tiểu luận giải pháp phát triển nghiệp vụ bao thanh toán tại các ngân hàng thương mại của việt nam - Pdf 13

TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
HỆ
ĐÀO
TẠO SAU ĐẠI
HỌC

NGHIỆP VỤ NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI

Đề tài:
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ BAO THANH
TOÁN TẠI CÁC NHTM CỦA VIỆT NAM

GVHD: PGS.TS Trầm Thị Xuân Hƣơng
Khóa 22 – Lớp Đêm 1 – Nhóm 9 TP.HCM, Tháng 01 năm 2014
Danh sách nhóm
1. Bùi Thị Thu

2.1.1. Kinh nghiệm thành công của Pháp 15
2.1.2. Kinh nghiệm thành công của Đức 15
2.1.3. Kinh nghiệm thành công của Mỹ 15
2.1.4. Kinh nghiệm của Trung Quốc 16
2.1.5. Kinh nghiệm của Nga 16
2.1.6. Kinh nghiệm Ấn độ 16
2.1.7. Kinh Nghiệm của Nhật Bản 17
2.1.8. Kinh nghiệm của Đài Loan 17
2.1.9. Kinh nghiệm Thái Lan 17
2.2. Thực trạng hoạt động bao thanh toán tại các NHTM Việt Nam: 18
2.2.1. Dịch vụ bao thanh toán tại một số ngân hàng tại Việt Nam 19
2.2.2Đánh giá về hoạt động bao thanh toán của NHTM tại VN: 27
2.3 Nguyên nhân và tồn tại khi thực hiện nghiệp vụ bao thanh toán tại Việt Nam: 28
2.3.1 Khung pháp lý 28
2.3.2 Số lƣợng khách hàng tham gia nghiệp vụ BTT còn khiêm tốn 31
2.3.3 Trình độ hiểu biết về luật pháp, điều ƣớc và tập quán quốc tế 33
2.3.4 Quan hệ với thị trƣờng nƣớc ngoài còn hạn chế 33
CHƢƠNG III: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BAO THANH TOÁN TẠI CÁC NHTM CỦA VIỆT
NAM 34
3.1. Giải pháp về mặt vĩ mô 34
3.1.1. Nhanh chóng hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động bao thanh toán. 34
3.1.2. Xây dựng trung tâm điều tiết quản lý thông tin tín dụng, đánh giá chất lƣợng các bên nhằm
cung cấp những thông tin xác thực cho các đơn vị BTT. 37
3.2. Giải pháp vi mô 37
3.2.1. Xây dựng sản phẩm phù hợp và chiến lƣợc marketing 38
3.2.2. Chính sách hỗ trợ về giá và phí khi tham gia hình thức BTT 39
3.2.3. Xây dựng quy trình lựa chọn và kiểm soát bên bán 40
3.2.4. Xây dựng quy trình lựa chọn và kiểm soát bên mua 43
3.2.5. Quá trình quản lý khách hàng 45
3.2.6. Quản lý các khoản phải thu 45

Theo điều 1 – Những quy định chung về hoạt động bao thanh toán quốc tế ấn bản
tháng 06/2004 của FCI (General Rules for International Factoring Version June 2004),
hợp đồng bao thanh toán là hợp đồng, theo đó nhà cung cấp sẽ chuyển nhƣợng các khoản
phải thu (hay một phần của các khoản phải thu) cho một đơn vị bao thanh toán, có thể vì
hoặc không vì mục đích tài trợ, để thực hiện ít nhất một trong các chức năng sau: kế toán
sổ sách các khoản phải thu…
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ BAO THANH TOÁN TẠI CÁC NHTM CỦA VIỆT NAM

