kỳ quan trọng. Nó cho phép quốc gia khai thác được lợi thế của mình
trong phân công lao động quốc tế tạo nguồn thu ngoại tệ quan trọng cho đất
nước.
Đối với Việt Nam, hoạt động xuất khẩu thực sự có ý nghĩa chiến lược
trong sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế tạo tiền đề vững chắc cho công
cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước và là mũi nhọn ưu tiên trong nền
kinh tế quốc dân.
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX tiếp tục nhấn mạnh tầm
quan trọng của chiến lược “phát triển kinh tế hướng mạnh và xuất khẩu” nhằm
đẩy mạnh tốc độ phát triển nước ta thời kỳ 2001-2010 và thúc đẩy nhanh sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nghị quyết cũng khẳng định xuất
khẩu là một nhân tố quan trọng để hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá ở Việt Nam.
Nhờ hệ thống cơ chế, chính sách của Đảng và Nhà nước được xây dựng
khá hoàn chỉnh và đổi mới, xuất khẩu của nước ta đã đạt được nhiều thành tựu
lớn trong các năm qua. Tuy nhiên, nhìn lại chặng đường đã qua ta thấy những
thành tựu của hoạt động xuất khẩu vẫn còn khá khiêm tốn so với tiềm năng của
đất nước, đặc biệt là khoảng cách so với các nước trong khu vực còn quá lớn. Vì
vậy, việc đề ra kế hoạch xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của nước ta là hết sức
cần thiết nhằm khai thác tối đa lợi thế của đất nước, tạo ra sức cạnh tranh của
hàng hoá Việt Nam và tìm “đầu ra” cho các hàng hoá này.
Với kiến thức đã được học ở trường và quá trình thực tập tại Vụ Kế hoạch
Thống Kê - Bộ Thương mại, tôi xin nghiên cứu đề tài: “Kế hoạch xuất khẩu các
mặt hàng chủ lực của Việt Nam thời kỳ 2001-2005”.
Đề tài gồm 3 chương:
Chương I: Vai trò của xuất khẩu đối với phát triển kinh tế Việt Nam.
Chương II: Tình hình xuất khẩu các mặt hàng chủ lực thời kỳ 1996-2000.
Chương III: Giải pháp thực hiện kế hoạch xuất khẩu các mặt hàng chủ lực
lớn do phải ứng trước ở khâu thu mua và rất có thể gặp rủi ro như hàng hoá
không bán được, thanh toán chậm, lãi suất tiền vay của ngân hàng tăng...
2.2. Hình thức hàng đổi hàng
Hình thức này đã xuất hiện từ rất lâu nhưng nó vẫn còn phổ biến cho đến
ngày nay. Hình thức này tuy nước xuất khẩu không thu được ngoại tệ nhưng lại
bán được hàng hoá của mình và nhận về những hàng hoá khác của nước nhập
khẩu mà mình đang cần. Phạm vi sử dụng hình thức này trong những trường hợp
thích hợp thì nó rất có lợi cho người sản xuất lẫn người xuất khẩu.
2.3. Xuất khẩu gia công uỷ thác
Theo hình thức này đơn vị ngoại thương đứng ra bán nguyên liệu, bán
thành phẩm cho xí nghiệp gia công, sau đó thu hồi thành phẩm để bán lại cho
bên nước ngoài.
Các bước tiến hành gia công uỷ thác như sau:
- Ký kết hợp đồng với bên nước ngoài và nhập nguyên liệu.
- Ký hợp đồng gia công uỷ thác đối với đơn vị trong nước.
- Giao nguyên vật liệu cho bên gia công theo định mức.
- Thanh toán phí gia công cho đơn vị chế biến và nhận chi phí uỷ thác
gia công được nhận.
Hình thức này có ưu điểm là: Không cần bỏ nhiều vốn vào kinh doanh
nhưng vẫn thu được lợi nhuận, rủi ro ít, việc thanh toán bảo đảm vì đầu ra chắc
chắn. Khi xuất khẩu gia công uỷ thác đơn vị có thể xuất khẩu một phần phụ liệu
phục vụ cho quá trình gia công, nhưng điều này đòi hỏi phải làm nhiều thủ tục
xuất khẩu, cán bộ kinh doanh phải dày dặn kinh nghiệm.
