“Lý thuyết H- O và việc vận dụng vào các mặt hàng NK của Việt Nam”
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Đề tài: Lý thuyết H-O và việc vận dụng vào các mặt hàng nhập
khẩu của Việt Nam
Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thường Lạng
Nhóm sinh viên thực hiện: 24
Thành viên: Phạm Thu Trang
Nguyễn Thị Thu Trang
Phạm Thị Quỳnh Trang Hà Nội – 2009
“Lý thuyết H- O và việc vận dụng vào các mặt hàng NK của Việt Nam”
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của để tài
Trong thời đại ngày nay hội nhập kinh tế quốc là một yếu tố không thể
thiếu. Một trong những cơ sở quan trọng của việc hình thành và phát triển các
quan hệ kinh tế quốc tế là hợp tác, phân công lao động quốc tế. Mỗi quốc gia
đều có lợi thế riêng về vị trí địa lý, về vốn, lao động, công nghệ, ngoài ra
những đặc điểm về kinh tế, văn hoá, xã hội cũng rất khác biệt. Cho nên họ chỉ
thuận lợi để phát triển một số ngành kinh tế nhất định. Do đó chỉ nên chuyên
môn hoá vào sản xuất một số sản phẩm nhất định và xuất khẩu những hàng
hoá của mình để đổi lấy hàng nhập khẩu từ nước khác. Như vậy nhập khẩu
hàng hóa và dịch vụ là yếu tố không thể thiếu trong cơ cấu kinh tế của một
quốc gia. Tuy nhiên nhập khẩu mặt hàng gì, khối lượng bao nhiêu lại không
phải vấn đề đơn giản. Để xác định được cơ cấu hàng nhập khẩu phù hợp đòi
hỏi việc nắm vững và vận dụng một cách đúng đắn các học thuyết kinh tế liên
quan vào thực tiễn nền kinh tế của mỗi quốc gia . Đối với Việt Nam, mục tiêu
đặt ra là thực hiện thành công quá trình CNH- HĐH đất nước, phấn đấu đến
• Phương pháp thống kê toán
• Phương pháp chuyên gia, điều tra khảo nghiệm tổng kết thực tiễn
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được kết cấu theo 3 chương
chính:
Chương I: Tổng quan về lí thuyết H-O
Chương II: Thực trạng nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam thời gian qua
(giai đoạn từ 2000 đến nay)
Nhóm 24- KTQT 49A 3
“Lý thuyết H- O và việc vận dụng vào các mặt hàng NK của Việt Nam”
Chương III: Vận dụng lí thuyết H-O vào xác định cơ cấu hàng nhập
khẩu của Việt Nam
6. Đóng góp của đề tài
Với ý nghĩa thực tiễn, kết quả nghiên cứu cho thấy cái nhìn toàn diện
về thực trạng cũng như việc áp dụng lý thuyết H- O vào thực tiễn hoạt động
NK của Việt Nam thời gian vừa qua. Đồng thời bài nghiên cứu cũng nêu ra
định hướng phát triển cho chính hoạt động này thời gian tới. Bài nghiên cứu
là nguồn tham khảo cho những người lập kế hoạch vĩ mô và những người
muốn tìm hiểu các vấn đề liên quan tới lý thuyết H-O cũng như hoạt động NK
của Việt Nam thời gian vừa qua.
7. Hướng phát triển của đề tài
Từ kết quả nghiên cứu, đề tài còn tạo tiền đề cho những nghiên cứu
chuyên sâu hơn về xác định cơ cấu NK hợp lý, nâng cao hiệu quả hoạt động
XNK, các vấn đề cơ chế, chính sách NK tại Việt Nam..
Để hoàn thành đề tài này, em xin chân thành cảm ơn PGS. TS Nguyễn
Thường Lạng- giảng viên bộ môn Kinh tế quốc tế trường Đại học Kinh tế
Quốc dân Hà Nội đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình nghiên cứu.
Do thời gian và trình độ có hạn của người viết nên đề tài không tránh khỏi
những thiếu sót cần bổ sung, em rất mong nhận được sự xem xét, đóng góp ý
kiến của thầy để đề tài nghiên cứu của em được hoàn thiện hơn.
không có khả năng di chuyển giữa các quốc gia.
• Chi phí sản xuất là cố định.
• Không có chi phí vận chuyển.
• Chi phí sản xuất được đồng nhất với tiền lương.
