TIỂU LUẬN: Ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu đến xuất nhập khẩu của Việt Nam potx - Pdf 12

TIỂU LUẬN:
Ảnh hưởng của khủng hoảng
kinh tế toàn cầu đến xuất nhập
khẩu của Việt Nam

LỜI MỞ ĐẦU
Như chúng ta biết, trong năm 2008 và cho tới những tháng năm 2009 này khủng
hoảng toàn cầu đã lan rộng và hậu quả nặng nề của nó ngày càng lộ rõ trên tất cả mọi mặt
của kinh tế - xã hội. Việt Nam tuy không chịu ảnh hưởng trực tiếp nhưng với một nền
kinh tế đã hội nhập thì những tác động gián tiếp là không thể tránh khỏi. Đúng như cảnh
báo của nhiều chuyên gia, xuất nhập khẩu, đặc biệt là xuất khẩu Việt Nam đang bắt đầu
gánh chịu những khó khăn bắt nguồn từ khủng hoảng tài chính thế giới.
Với mục tiêu, đến năm 2020, Việt Nam phấn đấu cơ bản trở thành nước công
nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong bối cảnh như hiện nay và hy vọng tình hình có thể cải
thiện nhanh trong những năm tiếp theo, mục tiêu đó có thể đạt được hay không là nhờ
đóng góp phần không nhỏ của hoạt động xuất nhập khẩu trong chuỗi các hoạt động kinh
tế nói chung.
Từ việc quan sát thực tiễn, nghiên cứu thực tế trong quá trình thực tập ở Vụ Tổng
hợp Kinh tế quốc dân – Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cùng với sự tham khảo ý kiến của thầy
giáo hướng dẫn tôi đã quyết định chọn đề tài: “Ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế
toàn cầu đến xuất nhập khẩu của Việt Nam” làm luận văn tốt nghiệp của mình.
Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ vẫn đang còn tiếp diễn, vì vậy cần tiếp tục theo

phí vận chuyển bằng 0, lao động là yếu tố sản xuất trong nước, nhưng không di chuyển
được giữa các quốc gia, cạnh tranh hoàn hảo tồn tại trên tất cả các thị trường
Trong điều kiện tự cung cấp, mỗi quốc gia tự sản xuất hai mặt hàng để tiêu dùng
trong nước. Số lượng lao động cần tới ở mỗi nước để sản xuất một đơn vị thép và vải
được cho bởi bảng sau.

Bảng 1: Mô hình thương mại dựa trên thuyết tuyệt đối
Nhật Bản Việt Nam
Thép 2 6
Vải 5 3

Nhật Bản là nước có hiệu quả cao hơn hay có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất thép
vì để làm ra một đơn vụ thép nước này chỉ cần 2 lao động, trong khi Việt Nam cần tới 6
lao động. Ngược lại, Việt Nam có lợi thế tuyệt đối về sản xuất vải vì nước này chỉ cần 3
lao động để sản xuất một đơn vị vải, trong khi Nhật Bản phải dùng tới 5 lao động. Khi đó
Nhật Bản sẽ tập trung toàn bộ số lao động của mình để sản xuất thép, còn Việt Nam thì
thực hiện chuyên môn hóa hoàn toàn trong việc sản xuất vải, và sau đó 2 nước đem trao
đổi một lượng nhất định các mặt hàng này với nhau để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong
nước. Điều này dẫn tới sự gia tăng sản lượng thép và vải của toàn thế giới, và mỗi quốc
gia có khả năng tiêu dùng nhiều hơn so với trường hợp tự cung cấp.
Ưu, nhược điểm của mô hình: Mô hình giúp giải thích cho một phần nhỏ của
thương mại quốc tế, cụ thể trường hợp nếu một quốc gia không có điều kiện tự nhiên
thích hợp để trồng các loại cây như lúa, cà phê… thì buộc phải nhập khẩu các mặt hàng
này từ các nước khác. Mô hình này cũng không giải thích được trường hợp tại sao thương
mại vẫn có thể diễn ra ở một quốc gia có mức bất lợi tuyệt đối.
xuất cả hai sản phẩm X và Y thì A chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu sản phẩm X
khi và chỉ khi:
Chi phí lao động để sản xuất
1 đơn vị X ở A
––––––––––––––––––––––––
Chi phí lao động để sản xuất
Chi phí lao động để sản xuất
1 đơn vị Y ở A
< ––––––––––––––––––––––––
Chi phí lao động để sản xuất