2.4. Xuất khẩu tại chỗ
Đây là hình thức xuất khẩu mới nhưng đang được phổ biến rộng rãi. Đặc
điểm của hình thức này là không vượt qua khỏi ranh rới quốc gia. Do vậy, giảm
được chi phí cũng như rủi ro trong quá trình vận chuyển, bảo quản hàng hoá.
Thủ tục xuất khẩu theo hình thức này khá đơn giản, không nhất thiết là
phải có các hợp đồng phụ trợ như hợp đồng vân tải, bảo hiểm hàng hoá, thủ tục
hải quan... Ngoài ra, việc thanh toán cũng tương đối đơn giản, đồng tiền thanh
quan điểm chính trị.
. Thời gian 5 năm là đủ dài để cho một chính sách, chương trình , dự án
bắt đầu bộc lộ các mặt mạnh và mặt yếu.
. Thời gian 5 năm đảm bảo cho tính chính xác của các chỉ tiêu kế hoạch ở
tầm vĩ mô. Những kế hoạch trong phạm vi 5 năm thường chính xác hơn, dễ thực
thi hơn những kế hoạch có thời gian dài hơn.
Kế hoạch 5 năm là sự cụ thể hoá các chiến lược và quy hoạch phát triển
trong lộ trình phát triển dài hạn của đất nước. Nó xác định các mục tiêu, chỉ tiêu
tăng trưởng kinh tế, nâng cao phúc lợi xã hội trong thời kỳ 5 năm và xác định
các cân đối, các chính sách phân bố nguồn lực, vốn chi các chương trình phát
triển của khu vực kinh tế Nhà nước và khuyến khích sự phát triển của khu vực
kinh tế tư nhân.
Kế hoạch 5 năm có một trình độ cụ thể hoá cao hơn so với kế hoạch dài
hạn. Ngoài ra, bằng cách chia ra từng năm, kế hoạch 5 năm vừa bảo đảm sự ăn
khớp với các kế hoạch hàng năm đồng thời vừa là phần chi tiết hoá của kế hoạch
dài hạn trong thời kỳ đầu của nó. Do đó kế hoạch 5 năm là yếu tố liên kết chính
trong hệ thống kế hoạch, điều ấy cũng quyết định vai trò của nó là hình thức chủ
yếu của kế hoạch nhà nước.
2. Sự cần thiết xây dựng kế hoạch 5 năm về xuất khẩu hàng hoá
Hoạt động xuất khẩu là một hoạt động quan trọng của nền kinh tế, nó có
vai trò to lớn đối với sự phát triển kinh tế và đời sống của nhân dân. Do vậy sự
quản lý của Nhà nước đối với hoạt động này cũng là một tất yếu khách quan. Để
thực hiện nội dung quản lý Nhà nước đối với nền kinh tế nói chung, Nhà nước sử
dụng một hệ thống các công cụ quản lý. Trong hệ thống các công cụ quản lý nền
kinh tế nói chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng, kế hoạch 5 năm là một công
cụ quan trọng.
Đối tượng của kế hoạch 5 năm về xuất khẩu là hoạt động xuất khẩu của
các doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân. Kế hoạch xuất khẩu là một bộ
phận quan trọng trong hệ thống kế hoạch hoá phát triển kinh tế xã hội. Nó hướng
các hoạt động xuất khẩu của một quốc gia đi theo một mục tiêu nhất định đồng
trong thời gian tới, từ đó lựa chọn các giải pháp hợp lý để hướng dẫn và điều tiết
hoạt động xuất khẩu và thông qua thị trường đưa kế hoạch vào cuộc sống.
Như vậy, sự vận động của hoạt động xuất khẩu trong cơ chế thị trường
được định hướng và điều tiết của kế hoạch kinh tế quốc dân về xuất khẩu.