Tư tưởng chính của David Ricardo về mậu dịch quốc tế là:
• Mọi quốc gia luôn có thể và rất có lợi khi tham gia vào quá trình
phân công lao động quốc tế. Bởi vì phát triển ngoại thương cho
phép mở rộng khả năng tiêu dùng của một nước: chỉ chuyên môn
hoá vào sản xuất một số mặt hàng nhất định và xuất khẩu hàng hoá
của mình để đổi lấy hàng nhập khẩu từ các nước khác.
• Những nước có lợi thế tuyệt đối hoàn toàn hơn các nước khác hoặc
bị kém lợi thế tuyệt đối so với các nước khác trong sản xuất mọi sản
phẩm, thì vẫn có thể và vẫn có lợi khi tham gia và phân công lao
động và thương mại quốc tế bởi vì mỗi nước có một lợi thế so sánh
nhất định về một số mặt hàng và một số kém thế so sánh nhất định
về các mặt hàng khác.
Chúng ta hãy xem xét ví dụ sau đây của Ricardo, ông đã chứng minh
mọi nước đều có lợi thông qua phân công lao động và thương mại quốc tế, và
lời kêu gọi sự tự do mậu dịch quốc tế, phá bỏ mọi trở ngại cho quá trình này.
Bảng 1.1 Lợi thế so sánh của Mỹ và châu Âu trong sản xuất lương
thực và quần áo
Nhóm 24- KTQT 49A 6
Quốc gia
Sản phẩm
Mỹ Châu Âu
Lương thực (kg/giờ)
1 0,1875
Quần áo (bộ/giờ)
0,5 0,25
“Lý thuyết H- O và việc vận dụng vào các mặt hàng NK của Việt Nam”
Nhóm 24- KTQT 49A 7
“Lý thuyết H- O và việc vận dụng vào các mặt hàng NK của Việt Nam”
khác được coi là có lợi thế tuyệt đối để sản xuất cả hai loại sản phẩm. Trong
điều kiện đó, quốc qia thứ hai lại càng có lợi hơn so với khi họ không giao
thương. Trong trường hợp này, nếu một quốc gia bất lợi hoàn toàn trong sản
xuất tất cả các sản phẩm thì họ vẫn có thể chuyên môn hóa sản xuất và xuất
khẩu sản phẩm bất lợi là nhỏ nhất thì họ vẫn có lợi. Còn quốc gia có lợi hoàn
toàn trong sản xuất tất cả các sản phẩm sẽ tập trung chuyên môn hóa trong
việc sản xuất và xuất khẩu sản phẩm có lợi là lớn nhất thì họ vẫn luôn có lợi.
Tóm lại phát triển thương mại quốc tế có lợi cho tất cả các nước tham gia vào
quá trình phân công lao động quốc tế
1.1.2 Những hạn chế trong của lí thuyết của D. Ricacrdo dẫn tới sự
hình thành của lí thuyết H-O
Qui luật lợi thế so sánh được xem là một trong những lí thuyết kinh tế
quốc tế quan trọng. Tuy nhiên lí thuyết của Ricardo vẫn còn những hạn chế
cơ bản như sau:
• Các phân tích của Ricardo không tính đến cơ cấu về nhu cầu tiêu
dùng của mỗi nước, cho nên dựa vào lí thuyết của ông người ta
không thể xác định giá tương đối mà các nước dùng trao đổi sản
phẩm.
• Các phân tích của Ricardo không đề cập tới chi phí vận tải, bảo
hiểm hàng hoá và hàng raò bảo hộ mậu dịch mà các nước dựng lên.
Các yếu tố này ảnh hưởng quyết định đến hiệu quả của thương mại
quốc tế.
• Lý thuyết của Ricardo không giải thích được nguồn gốc phát sinh
thuận lợi của một nước đối với một loại sản phẩm nào đó, cho nên
không giải thích triệt để được nguyên nhân sâu xa của quá trình
thương mại quốc tế.
Để khắc phục những hạn chế của Ricardo, E. Hecksher (1949) và
B.Ohlin trong tác phẩm “Thương mại liên khu vực và quốc tế” xuất bản năm
Nhóm 24- KTQT 49A 9
“Lý thuyết H- O và việc vận dụng vào các mặt hàng NK của Việt Nam”
• Lao động và vốn có thể di chuyển tự do trong biên giới mỗi quốc
gia, nhưng bị cản trở trong phạm vi quốc tế.