2

1.1.2.2. Theo công ƣớc UNIDROIT
Điều 2 Chƣơng I Công ƣớc UNIDROIT về bao thanh toán quốc tế (UNIDROIT
Convention on International Factoring) còn bổ sung thêm một chức năng nữa của bao
thanh toán là tài trợ cho ngƣời bán, bao gồm việc cho vay lẫn việc cung ứng tiền thanh
toán trƣớc.
1.1.2.3. Theo quyết định số 1096/2004/QĐ – NHNN
Bao thanh toán là một hình thức cấp tín dụng của tổ chức tín dụng cho bên bán hàng
thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc mua, bán hàng hóa đã đƣợc
bên bán hàng và bên mua hàng thỏa thuận trong hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng
dịch vụ.
1.1.2.4. Theo quan điểm nhà nghiên cứu
Từ những định nghĩa, quan điểm của các tổ chức trong và ngoài nƣớc, ta có thể thấy
bao thanh toán đƣợc hiểu nhƣ sau:
Một là, bao thanh toán là hình thức cấp tín dụng ngắn hạn của các tổ chức tín dụng.
Theo đó, hoạt động bao thanh toán phải gắn trực tiếp với chức năng tài trợ tín dụng, các
nghiệp vụ quản lý sổ sách, quản lý thu nợ không đƣợc coi là một chức năng độc lập trong
hoạt động bao thanh toán.
Hai là, hoạt động bao thanh toán dựa trên quan hệ về quyền mua bán quyền tài sản
và quyền đòi nợ, trong đó quyền đòi nợ là một loại tài sản đƣợc xác định từ một giao dịch
thƣơng mại cụ thể nên khi thực hiện bao thanh toán, đơn vị bao thanh toán phải tiến hành

Bao thanh toán xuất nhập khẩu là hình thức cấp tín dụng của ngân hàng thƣơng mại
hay một công ty tài chính chuyên nghiệp cho bên bán hàng thông qua việc mua lại các
khoản phải thu phát sinh từ việc mua bán hàng hóa đã đƣợc bên bán hàng và bên mua
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ BAO THANH TOÁN TẠI CÁC NHTM CỦA VIỆT NAM

4

hàng hóa thỏa thuận trong hợp đồng mua bán hàng hóa, mà việc mua bán hàng hóa vƣợt
ra khỏi phạm vi một quốc gia.
1.1.3.3. Phân loại theo phƣơng thức bao thanh toán
a) Bao thanh toán từng lần
Bao thanh toán từng lần là hình thức đơn vị bao thanh toán và bên bán hàng thực
hiện các thủ tục cần thiết và kí kết hợp đồng bao thanh toán đối với các khoản phải thu
của bên bán hàng.
b) Bao thanh toán hạn mức
Bao thanh toán hạn mức là hình thức đơn vị bao thanh toán và bên bán hàng thỏa
thuận và xác định một hạn mức bao thanh toán duy trì trong một khoảng thời gian xác
định.
c) Đồng bao thanh toán
Đồng bao thanh toán là hình thức hai hay nhiều đơn vị bao thanh toán cùng thực
hiện hoạt động bao thanh toán cho một hợp đồng mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ,
trong đó một đơn vị bao thanh toán làm đầu mối thực hiện việc tổ chức đồng bao thanh
toán.
1.1.3.4. Căn cứ vào cách thức thực hiện
a) Phương thức thực hiện truyền thống
Bao thanh toán theo phƣơng thức truyền thống là hình thức bên bán và bên mua sẽ
liên hệ với đơn vị bao thanh toán để biết chắc rằng đơn vị bao thanh toán có mua lại các
khoản phải thu cho bên bán hàng hay không trƣớc khi thực hiện mua bán theo thỏa thuận
trong hợp đồng mua bán.
b) Phương thức thực hiện phi truyền thống

(6) Ngƣời bán giao hàng cho ngƣời mua theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng mua
bán hàng hóa.
(7) Ngƣời bán chuyển giao bảng kê kèm bản gốc (hoặc bản sao có của cơ quan có
thẩm quyền) hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; chứng từ mua bán hàng hóa,
cung ứng dịch vụ và các giấy tờ khác liên quan đến các khoản phải thu cho đơn vị bao
thanh toán.
(8) Đơn vị bao thanh toán ứng trƣớc một phần tiền cho ngƣời bán theo thỏa thuận
trong hợp đồng bao thanh toán.
(9) Khi đến hạn thanh toán, đơn vị bao thanh toán tiến hành thu hồi nợ từ ngƣời
mua.
(10) Ngƣời mua thanh toán tiền hàng cho đơn vị bao thanh toán.
(11) Sau khi đã thu hồi tiền hàng từ phía ngƣời mua, đơn vị bao thanh toán thanh
toán nốt tiền chuyển nhƣợng khoản phải thu cho ngƣời bán.
1.1.4.2. Hệ thống hai đơn vị bao thanh toán
Sơ đồ 2: Hệ thống hai đơn vị bao thanh toán