Ba là, hoạt động xuất khẩu giữa các nước được tiến hành trên cơ sở tự do,
bình đẳng theo giá cả thị trường. Nếu như trước đây, hoạt động xuất khẩu của
nước ta chủ yếu là với các nước xã hội chủ nghĩa theo các hiệp định Chính Phủ
với những điều kiện ưu đãi thì ngày nay điều đó không còn nữa. Cuộc cách mạng
khoa học kỹ thuật phát triển lực lượng sản xuất với quốc tế hoá nền kinh tế thế
giới lên một trình độ cao. Nền kinh tế thế giới là một thể thống nhất, bao gồm
các nước có chế độ chính trị khác nhau. Tất cả các nước đều muốn mở rộng quan
hệ kinh tế nhưng điều đó phải được tiến hành trên cơ sở tự do, các bên cùng có
lợi. Do đó, kế hoạch hoá kinh tế quốc dân về xuất khẩu làm cho thị trường nước
ta gắn liền với thị trường thế giới, phát huy những ngành, lĩnh vực mà nước ta có
thế mạnh để mở rộng sự hợp tác và phân công lao động với các nước nhằm tăng
nhanh nguồn thu ngoại tệ, thu hút mọi nguồn vốn và tiến bộ kỹ thuật của nước
ngoài để phát triển có hiệu quả nền kinh tế quốc dân.
3. Nội dung của kế hoạch xuất khẩu
Kế hoạch hoá là quá trình hoạt động mang tính tổng hợp, tính liên ngành
từ khâu phân tích, dự báo, xác định mục tiêu, lựa chọn biện pháp thực hiện cho
đến khâu tổ chức thực và kiểm tra. Vì vậy, kế hoạch xuất khẩu gồm các nội dung
chủ yếu sau:
Nội dung của kế hoạch xuất khẩu bao gồm: xác định quy mô, tốc độ xuất
khẩu sản phẩm, danh mục sản phẩm xuất khẩu chủ lực, cơ cấu sản phẩm xuất
khẩu và thị trường xuất khẩu chủ yếu.
3.1. Xác định quy mô và tốc độ tăng của xuất khẩu hàng hoá
Xác định quy mô, tốc độ xuất khẩu phụ thuộc quy mô, tốc độ tăng trưởng
kinh tế và sự biến động trên thị trường quốc tế.
Xác định tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu và tổng kim ngạch xuất khẩu.
Cơ sở để xác định hai chỉ tiêu này dựa vào:
GDP, tốc độ tăng của xuất khẩu so với tốc độ tăng của GDP, kim ngạch xuất
khẩu bình quân (so sáng với chỉ tiêu của nước có nền ngoại thương phát triển).
Từ đó, đánh giá xem hoạt động xuất khẩu có đạt được mục tiêu đề ra và góp
phần vào việc thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội thời kỳ đó hay
không.
Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, mục tiêu của việc xuất
khẩu hàng hoá trước hết là tạo nguồn vốn đảm bảo cho nhu cầu nhập khẩu. Nhập
khẩu hàng hoá đảm bảo cho nhu cầu sản xuất trong nước, do đó cần ưu tiên nhập
khẩu máy móc, thiết bị, nhiên liệu. Mục tiêu thứ hai của nhập khẩu là sự chuyển
dịch cơ cấu ngành, nếu nền kinh tế có được cơ cấu ngành hợp lý, nhu cầu nhập
khẩu sẽ giảm đi. Thứ ba, việc nhập khẩu hàng hoá chủ yếu dựa vào kim ngạch
xuất khẩu, do đó xác định quy mô, tốc độ xuất khẩu cần phải đảm bảo sự tương
quan về quy mô và tốc độ nhập khẩu. Nguyên tắc chung là phải tiến tới cân bằng
được cán cân xuất-nhập khẩu sau đó là xuất siêu. Thực tế, với Việt Nam hiện
nay do danh mục các mặt hàng nhập khẩu và cơ cấu nhập khẩu không hợp lý đã
dẫn đến giá trị và tỷ trọng nhập siêu cao. Do đó, phương hướng phát triển xuất
khẩu trong kế hoạch xuất khẩu tới những bất hợp lý này cần được điều chỉnh.
III. VAI TRÒ CỦA XUẤT KHẨU CÁC MẶT HÀNG CHỦ LỰC ĐỐI
VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM
1. Quan niệm về mặt hàng xuất khẩu chủ lực
Hiện nay, chưa có khái niệm thống nhất nào cho “Mặt hàng xuất khẩu chủ
lực”, mà người ta chỉ mới quan niệm, hiểu theo nhiều cách khác nhau.
Theo quan niệm của Bộ Thương mại, thì mặt hàng xuất khẩu chủ lực là
mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu đạt từ 10000 USD trở lên. Những mặt hàng
này đóng vai trò chủ lực trong hoạt động xuất khẩu của đất nước. Sự thay đổi
kim ngạch của nó có ảnh hưởng đến tổng kim ngạch nói chung của các quốc gia.