1 đơn vị X ở B

1 đơn vị Y ở B Tuy có những tiến bộ quan trọng so với lý thuyết của Adam Smith nhưng lý thuyết
của David Ricardo vẫn bộc lộ nhiều hạn chế. Với những giả định trong mô hình thương mại
ở trên, lý thuyết lợi thế tương đối khó có thể đứng vững trước những kiểm nghiệm thực tế,
tuy nhiên kết luận của Ricardo vẫn là một kết luận rất quan trọng giải thích về nguồn gốc
thương mại quốc tế.
1.1.1.3. Lý thuyết Heckscher – Ohlin
Là công trình của hai nhà kinh tế học E.F.Hekscher và B.C.Ohlin. Lý thuyết đã
đưa ra cơ chế hoạt động của quy luật lợi thế so sánh là do sự khác nhau giữa các yếu tố
sản xuất sẵn có ở các nước
a) Các giả thiết của mô hình H-O:
- Thế giới bao gồm 2 quốc gia, 2 mặt hàng, 2 yếu tố sản xuất (lao động và vốn),
mức độ trang bị các yếu tố sản xuất ở mỗi quốc gia là cố định
- Sản xuất mỗi mặt hàng có hiệu suất không đổi theo quy mô, còn mỗi yếu tố sản
xuất thì có năng suất cận biên giảm dần

Tương tự, nếu thì nước A được coi là giàu tương đối về lao động so
với nước B
Trong đó: L
A
và L
B
là lượng lao động, K
A
và K
B
là lượng vốn tương ứng ở hai
nước A và B
c) Định lý H-O
Các nước sẽ có lợi thế so sánh trong việc sản xuất và xuất khẩu loại hàng hóa mà
việc sản xuất nó cần sử dụng nhiều yếu tố tương đối rẻ và sãn có ở nước đó và nhập khẩu
loại hàng hóa mà việc sản xuất nó cần sử dụng nhiều yếu tố đắt và tương đối khan hiếm ở
nước đó.
Tóm lại, với những giả thiết đơn giản hóa các vấn đề liene quan đến sản xuất và
trao đổi giữa hai quốc gia như hiệu suất sản xuất các mặt hàng không thay đổi theo quy
mô, cạnh tranh hoàn hảo trên thị trường, tự do hóa thương mại và không tồn tại chi phí
vận chuyển… các nhà kinh tế học cổ điển và tân cổ điển đã chỉ ra rằng, bằng việc chuyên
môn hóa sản xuất các sản phẩm dựa vào các lợi thế về tài nguyên thiên nhiên và các yếu
tố nguyên liệu sẵn có thì sản xuất của mỗi nước sẽ hiệu quả hơn, giá thành sản phẩm sẽ rẻ
hơn và khi đem ra trao đổi với các nước sẽ thu được lợi ích nhiều hơn khi mỗi nước tự
sản xuất và tự tiêu dùng.
1.1.2. Các lý thuyết mới về thương mại quốc tế
1.1.2.1. Thương mại dựa trên tính kinh tế theo quy mô
L
X
L

2,
I
3.
Khi chưa có thương mại, 2 nước có chung điểm cân bằng, tức là cùng mức sản
xuất và tiêu thụ tại điểm E
1
và có khả năng tiêu dùng tại điểm này

Hình 1: Thương mại dựa trên hiệu suất tăng dần theo quy mô
Tàu thủy

M I
3
S I
1
I
2
F E
2
E
3
E
1 T L A Máy bay
Khi có thương mại, Mỹ sẽ tập trung sản xuất máy bay tại điểm A, khi đó điểm tiêu
dùng của Mỹ là E
2
và Nhật Bản sẽ sản xuất tàu thủy tại điểm M, điểm tiêu dùng là E

1
– t
2
: Nước phát minh XK và các nước phát triển NK
Từ t
2
– t
3
: Sản phẩm thành thục, thị trường tiêu thụ mở rộng, các nước đang phát
triển như Việt Nam bắt đầu NK, tạo điều kiện sản xuất với quy mô lớn, chi phí thấp. Lợi
thế so sánh chuyển từ nước phát minh sang nước phát triển và đến thời điểm t
3
các nước
này tiến hành XK, nước phát minh giảm XK.