Hệ thống hai đơn vị thanh toán thƣờng sử dụng trong bao thanh toán quốc tế (xuất
nhập khẩu hàng hoá). Sau đây là quá trình thực hiện của hệ thống này:
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ BAO THANH TOÁN TẠI CÁC NHTM CỦA VIỆT NAM

7

(1) Ngƣời bán và ngƣời mua tiến hành thƣơng lƣợng trên hợp đồng mua bán hàng
hóa, cung ứng dịch vụ.
(2) Ngƣời bán đề nghị đơn vị bao thanh toán xuất khẩu tài trợ với tài sản đảm bảo
chính là khoản phải thu trong tƣơng lai từ hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ.
(3) Đơn vị bao thanh toán xuất khẩu đề nghị đơn vị bao thanh toán nhập khẩu cùng
thực hiện hợp đồng bao thanh toán.
(4) Đơn vị bao thanh toán nhập khẩu thực hiện phân tích các khoản phải thu, tình
hình hoạt động và khả năng tài chính của bên mua hàng.

kinh doanh phát triển.
Bao thanh toán là một quá trình chuyển hóa các khoản phải thu thành tiền mặt. Đối
với bất kỳ một ngƣời bán nào, tiền mặt là quyền lực và sức mạnh. Không có tiền mặt,
ngƣời bán không thể tồn trữ nhiều hàng hơn, cũng không có tiền để trả lƣơng cho công
nhân viên. Bao thanh toán không phân biệt khách hàng là ai, đó có thể là một công ty in
ấn, một cửa hàng bán công cụ máy móc, một nhà máy dệt may, một doanh nghiệp kinh
doanh trong lĩnh vực thƣơng mại dịch vụ hay bất cứ một chủ thể nào của nền kinh tế. Mỗi
một đơn vị bao thanh toán, với kinh nghiệm dày dạn trong rất nhiều lĩnh vực, sẽ là một
cộng tác đắc lực hỗ trợ cho công việc làm ăn của khách hàng ngày càng thuận lợi và phát
triển hơn.
Ngƣời bán có thể yên tâm vì các đơn vị bao thanh toán hoàn toàn có đủ năng lực
chuyên môn, hệ thống mạng lƣới rộng khắp cũng nhƣ là sự hiểu biết thông thái về từng
lĩnh vực chuyên môn để có thể thực hiện tốt công việc của mình.
Ở một số tổ chức bao thanh toán chuyên nghiệp, ngƣời bán thậm chí có thể nhận
đƣợc tiền ngay trong ngày đề nghị bao thanh toán. Nói một cách ngắn gọn, các tổ chức
bao thanh toán giúp ngƣời bán lấp đƣợc lỗ hỗng thiếu hụt tiền mặt trong khoảng thời gian
từ khi giao hàng đến khi đƣợc ngƣời mua thanh toán.
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ BAO THANH TOÁN TẠI CÁC NHTM CỦA VIỆT NAM

9

Thứ hai, điều kiện cấp tín dụng thương mại dễ dàng, hấp dẫn làm mãi lực tăng
mạnh, từ đó nhà cung cấp nguyên vật liệu đầu vào càng sẵn sàng hỗ trợ nhiều hơn.
Là một đối tác tài chính, các tổ chức bao thanh toán sẽ đem lại cho ngƣời bán nguồn
lực tài chính để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, tồn trữ thêm nhiều hàng tồn kho,
cung ứng nhiều đơn hàng hay chỉ đơn giản là tìm kiếm các cơ hội làm ăn mới. Các tổ
chức bao thanh toán luôn khẳng định mình sẽ luôn sát cánh với khách hàng, thấu hiểu
mọi nhu cầu của họ, và thiết lập một chƣơng trình hỗ trợ tài chính để giúp đỡ họ.
Rất nhiều chủ thể kinh tế rơi vào tình trạng càng phát triển kinh doanh lại càng thiếu
tiền. Khi đó, bao thanh toán sẽ là phƣơng tiện rất hiệu quả giúp họ vƣợt qua khó khăn.