Mặt khác các mặt hàng này có nguồn lực để tổ chức sản xuất ổn định với chi phí
hợp lý, có thị trường tiêu thụ tương đối ổn định.
Cần lưu ý là quan niệm mặt hàng xuất khẩu chủ lực khác với quan niệm
mặt hàng xuất khẩu chính mà hiện nay vẫn còn nhiều người nhầm lẫn.
được lợi trong buôn bán.
4. Có khối lượng kim ngạch lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của
đất nước.
Vị trí của mặt hàng xuất khẩu chủ lực không phải là vĩnh viễn. Một mặt
hàng ở thời điểm này có thể được coi là hàng xuất khẩu chủ lực, nhưng ở thời
điểm khác thì không.
Việc xây dựng các mặt hàng xuất khẩu chủ lực có ý nghĩa lớn đối với:
- Mở rộng quy mô sản xuất trong nước, trên cơ sở đó kéo theo việc chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, mở rộng và làm phong phú thị
trường nội địa.
- Tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu.
- Tạo điều kiện giữ vững, ổn định thị trường xuất khẩu và nhập khẩu.
- Tạo cơ sở vật chất để mở rộng các quan hệ hợp tác kinh tế khoa học kỹ
thuật với nước ngoài.
Để hình thành được những mặt hàng xuất khẩu chủ lực Nhà nước cần có
những biện pháp, chính sách ưu tiên hỗ trợ trong việc nhanh chóng có được
những mặt hàng, nhóm hàng xuất khẩu chủ lực. Các biện pháp và chính sách ưu
tiên đó là thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước và xác định chính sách tài
chính... cho việc xây dựng các mặt hàng xuất khẩu chủ lực.
3. Vai trò của xuất khẩu các mặt hàng chủ lực đối với phát triển kinh
tế Việt Nam
3.1. Xuất khẩu các mặt hàng chủ lực tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập
khẩu phục vụ công nghiệp hoá đất nước
Công nghiệp hoá đất nước theo những bước đi thích hợp là con đường tất
yếu để khắc phục tình trạng nghèo nàn và chậm phát triển của nước ta. Để công
nghiệp hoá đất nước trong một thời gian ngắn, đòi hỏi phải có số vốn rất lớn để
nhập khẩu máy móc, thiết bị, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến.
Nguồn vốn để nhập khẩu có thể được hình thành từ các nguồn như:
- Đầu tư nước ngoài.
- Vay nợ, viện trợ.
- Xuất khẩu các mặt hàng chủ lực tạo điều kiện cho các ngành khác có cơ
hội phát triển thuận lợi.
- Xuất khẩu các mặt hàng chủ lực tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêu
thụ góp phần cho sản xuất phát triển và ổn định.
- Xuất khẩu các mặt hàng chủ lực tạo điều kiện mở rộng khả năng cung
cấp đầu vào cho sản xuất, nâng cao năng lực sản xuất trong nước.
- Xuất khẩu các mặt hàng chủ lực tạo ra những tiền đề kinh tế kỹ thuật
nhằm cải tạo và nâng cao năng lực sản xuất trong nước. Điều này muốn nói đến
xuất khẩu các mặt hàng chủ lực là phương tiện quan trọng tạo ra vốn và kỹ thuật,
công nghệ từ thế giới bên ngoài vào Việt Nam nhằm hiện đại hoá nền kinh tế của
Việt Nam tạo ra một năng lực sản xuất mới.
- Thông qua việc xuất khẩu các mặt hàng chủ lực, hàng hoá của ta sẽ tham
gia vào cuộc cạnh tranh trên thị trường thế giới về giá cả, chất lượng. Cuộc cạnh
tranh này đòi hỏi chúng ta phải tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu sản xuất
luôn được thích nghi với thị trường.
3.3. Xuất khẩu các mặt hàng chủ lực tạo điều kiện giữ vững ổn định thị
trường xuất khẩu của một quốc gia, đóng vai trò quan trọng trong việc tăng
nhanh kim ngạch xuất khẩu của một đất nước. Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực
là các mặt hàng cho phép tận dụng được các lợi thế của đất nước đó. Từ đó sẽ
làm cho các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp cũng như của toàn bộ
nền kinh tế có hiệu quả hơn. Các lợi thế cần khai thác đó là nguồn lao động dồi
dào, cần cù, chịu khó, giá thuê rẻ, nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, vị trí
địa lý thuận lợi...