Hình 2: Vòng đời sản phẩm và thương mại quốc tế
XK
t
0
t
1
t
2
t
3
t
4

Các lý thuyết về kinh tế quốc tế đã đưa ra được các cách giải thích khác nhau về
nguyên nhân của thương mại quốc tế cũng như cách tiếp cận khác nhau trong việc giải
thích các hiện tượng kinh tế quốc tế và phát triển kinh tế, khả năng cạnh tranh quốc gia
và các quan hệ tiền tệ quốc tế khu vực. Chúng là những căn cứ quan trọng về mặt lý
thuyết để nhận thức một cách có hệ thống và hợp logic các quan hệ kinh tế quốc tế. Mức
độ hoàn chỉnh và tổng quát của các lý thuyết này ngày càng được nâng cao.
1.1.3. Một số vấn đề lý luận về xuất nhập khẩu
1.1.3.1. Khái niệm xuất khẩu
Xuất khẩu, trong lý luận thương mại quốc tế là việc bán hàng hóa và dịch vụ cho
nước ngoài, trong cách tính toán cán cân thanh toán quốc tế theo IMF là việc bán hàng
hóa cho nước ngoài.
Theo điều 28, mục 1, chương 2 luật thương mại việt nam 2005, xuất khẩu hàng
hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt
nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp
luật
Khi các nhân tố liên quan đến chi phí sản xuất hàng xuất khẩu ở trong nước không
thay đổi, giá trị xuất khẩu phụ thuộc vào thu nhập của nước ngoài và vào tỷ giá hối đoái.

Thu nhập của nước ngoài tăng (cũng có nghĩa là khi tăng trưởng kinh tế của nước ngoài
tăng tốc), thì giá trị xuất khẩu có cơ hội tăng lên. Tỷ giá hối đoái tăng (tức là tiền tệ trong
nước mất giá so với ngoại tệ), thì giá trị xuất khẩu cũng có thể tăng nhờ giá hàng tính
bằng ngoại tệ trở nên thấp đi.
1.1.3.2. Khái niệm nhập khẩu
Nhập khẩu, trong lý luận thương mại quốc tế, là việc quốc gia này mua hàng hóa
và dịch vụ từ quốc gia khác. Nói cách khác, đây chính là việc nhà sản xuất nước ngoài
cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho người cư trú trong nước. Tuy nhiên, theo cách thức
biên soạn cán cân thanh toán quốc tế của IMF, chỉ có việc mua các hàng hóa hữu hình
mới được coi là nhập khẩu và đưa vào mục cán cân thương mại. Còn việc mua dịch vụ
được tính vào mục cán cân phi thương mại.
Nhập khẩu phụ thuộc vào thu nhập của người cư trú trong nước, vào tỷ giá hối

trường quốc tế thì nhập khẩu sẽ tăng lên và ngược lại. Ví dụ: nếu giá xa đạp sản xuất tại
Việt Nam tăng tương đối so với giá xe đạp Nhật Bản thì người dân có xu hướng tiêu thụ
nhiều xe đạp Nhật Bản hơn dẫn đến nhập khẩu mặt hàng này cũng tăng.
- Xuất khẩu: chủ yếu phụ thuộc vào những gì đang diễn biến tại các quốc gia khác
vì xuất khẩu của nước này chính là nhập khẩu của nước khác. Do vậy nó chủ yếu phụ
thuộc vào sản lượng và thu nhập của các quốc gia bạn hàng. Chính vì thế trong các mô
hình kinh tế người ta thường coi xuất khẩu là yếu tố tự định.
- Tỷ giá hối đoái: là nhân tố rất quan trọng đối với các quốc gia vì nó ảnh hưởng đến
giá tương đối giữa hàng hóa sản xuất trong nước với hàng hóa trên thị trường quốc tế. Khi tỷ
giá của đồng tiền của một quốc gia tăng lên thì giá cả của hàng hóa nhập khẩu sẽ trở nên rẻ
hơn trong khi giá hàng xuất khẩu lại trở nên đắt đỏ hơn đối với người nước ngoài. Vì thế việc
tỷ giá đồng nội tệ tăng lên sẽ gây bất lợi cho xuất khẩu và thuận lợi cho nhập khẩu dẫn đến
kết quả là xuất khẩu ròng giảm. Ngược lại, khi tỷ giá đồng nội tệ giảm xuống, xuất khẩu sẽ
có lợi thế trong khi nhập khẩu gặp bất lợi và xuất khẩu ròng tăng lên