Thứ ba, nâng cao hiệu quả hoạt động nhờ chuyên môn hóa sản xuất.
Bên cạnh việc sản xuất kinh doanh mặt hàng chính yếu, ngƣời bán còn phải mất
thời gian quản lý các khoản phải thu từ ngƣời mua. Nếu ngƣời bán sử dụng bao thanh
toán, công việc này sẽ đƣợc chuyển cho đơn vị bao thanh toán. Ngƣời bán không còn
phải tốn chi phí để duy trì và điều hành một bộ phận chuyên trách việc xem xét khách
hàng có đủ điều kiện mua chịu hay không, cũng nhƣ phải kiểm tra và thu hồi các khoản
nợ này nữa. Với kinh nghiệm, nguồn lực vật chất và nguồn nhân lực đƣợc đào tạo bài bản
của mình, các tổ chức bao thanh toán sẽ giải quyết nhanh chóng, chuyên nghiệp và hiệu
quả mọi vấn đề liên quan đến các hóa đơn và việc thu hồi nợ. Châm ngôn của các tổ chức
bao thanh toán lúc này là “Hãy để chúng tôi làm những việc mà chúng tôi làm tốt nhất,
còn bạn, hãy làm những việc mà bạn làm tốt nhất !Chúng ta hãy cùng là đối tác tốt của
nhau.”
b) Đối với ngƣời mua
Thứ nhất, nhà nhập khẩu có thể giảm gánh nặng tài chính: do việc nhà nhập khẩu
không phải mở thƣ tín dụng, không phải trả phí mở thƣ tín dụng, hay không phải ký
quỹ…
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ BAO THANH TOÁN TẠI CÁC NHTM CỦA VIỆT NAM

11

Thứ hai, nhà nhập khẩu được chủ động đối với hàng hóa: đƣợc nhận hàng và sử
dụng hàng mà chƣa cần phải thanh toán tiền ngay, và chỉ phải thanh toán tiền hàng khi
hàng đáp ứng đƣợc các yêu cầu của hợp đồng mua bán.
Thứ ba, nhà nhập khẩu đơn giản hóa thủ tục thanh toán: nhờ tập trung thanh toán
về một đầu mối là ngân hàng
Thứ tư, nhà nhập khẩu có thể mua hàng với điều kiện tài khoản ghi sổ nhƣ: mua
giao hàng ngay, mua trả chậm, và nhà nhập khẩu có cơ hội đàm phán điều khoản mua
hàng tốt hơn. Hình thức này hỗ trợ rất lớn cho các nhà nhập khẩu về khả năng thanh
khoản cũng nhƣ hoạt động ngân quỹ.
Thứ năm, nhà nhập khẩu cũng giảm được công sức và chi phí trong việc quản lý sổ

luật phá sản và kinh nghiệm quản lý. Đối với những quốc gia này, sự hạn chế về pháp
luật, hành lang pháp luật chƣa vững chắc và trình độ quản lý yếu kém là trở ngại lớn cho
hoạt động giao thƣơng trong và ngoài nƣớc. Đặc biệt là trong giao thƣơng quốc tế, các
bên bán rất hạn chế giao dịch đối với bên mua tại các quốc gia có luật thƣơng mại yếu
kém vì cơ sở giao dịch không đƣợc bảo đảm. Điều này cũng đồng nghĩa với sự phát triển
của quốc gia đó có nhiều hạn chế, sự hấp dẫn đầu tƣ cũng giảm sút. Thông qua việc thực
hiện BTT, vấn đề này đƣợc cải thiện rất nhiều. Với vai trò hoạt động của mình, các đơn
vị BTT phải có trách nhiệm tƣ vấn, kiểm tra các nghiệp vụ mua bán chung nhằm bảo đảm
có thể kiểm soát theo dõi khoản phải thu trong tƣơng lai đƣợc chặt chẽ và loại trừ đƣợc
nợ xấu. Điều này cũng góp phần cải thiện hình ảnh của bên mua tại những quốc gia có
luật thƣơng mại yếu kém đối với bên bán, nhờ vào sự đảm bảo về mặt tài chính và uy tín
của các đơn vị BTT (thông thƣờng là các ngân hàng hay các công ty tài chính chuyên
nghiệp).
1.1.5.2. Rủi ro khi thực hiện bao thanh toán
BTT là hình thức thanh toán không cần sử dụng hối phiếu hay thƣ tín dụng, hai bên
mua bán chỉ cần ký hợp đồng với nhau với điều khoản thanh toán thông qua tổ chức BTT
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ BAO THANH TOÁN TẠI CÁC NHTM CỦA VIỆT NAM