Đối với một đất nước không nhất thiết phải sản xuất ra đầy đủ sản phẩm
mà mình cần. Thông qua hoạt động xuất khẩu họ có thể tập trung vào một vài
loại mà họ có lợi thế, sau đó trao đổi để có được những thứ mà họ cần. Rõ ràng ở
đây ta thấy vai trò của các mặt hàng xuất khẩu chủ lực trong việc thúc đẩy quá
trình chuyên môn hoá sản xuất, giúp các nước khai thác được lợi thế của mình,
tạo điều kiện cho mỗi quốc gia tiến hành chuyên môn hoá sâu.
3.4. Xuất khẩu các mặt hàng chủ lực có tác động tích cực đến việc giải
vậy việc hình thành một hệ thống các biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu trở thành
công cụ quan trọng nhất để chiếm lĩnh thị trường nước ngoài. Nhà nước đã và
đang thực hiện các biện pháp thúc đẩy các ngành kinh tế hướng theo xuất khẩu.
Việc xây dựng các mặt hàng xuất khẩu chủ lực là một biện pháp lớn mà Nhà
nước ta đã và đang áp dụng để tạo nguồn hàng và cải biến cơ cấu xuất khẩu.
Năm 1991 nước ta mới chỉ có 4 mặt hàng xuất khẩu chủ lực: đó là dầu thô,
thuỷ sản, gạo và hàng dệt may. Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam
thời kỳ 1991-1995 là: cao su, cà phê, chè, gạo, hạt điều (quy điều thô) hạt tiêu,
dầu thô, thuỷ sản, hàng dệt may, than đá. Từ năm 1996, Việt Nam xuất khẩu
nhân điều thay cho việc xuất khẩu hạt điều thô trước đây. Hàng điện tử và linh
kiện máy tính là mặt hàng xuất khẩu chủ lực mới của Việt Nam từ năm 1996.
Đến năm 2000 số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam đã tăng lên 12 mặt
hàng. Đó là: Dầu thô, thuỷ sản, gạo, dệt may, giầy dép, cà phê, cao su, nhân điều,
than đá, hàng thủ công mỹ nghệ, hàng điện tử và linh kiện máy tính, rau quả.
Theo thống kê của Bộ Thương mại hiện nay, Việt Nam có những mặt
hàng xuất khẩu chủ lực sau:
Biểu 1
Đơn vị: triệu USD
Số thứ tự Mặt hàng Kim ngạch xuất khẩu
năm 2000
1 Dầu thô 3501
2 Dệt may 1892
3 Thuỷ sản 1479
4 Giày dép 1465
5 Hàng điện tử và linh kiện máy tính 783
6 Gạo 668
7 Cà phê 501
8 Hàng thủ công mỹ nghệ 237
9 Chè 48
10 Hạt điều 167
Biểu2
Đơn vị tính: Triệu USD theo giá hiện hành (năm 1999)
Năm Trị giá
xuất khẩu
Tốc độ
tăng xuất
khẩu (%)
Tốc độ
tăng GDP
(%)
GDP Xuất khẩu
so GDP
(%)
1996 7.255 33,1 9,3 23.880 30,4
1997 9.185 26,6 8,2 25.840 35,5
1998 9.361 1,9 5,8 27.340 34,2
1999 11.540 23,3 4,8 28.650 40,3
2000 14.455 25,3 6,7 30.570 47,3
Nguồn: Vụ kế hoạch thống kê-Bộ thương mại.
II. KẾT QUẢ XUẤT KHẨU CÁC MẶT HÀNG CHỦ LỰC
Năm 1991 nước ta mới chỉ có 4 mặt hàng xuất khẩu chủ lực đạt kim ngạch
100 triệu USD trở lên là dầu thô, thuỷ sản, gạo, dệt may; mặt hàng đạt kim ngạch
cao nhất là dầu thô cũng chỉ đạt 581 triệu USD. Đến năm 2000 số mặt hàng xuất
khẩu chủ lực đã tăng lên 12 mặt hàng,tăng thêm 7 mặt hàng mới là cà phê, cao
su, điều, giày dép, than đá, hàng điện tử, hàng thủ công mỹ nghê. Trong số các
mặt hàng xuất khẩu chủ lực đã có 4 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu từ 1-1,3
tỷ USD/năm là thuỷ sản, giày dép, dệt may, dầu thô và 3 mặt hàng khác đạt xấp
xỉ 500 triệu đến gần 1 tỷ USD/năm như cà phê, hàng điện tử, gạo.