• Không có chi phí vận tải, không có hàng rào thuế quan và các trở
ngại khác trong thương mại giữa hai nước.
1.2.2 Hàm lượng các yếu tố sản xuất trong các hàng hóa và
đường giới hạn khả năng sản xuất
Mô hình Heckscher-Ohlin phiên bản 2 x 2 x 2 sử dụng hàm Cobb-
Douglass vì nó phù hợp với giả thiết về lợi tức theo quy mô không đổi.
Chúng ta nói rằng hàng hóa Y là hàng hóa chứa đựng nhiều tư bản nếu
tỷ số tư bản/ lao động (K/L) được sử dụng để sản xuất hàng hóa Y lớn hơn
hàng hóa X trong cả 2 quốc gia.
Chúng ta cũng nói rằng quốc gia thứ II là quốc gia có sẵn tư bản với
quốc gia thứ I nếu tỷ giá giữa tiền thuê tư bản lãi suất trên tiền lương (r/w) ở
quốc gia này thấp hơn so với quốc gia thứ I. Như vậy, đường giới hạn khả
năng sản xuất của quốc gia thứ II sẽ nghiêng về OY và của quốc gia thứ I sẽ
nghiêng về phía OX.
Hình 1.2 Đường giới hạn khả năng sản xuất
Nhóm 24- KTQT 49A 10
“Lý thuyết H- O và việc vận dụng vào các mặt hàng NK của Việt Nam”
Xét ví dụ quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Nga. Ta giả thiết, để
sản xuất mặt hàng quần áo cần nhiều lao động, còn mặt hàng thép cần nhiều
vốn hơn. Việt Nam là nước tương đối sẵn có về lao động hơn nên họ sẽ sản
xuất và nhập khẩu hàng dệt may. Còn Nga có nhiều tư bản nên họ sản xuất
và xuất khẩu thép.
1.2.3. Cấu trúc cân bằng chung của học thuyết Heckscher- Ohlin
Cấu trúc cân bằng chung của học thuyết Hẹkscher- Ohlin được tóm tắt
trong sơ đồ hình 1.2. Bắt đầu tại góc phải phía dưới cuả sơ đồ ta thấy rằng sở
thích và sự phân phối theo quyền sở hữu các yếu tố sản xuất ( nghĩa là theo
cùng
Cầu yếu tố sản xuất
Mô
hình
mậu
dịch
Giá cả sản
phẩm so sánh
cân bằng nội
địa
Giá cả yếu tố sản xuất
Giá cả sản phẩm
Phân
phối thu
nhập
Thị hiếu
hay sở
thích
người tiêu
dùng
Cung
yếu tố
sản xuất
Kỹ
thuật
công
nghệ
“Lý thuyết H- O và việc vận dụng vào các mặt hàng NK của Việt Nam”
khác biệt về giá cả tương đối của các yếu tố sản xuất và giá cả hàng hóa mà
chúng được chỉ ra bởi đường đậm trong hình 1.3.
trong suốt 25 năm từ sau chiến tranh thế giới thứ 2. Trong một công trình
nghiên cứu nổi tiếng xuất bản năm 1953, nhà kinh tế Wassily Leontief (người
được giải thưởng Nobel năm 1973) thấy rằng hàng xuất khẩu của Mỹ lại sử
dụng ít vốn hơn hàng nhập khẩu. Kết quả đó được gọi là nghịch lý Leontief.
Đây là một dẫn chứng giá trị nhất chống lại lý thuyết tỷ lệ các yếu tố sản xuất.
Bảng 1.3 minh hoạ nghịch lý Leotief và một số thông tin khác về mô
thức thương mại của Mỹ. Chúng ta so sánh các yếu tố sản xuất sử dụng để
làm ra một triệu đô la hàng hoá xuất khẩu của Mỹ 1962 với các yếu tố dùng
để sản xuất một giá trị như trên hàng nhập khẩu của Mỹ năm 1962. Như ta đã
thấy ở hai hàng đầu trong bảng, nghịch lý Leotief vẫn xuất hiện trong năm dó;
hàng hoá xuất khẩu cảu Mỹ vẫn được sản xuất bằng một tỷ lệ vốn – lao động
thấp hơn so với hàng hoá nhập khẩu. Tuy nhiên, như phần còn lại của bảng
này cho thấy, những so sánh khác cảu hàng nhập khẩu và hàng xuất khẩu
trùng hợp hơn với suy nghĩ thông thường. Mỹ xuất khẩu những sản phẩm cần
tập trung nhiều lao động tay nghề cao hơn so với hàng hoá Mỹ nhập khẩu. Mỹ
cũng có xu hướng xuất khẩu những sản phẩm cần nhiều “công nghệ cao”, đòi
hỏi lao động của nhiều nhà khoa học và kỹ sư trên mỗi đơn vị sản phảm bán
ra. Những nhận xét đó phù hợp với vị trí của Mỹ là một nước có tay nghề lao
động cao, và có lợi thế so sánh ở các sản phẩm tinh vi.