13

hoặc ngân hàng. Khi thực hiện bất cứ một nghiệp vụ nào cũng có rủi ro riêng của nó, khi
thực hiện BTT, các rủi ro đối với ngƣời bán, đơn vị thực hiện BTT là không thể tránh
khỏi. Các rủi ro này có thể nhận thấy từ các bên nhƣ:
a) Rủi ro đối với người bán
Trong nghiệp vụ BTT miễn truy đòi, ngƣời bán hầu nhƣ không chịu rủi ro phát sinh
vì đã bán toàn bộ khoản nợ cho ngân hàng. Trong nghiệp vụ BTT có truy đòi thì ngƣời
bán vẫn còn chịu trách nhiệm hay chịu rủi ro từ phía ngƣời mua. Khi ngƣời mua mất khả
năng thanh toán, ngƣời mua có trách nhiệm hoàn lại số tiền đã ứng trƣớc từ phía đơn vị
BTT.
b) Rủi ro đối với đơn vị bao thanh toán

Một thực tế hiện nay là: bao thanh toán trên thế giới hiện nay vẫn chủ yếu là bao thanh
toán trong nƣớc với tỷ trọng BTT trong nƣớc luôn chiếm tỷ trọng lớn. Năm 2001 doanh
số bao thanh toán trong nƣớc mới có 664.659 triệu EUR nhƣng con số này đã tăng gần
gấp hai lần lên con số 1.153.131 triệu EUR vào năm 2007. Tuy nhiên bao thanh toán
quốc tế trên thế giới tuy chiếm một tỷ trọng nhỏ nhƣng lại phát triển nhanh chóng năm
2007 so với năm 2001 gấp 3.5 lần từ 41.023 triệu EUR năm 2001 lên con số 145.996
triệu EUR năm 2007. Các các nƣớc có doanh số BTT lớn nhất năm 2007 bao gồm: Anh
(286.496 triệu EUR),Ý (122.800 triệu EUR), Pháp (1210660 triệu EUR), Mỹ (97.000
triệu EUR), Nhật (89.000 triệu EUR)…
BTT đã không ngừng phát triển ở các nƣớc phát triển mà còn đang lan rộng qua các nƣớc
đang phát triển cho thấy một quy luật tất yếu, BTT sẽ càng ngày đƣợc sử dụng trong
thanh toán trong nƣớc cũng nhƣ xuất – nhập khẩu.
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ BAO THANH TOÁN TẠI CÁC NHTM CỦA VIỆT NAM

15

2.1.1. Kinh nghiệm thành công của Pháp
Các công ty bao thanh toán là công ty con của ngân hàng thì có lợi thế hơn trên thị
trƣờng. Các công ty con của tập đoàn ngân hàng và các tổ chức tài chính nƣớc ngoài cũng
đang dần dần chiếm lĩnh thị phần. Bao thanh toán ở Pháp chủ yếu để đáp ứng nhu cầu
của tập đoàn lớn và các công ty vừa và nhỏ trong kinh doanh với các nƣớc Châu Âu khác.
Trƣớc đây, nghiệp vụ bao thanh tập trung chủ yếu vào các công ty có số nhân công từ 50
đến 200 ngƣời, nhƣng bây giờ đã mở rộng áp dụng cho tất cả các phân đoạn khác của thị
trƣờng. Các công ty vừa và nhỏ là khách hàng mục tiêu của bao thanh toán trong nƣớc.
Tuy nhiên, chiến lƣợc của các công ty bao thanh toán Pháp bây giờ chuyển sang những
công ty lớn có khối lƣợng xuất khẩu lớn. Hệ thống hai đại lý cạnh tranh bởi nghiệp vụ
bao toán xuất khẩu trực tiếp.
2.1.2. Kinh nghiệm thành công của Đức
Nghiệp vụ bao thanh toán tập trung vào các doanh nghiệp có quy mô vừa. Theo luật
của Đức, bao thanh toán chỉ đƣợc áp dụng hình thức miễn truy đòi. Sự phát triển của