Vài năm gần đây nổi lên một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực có mức thị
trường hàng năm rất cao là: giày dép, dệt may, điện tử, nhân điều, chè, gạo. Có
1997
Thứ tự
năm
1998
Thứ tự
năm
1999
Thứ tự
năm
2000
Tỷ
trọng
năm
1998
Tỷ trọng
năm
1997
Indonesia 14 01 01 03 25.3 1.8
Philippines 05 02 03 02 13.2 8.1
Singapore 03 03 02 06 11.3 8.9
Thụy Sĩ 01 04 05 11 10.5 22.5
Irắc 06 05 04 01 8.2 7.2
Hà Lan 02 06 13 22 4.2 9.4
Mỹ 04 07 18 09 4.1 8.6
Nguồn: Vụ kế hoạch thống kê-Bộ Thương Mại.
Sự thiếu vắng của thị trường Châu Phi không nhất thiết thể hiện sức cạnh
tranh kém của gạo Việt Nam bởi với chi phí sản xuất (trong đó có chi phí nhân
công) không cao, khả năng thâm canh tăng vụ tốt, năng suất bình quân khá (36,8
tạ/ha so với 24,2 tạ/ha của Thái Lan) gạo của Việt Nam có thể cạnh tranh tốt trên
mọi thị trường, đặc biệt là thị trường gạo phẩm cấp thấp. Điểm yếu của Việt
Việc trực tiếp xuất khẩu gạo sang Châu Phi gặp khó khăn là do khả năng
thanh toán của bạn hàng. Để giải quyết vấn đề này, trước mắt vẫn phải dựa vào
các nước và các tổ chức cung cấp viện trợ cho Châu Phi nhưng có thể thăm dò
một hướng đi mới là đổi hàng.
2. Cà phê
Khối lượng cà phê xuất khẩu thời kỳ 1996-2000 đạt 2,2 triệu tấn, về giá trị
đạt 2.600 triệu USD, bằng 107% về luợng và 105,6% về giá trị so với kế hoạch
đề ra, tăng gấp 2,3 lần so với thời kỳ 1991-1995. Năm 1996 xuất khẩu cà phê đạt
283.000 tấn, năm 2000 xuất khẩu 680.000 tấn, tăng 1,86 lần so với năm 1996.
Giá bình quân thời kỳ 1996-2000 là 1.106,7 USD/tấn, thấp hơn giá bình
quân thời kỳ 1991-1995 (1.585 USD/tấn)
Xu thế cung cà phê lớn hơn nhu cầu trong nhiều năm làm giá cà phê có xu
hướng ngày càng giảm.
Thị trường xuất khẩu cà phê của Việt Nam chủ yếu là EU, Thụy Sĩ, Hoa
Kỳ, Singapore, Thái Lan, Nhật Bản... cà phê của Việt Nam nói chung có sức
cạnh tranh trên thị trường thế giới, do chất lượng tốt và có hiệu quả với người
sản xuất cà phê do năng suất cao (gấp 2-3 lần so với các nước trồng cà phê trong
khu vực)
Việt Nam đã vượt qua Uganda và Indonesia để trở thành nước xuất khẩu
cà phê robusta lớn nhất thế giới. Nếu tính tất cả các chủng loại cà phê thì Việt
Nam đã vượt Mexico để chiếm vị trí thứ 3, chỉ sau Braxin và Colombia. Tỷ trọng
của Việt Nam trong thương mại cà phê quốc tế hiện nay khoảng 10%.
Biểu sau đây cho thấy bước tiến vượt bậc của cà phê Việt Nam trong các
năm từ 1996 đến 2000 (vụ mùa cà phê được tính từ tháng 10 năm trước đến hết
tháng 9 năm sau):
Biểu 4
Niên vụ
Sản lượng xuất
khẩu
(tấn)