Nhưng tại sao lại có nghịch lý Leontief ??? Không ai có thể trả lời 1
cách chắc chắn cả. Tuy nhiên, một cách giải thích có thể chấp nhận được sẽ
như sau: Mỹ có một lợi thế đặc biệt trong việc snả xuất những sản phẩm hoặc
hàng hoá sử dụng những công nghệ mới phát minh. Nhưng sản phẩm này có
thể cần sự tập trung vốn ít hơn so với những sản phẩm mà kỹ thuật có đủ thời
gian chin muồi và trở nên phù hợp cho việc sản xuất hàng loạt. Vì vậy, Mỹ có
Nhóm 24- KTQT 49A 15
“Lý thuyết H- O và việc vận dụng vào các mặt hàng NK của Việt Nam”
thể sẽ xuất khẩu những hàng hoá sử dụng nhiều lao động có tay nghề cao và
kỹ năng kinh doanh đổi mới, trong khi nhập khẩu hàng công nghiệp nặng sử
dụng khối lượng vốn lớn.
Kết quả tiêu cực của các kiểm nghiệm lý thuyết tỷ lệ các yếu tố sản
xuất đã đặt các nhà kinh tế học quốc tế vào tình thế khó khăn. Chúng ta đã
thấy các bằng chứng thực tế phần lớn đều ủng hộ sự phán đoán của mô hình
Ricardo: các nước sẽ xuất khẩu hàng hoá mà nước đó có năng suất lao động
đặc biệt cao. Tuy nhiên, hầu hết các nhà kinh tế học quốc tế đều coi mô hình
Ricardo quá hạn chế để có thể trở thành mô hình cơ bản của thương mại quốc
tế. Ngược lại, mô hình H-O từ lâu đã chiếm một vị trí trung tâm trong lý
thuyết thương mại,bởi vì nó cho phép xử lý cùng một lúc các vấn đề về phân
phối thu nhập và mô thức thương mại. Do đó, một mô hình phán đoán một
cách tốt nhất chiều hướng thương mại cũng bị hạn chế đối với các mục đích
khác, trong khi đến thời điểm này đã có những bằng chứng mạnh mẽ chống
lại mô hình H-O.
Câu trả lời tốt nhất vào lúc này dường như là phải quay trở về với ý
tưởng của Ricardo rằng mô thức thương mại phần lớn được thúc đẩy bởi
những khác biệt quốc tế về trình độ công nghệ hơn là những khác biệt về
nguồn lực. Ví dụ, ở Mỹ xuất khẩu máy vi tính và máy bay, không phải do các
nguồn lực của Mỹ đặc biệt thích hợp với những hoạt động này, mà là do Mỹ
sản xuất những hàng hoá này một cách có hiệu quả hơn so với sản xuất ôtô
hoặc thép. Điều này vẫn bỏ qua các lý do chưa được giải thích về sự khác biệt
công nghệ.
Vì thế hiểu được nguồn gốc của những khác biệt về công nghệ giữa các
nước là một chủ đề cơ bản của công nghệ giữa các nước là một chủ đề cơ bản
của công việc nghiên cứu hiện nay.