bao thanh toán ra áp dụng để đẩy mạnh thanh toán nhƣng không thành công. Năm 1998,
một số ngân hàng có tiếng của Nga bƣớc đầu thâm nhập thị trƣờng này. Tuy đã thất bại vì
hai lý do chính: (i) Các ngân hàng này đã coi nghiệp vụ bao thanh toán nhƣ một phƣơng
thức thay thế cho tín dụng thƣ hoặc một cơ chế tài trợ ngoại thƣơng bất kỳ; (ii) Vào thời
điểm đó, nền kinh tế Nga giữ chính sách đồng Rúp giá trị cao, khiến cho dầu khí là ngành
duy nhất còn có thể chịu đựng đƣợc tỷ giá nhƣ vậy và duy trì xuất khẩu có lãi. Hiện nay
mặc dù bao thanh toán nhập khẩu có cơ hội phát triển nhƣng các ngân hàng lại không
dám chấp nhận một phƣơng thức có vẻ kém phần đảm bảo hơn các phƣơng thức truyền
thống.
2.1.6. Kinh nghiệm Ấn độ
Đạo luật về nghiệp vụ bao thanh toán các khoản nợ theo hóa đơn thƣơng mại và
công nghiệp của Ấn Độ đƣợc ban hành, quy định quyền của các đơn vị bao thanh toán là
ngƣời đƣợc chuyển nhƣợng khoản nợ và đƣợc pháp luật bảo vệ. Các ngành phụ tùng ô tô,
hóa chất, giấy và bao bì, dệt may, thƣơng mại, phần cứng máy tính, điện, điện tử… là
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ BAO THANH TOÁN TẠI CÁC NHTM CỦA VIỆT NAM

17

khách hàng chính sử dụng nghiệp vụ bao thanh toán. Những nguyên nhân khiến cho
nghiệp vụ thanh toán Ấn Độ chƣa phát triển mạnh là: (i) Đơn vị bao thanh toán chƣa tiếp
cận đƣợc với bảo hiểm tín dụng để dựa vào đó cung cấp nghiệp vụ thanh toán miễm truy
đòi cho khách hàng; (ii) khuôn khổ Luật Ấn Độ chƣa mua buộc đƣơc ngƣời mua phải
thanh toán tiền hàng cho công ty bao thanh toán; (iii) Các ngân hàng có thái độ coi các
đơn vị bao thanh toán là đối thủ cạnh tranh của họ (iv) Các đơn vị bao thanh toán phải
vay vốn của ngân hàng để tài trợ nên chi phí nghiệp vụ bao thanh toán cao hơn phí các
dịch vụ ngân hàng khác.
2.1.7. Kinh Nghiệm của Nhật Bản
Nhiều năm nay, nghiệp vụ bao thanh toán của Nhật Bản đƣợc coi là sản phẩm cung
cấp bởi các công ty con của các ngân hàng, hoạt động theo các quy định của luật pháp về
ngân hàng. Qua những cuộc sáp nhập mới đây của các ngân hàng lớn ở Nhật Bản, các

2.2. Thực trạng hoạt động bao thanh toán tại các NHTM Việt Nam:
Nghiệp vụ bao thanh toán ở Việt Nam bắt đầu manh nha từ những năm 1990, nhƣng chƣa
có điều kiện để phát triển. Nhận thấy sự cần thiết của hoạt động bao thanh toán đối với
các doanh nghiệp Việt Nam, ngày 06/9/2004, Thống đốc Ngân hàng Nhà nƣớc đã ký
Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN ban hành Quy chế hoạt động bao thanh toán của

2003
2004
2005
2006
2007
2008
2009
Trung
Quốc
2640
4315
5830
1430
0
3297
6
5500
0
6730
0
Singapore
2435
2600
2880

19

các tổ chức tín dụng (sau này, gọi là Quy chế 1096). Sự ra đời của văn bản pháp lý này
bƣớc đầu đã tạo động lực thúc đẩy các tổ chức tín dụng triển khai và phát triển dịch vụ
bao thanh toán. Và mãi đến đầu năm 2005, bao thanh toán mới chính thức đƣợc triển khai
tại Việt Nam.
Ở Việt Nam, chi nhánh các ngân hàng nƣớc ngoài là những tổ chức thực hiện nghiệp vụ
bao thanh toán đầu tiên. Deutsche Bank AG là đơn vị đầu tiên triển khai dịch vụ này vào
01/2005. Tiếp đó, là một số ngân hàng khác cũng đồng loạt triển khai dịch vụ này, nhƣ
Far East National Bank (02/2005), UFJ Bank (03/2005), City Bank (10/2005)…
Hiện nay, số lƣợng ngân hàng thƣơng mại Việt Nam triển khai thực hiện dịch vụ bao
thanh toán đã tăng lên: Ngân hàng Kỹ thƣơng (Techcombank), Á Châu (ACB), Ngoại
thƣơng (VCB), Sài Gòn Thƣơng Tín (Sacombank), Phƣơng Đông (OCB), Xuất nhập
khẩu (Eximbank), Quốc tế (VIB), Đông Nam Á (Seabank), Việt Á, Nam Á, Phát triển
nhà Thành phố Hồ Chí Minh (HDB), Phát triển nhà Hà Nội (Habubank), Hàng hải
(MSB)… Trong số này, có 4 ngân hàng tham gia vào FCI: Ngân hàng Ngoại thƣơng Việt
Nam, Ngân hàng thƣơng mại cổ phần (TMCP) Kỹ Thƣơng, Ngân hàng TMCP Á Châu và
Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thƣơng Tín. Do còn dè dặt trong bƣớc đầu triển khai nên
hiện nay các ngân hàng chủ yếu thực hiện dịch vụ bao thanh toán trong nƣớc có truy đòi.
Tại Việt Nam, nghiệp vụ Bao thanh toán còn khá mới mẻ. Các ngân hàng Việt Nam cung
cấp dịch vụ Bao thanh toán tập trung vào các ngành xuất khẩu thế mạnh nhƣ: Dệt may,
da giày, gỗ, điện tử và linh kiện, thủy hải sản đông lạnh… FCI cho biết, doanh số Bao
thanh toán năm 2011 tại Việt Nam đạt 25 triệu EUR, đạt mức tăng trƣởng bình quân 1,8
lần trong giai đoạn 2007-2011. Nhƣ vậy so với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2011
là 203.6 tỳ USD thì doanh số bao thanh toán tại Việt Nam thật quả là khiêm tốn.
2.2.1. Dịch vụ bao thanh toán tại một số ngân hàng tại Việt Nam
Một số NHTM phát triển mạnh dịch vụ bao thanh toán tại Việt Nam có thể kể đến nhƣ
ACB, Eximbank, BIDV…
2.2.1.1. Hoạt động bao thanh toán tại ACB:
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ BAO THANH TOÁN TẠI CÁC NHTM CỦA VIỆT NAM

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ BAO THANH TOÁN TẠI CÁC NHTM CỦA VIỆT NAM

21

b. Bên bán hàng
Bên bán hàng là những khách hàng thỏa mãn các quy định về bao thanh toán và có khoản
phải thu đủ điều kiện.
Lợi ích của bên bán hàng khi thực hiện bao thanh toán:
- Chuyển đổi khoản phải thu thành tiền để bổ sung nguồn vốn tiếp tục chu kỳ kinh doanh
mới.
- Đƣợc ngân hàng kiểm tra, đánh giá khả năng thanh toán của bên mua hàng.
 Tỷ lệ ứng trƣớc
Tỷ lệ ứng trƣớc là tỷ lệ phần trăm trên giá trị khoản phải thu mà ACB ứng trƣớc cho bên
bán hàng, tối đa không quá 80% giá trị khoản phải thu.
 Quy trình bao thanh toán tại ACB

 Lãi bao thanh toán
Lãi bao thanh toán đƣợc tính trên số tiền mà ACB ứng trƣớc cho bên bán hàng và đƣợc
thu lúc bên mua hàng/bên bán hàng thanh toán tiền cho ACB theo công thức sau:
Lãi = [Số tiền ứng trƣớc x Lãi suất (tháng) x số ngày bao thanh toán]/30ngày
Số ngày bao thanh toán: tính từ ngày ứng trƣớc tiền cho đến ngày bên mua hàng/bán bán
hàng thanh toán tiền cho ACB.
 Phí bao thanh toán
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ BAO THANH TOÁN TẠI CÁC NHTM CỦA VIỆT NAM

22

Phí bao thanh toán đƣợc tính trên giá trị khoản phải thu (số tiền bên mua hàng phải thanh
toán) và thu một lần ngay khi ứng trƣớc tiền cho bên bán hàng. ACB không hoàn lại lãi
và phí cho bên bán hàng vì bất cứ lý do gì.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status