Bảng 1.5 Kiểm nghiệm mô hình Heckscher – Ohlin
Nhóm 24- KTQT 49A 17
“Lý thuyết H- O và việc vận dụng vào các mặt hàng NK của Việt Nam”
Yếu tố sản xuất Mức độ thành công của phán đoán*
Vốn 0,52
Lao động 0,67
Công chức chuyên nghiệp 0,78
THỰC TRẠNG NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM
2.1 Vai trò và nhiệm vụ của nhập khẩu đối với Việt Nam
2.1.1 Vai trò của nhập khẩu
Nhập khẩu có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế của Việt
Nam trên các mặt như sau:
Thứ nhất, nhập khẩu có tác động trực tiếp đến sản xuất và kinh doanh
thương mại vì thông qua hoạt động nhập khẩu cung cấp cho nền kinh tế
60-100% nguyên, nhiên vật liệu chính phục vụ cho sản xuất. Trong điều kiện
sản xuất nguyên liệu trong nước chưa phát triển, việc nhập khẩu những
nguyên liệu cao cấp như sợi cho ngành dệt, vải cho ngành may, phân bón cho
nông nghiệp, các linh kiện cho ngành lắp ráp xe hơi, điện tử…Hoạt động
nhập khẩu đã và đang góp phần quan trọng trong việc thực hiện chiến lược
công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước hướng về xuất khẩu.
Nhóm 24- KTQT 49A 19
“Lý thuyết H- O và việc vận dụng vào các mặt hàng NK của Việt Nam”
Thứ hai, nhập khẩu tác động mạnh vào quá trình đổi mới công nghệ,
trang thiết bị sản xuất. Qua đó nâng cao trình độ sản xuất và năng suất lao
động trong nước.
Thứ ba, nhập khẩu có vai trò nhất định trong việc nâng cao mức sống,
mở rộng nhu cầu trong nước của người dân. Bởi vì không chỉ cải thiện đồng
lương của đội ngũ nhân viên hoạt động trong lĩnh vực nhập khẩu mà hoạt
động này còn cung cấp các yếu tố đầu vào ( khoa học công nghê, máy móc
thiết bị, nguyên vật liệu…) qua đó thúc đẩy hoạt động sản xuất, giải quyết
công ăn, việc làm cho người lao động. Mặt khác, việc nhập khẩu hàng hóa
tiêu dùng, sách báo, văn hóa phẩm đã góp phần nâng cao trình độ dân trí , cải
thiện đời sống của người dân.
2.1.2 Nhiệm vụ của công tác nhập khẩu
• Đảm bảo kịp thời đầy đủ và đồng bộ nhu cầu về tư liệu sản xuất
trong nước.
• Góp phần thúc đẩy cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật
2001-2005 và vượt xa con số kế hoạch( 10,8-10,9 tỷ USD).
Nhưng qua thống kê có thể thấy, kim ngạch nhập khẩu trong năm 2008
tăng chủ yếu là do giá tăng mạnh trong khi khối lượng nhập khẩu tăng không
đáng kể. Điều đáng nói là ở một số mặt hàng khối lượng hàng nhập về tăng
mạnh lại đúng vào thời điểm giá trên thị trường thế giới lên đến đỉnh, điển
hình ở một số mặt hàng như xăng dầu, thức ăn chăn nuôi, giấy… Chính điều
này đã cản trở cho việc giảm giá bán lẻ ở trong nước, gây thiệt hại cho nền
kinh tế, cho người tiêu dùng và cho chính bản thân doanh nghiệp.
Năm 2009 kim ngạch nhập khẩu đạt 69.95 tỷ USD, tăng 16% so với
năm 2008. Trong đó kim ngạch nhập khẩu của các doanh nghiệp FDI đạt
26.07 tỷ USD, trong đó các doanh nghiệp (DN) trong nước tăng 15,1% và các
Nhóm 24- KTQT 49A 21
“Lý thuyết H- O và việc vận dụng vào các mặt hàng NK của Việt Nam”
DN có vốn đầu tư nước ngoài tăng 14,9%. Nhóm mặt hàng máy móc, thiết bị
phụ tùng, nguyên, nhiên vật liệu phục vụ cho đầu vào sản xuất xuất khẩu sẽ
tiếp tục gia tăng, chiếm tỷ trọng 76% với 53.162 tỷ USD. Nhóm mặt hàng bị
kiểm soát nhập khẩu bao gồm giấy, dầu mỡ động thực vật, sản phẩm dầu gốc,
gas..., chiếm tỷ trọng 16,7% với 11.68 tỷ USD. Nhóm hàng hạn chế nhập
khẩu bao gồm nguyên phụ liệu thuốc lá, ô tô và phụ tùng ô tô dưới 12 chỗ
ngồi, linh kiện xe gắn máy... sẽ chiếm 7,2%, khoảng 5 tỷ USD. Châu Á vẫn là
thị trường nhập khẩu chính của Việt Nam, với tỷ trọng khoảng 75-85%, tiếp
theo là EU và châu Mỹ. Trong năm 2009, các biện pháp kiểm soát nhập khẩu
thông qua các biện pháp thuế quan và phi thuế quan đã được áp dụng mạnh để
giảm nhập siêu.
Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 4/2010 ước tính đạt gần 7 tỷ USD,
tăng 3% so với tháng trước và tăng 25% so với cùng kỳ năm trước. Tính
chung 4 tháng đầu năm, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu ước tính đạt 24,8 tỷ
USD, tăng 35,6% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Khu vực kinh tế trong
nước đạt 14,6 tỷ USD, tăng 24,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt
10,2 tỷ USD, tăng 55,6%. Kim ngạch nhập khẩu của hầu hết các mặt hàng
50
60
70
80
90
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009
(Nguồn:tổng cục thống kê)
2.2.2 Một số mặt hàng nhập khẩu chủ yếu.
2.2.2.1 Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng:
Trong năm 2009 trị giá nhập khẩu nhóm hàng này là 12,67 tỷ USD
tăng 14,4% so với năm trước , nâng tổng kim ngạch nhập khẩu năm 2009 lên
69,95 tỷ USD, tăng 17,9% so với năm 2008.
Nhóm hàng máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng nhập khẩu vào Việt
Nam trong năm 2009 có xuất xứ chủ yếu từ Trung Quốc với 2,1 tỷ USD,
giảm 6,2%; Nhật Bản: 1,26 tỷ USD, giảm 21,9%; Hàn Quốc: 439 triệu USD;
giảm 22,7%; Hoa Kỳ: 395 triệu USD, tăng 9,5%,... so với cùng kỳ năm 2008.
2.2.2.2 Sắt thép các loại:
Năm 2009, cả nước nhập khẩu hơn 9.7 triệu tấn thép các loại, tăng
13,8% so với năm trước với trị giá là 5.4 tỷUSD. Lượng phôi thép nhập khẩu
vào Việt Nam trong năm là 2.4 triêu tấn, tăng 22% so với năm trước, trị giá
trên 1tỷ USD.
Hình 2.2.2.2: Nhập khẩu sắt thép từ các thị trường chính
7 tháng 2009 so với 7 tháng 2008
Nhóm 24- KTQT 49A 23
“Lý thuyết H- O và việc vận dụng vào các mặt hàng NK của Việt Nam”
2.2.2.3 Thức ăn gia súc và nguyên liệu:
Trong năm 2009, trị giá nhập khẩu nhóm hàng này 1.76 tỷ USD, cao
hơn nhiều so với năm 2008.
Trong đó, nhập khẩu từ Achentina là: 294 triệu USD, tăng 202,6%; Ấn
Độ : 285 triệu USD, giảm 52%; Trung Quốc: 98 triệu USD, tăng 32,4%; và
Xăng dầu các loại nhập khẩu vào Việt Nam trong năm 2009 chủ yếu có
xuất xứ từ Singapore với hơn 6,1 triệu tấn, tiếp theo là Đài Loan: 2,6 triệu tấn,
Trung Quốc: 1,41 triệu tấn, Hàn Quốc: 1.4 triệu tấn, Thái Lan: 880 nghìn
tấn, ...
2.2.2.6. Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện:
Nhập khẩu trong năm 2009 là 3.95 tỷ USD, tăng 6.5% so với năm
2008.
Tính đến hết năm 2009, Nhật Bản là thị trường dẫn đầu về cung cấp
nhóm hàng này cho nước ta với 928 triệu USD. Tiếp theo là Singapo với
815triệu USD, Trung Quốc : 654 triệu USD; ...
2.2.2.7. Chất dẻo nguyên liệu:
Hết năm 2009, tổng lượng nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu của cả nước
là 2,2 triệu tấn, tăng 29.4% so với cùng kỳ năm trước và đạt trị giá là 2.8 tỷ
USD.
Năm 2009, chất dẻo nguyên liệu được nhập khẩu vào Việt Nam chủ
yếu có xuất xứ từ: Hàn quốc : 291 nghìn tấn, tăng 44,0% so với cùng kỳ 2008;
Đài Loan: 319 nghìn tấn, giảm 3,9%; Thái Lan: 270 nghìn tấn, tăng 7,1%.
2.2.2.8 Phân bón:
Trong năm 2009 nhập khẩu 4.5 triêu tấn, tăng 50% so với năm 2008
với trị giá đạt trên 1.4 tỷUSD.
Nhóm 24- KTQT 49A 25