1.1.4. Vai trò của hoạt động xuất nhập khẩu với hoạt động kinh tế
Trong quá trình phân công lao động quốc tế, xuất nhập khẩu giúp tạo điều kiện tạo
điều kiện phân bổ các nguồn lực một cách hợp lý dựa trên việc khai thác hiệu quả lợi thế
so sánh của từng quốc gia. Nhờ đó, sản xuất và tiêu dùng không ngừng được nâng cao về
hiệu quả và quy mô. Nói cách khác, xuất nhập khẩu thúc đẩy sự phát triển của kinh tế.
a) Vai trò của xuất khẩu
- Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam có tỷ lệ tăng dân số khá cao, lực
lượng lao động dồi dào. Nếu xuất khẩu được mở rộng thì lượng lao động trực tiếp tham
gia trực tiếp vào các ngành xuất khẩu tăng lên, đồng thời lao động của các ngành khác
liên quan cũng tăng theo.
Như vậy, xuất khẩu có tác dụng khai thác nguồn lực sẵn có, tăng thêm việc làm và
thu nhập cho người lao động.
- Xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu theo hướng tích cực, tiến bộ, phục vụ
công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước
Khi thực hiện xuất khẩu tức là hàng hóa được đưa ra thị trường các nước khác

Khủng hoảng tại Mỹ được đánh dấu bằng sự đổ vỡ của hệ thống các ngân hàng tại
đây. Tình trạng thua lỗ, phá sản thường chỉ xảy ra trong các ngân hàng nhỏ và trung bình
ở Mỹ. Nhưng kể từ tháng 8/2008, tình trạng này đã lan sang các ngân hàng có tầm ảnh
hưởng lớn trong hệ thống tài chính toàn cầu. Freddie Mac và Frannie Mae là hai tập
đoàn cho vay thế chấp khổng lồ của Mỹ. Nếu hai tập đoàn này sụp đổ thì hệ thống tài

chính toàn cầu sẽ rơi vào một cú sốc lớn. Vì thế, để tạm thời ngăn chăn sự việc này, ngày
7/9/2008, Chính phủ Mỹ đã phải bỏ ra 25 tỷ USD để tiếp quản hai tập đoàn.
Tập đoàn lớn thứ tư tại Mỹ - Lehman Brothers Holdings đã thua lỗ gần 7 tỷ USD
trong quý II và III năm 2008, trong đó quý III lỗ 3,9 tỷ USD. Nguyên nhân là do các
khoản nợ xấu trong lĩnh vực tín dụng thứ cấp thế chấp mua nhà tại Mỹ của ngân hàng này
không có khả năng thanh toán. Sau 158 năm hoạt động, Lehman Brothers Holdings đã
nộp đơn xin phá sản ngày 15/9/2008. Cùng ngày với lý do như trên, tập đoàn ngân hàng
lớn khác của Mỹ là Merrill Lynch đã tuyên bố sáp nhập với Bank of America với giá trị
50 tỷ USD, tương đương 29 USD/cổ phần, trở thành tập đoàn cung cấp dịch vụ tài chính
lớn nhất thế giới.
Tập đoàn bảo hiểm hàng đầu của Mỹ, AIG tuyên bố thua lỗ 18 tỷ USD trong quý
II và quý III, riêng 6 tháng đầu năm 2008 đã lỗ hơn 13 tỷ USD. Để cứu tập đoàn này khỏi
nguy cơ phá sản, FED đã cho AIG vay 85 tỷ USD trong vòng 2 năm, đổi lại Chính phủ
Mỹ sẽ nắm giữ 80% cổ phần và thay đổi ban lãnh đạo của tập đoàn này.
Ngày 26/9, ngân hàng tiết kiệm lớn nhất của Mỹ - Washington Mutual Inc cũng
được bán lại cho JP Morgan Chase do thua lỗ 19 tỷ USD. Cuối ngày 29/9/2008, cổ phiếu
của ngân hàng Wachovia – một trong những ngân hàng lớn nhất của Mỹ- chỉ còn dưới 1
USD báo động đứng bên bờ vực phá sản. Citigroup đã quyết định mua lại mảng hoạt
động tín dụng của ngân hàng này với giá gần 2,2 tỷ USD và cơ quan liên bang tiền đảm
bảo quyền lợi của người gửi tiền ở ngân hàng này.
Từng là ngân hàng lớn nhất thế giới và có chi nhánh hoạt động hơn 100 quốc gia,
trong quý IV/2008 Citigroup thông báo bị lỗ ròng tới 8,29 tỷ USD, và cả năm 2008 lỗ
tổng cộng là 18,72 tỷ USD. Do khủng hoảng tài chính toàn cầu, trong năm 2008, các cổ
phiếu của ngân hàng này đã giảm gần 87% giá trị. Ngân hàng này đã phải bán đi một số


Anh đã tuyên bố quốc hữu hóa tập đoàn cho vay kinh doanh bất động sản lớn nhất nước
là Bradford & Bingley Plc. Tổng giá trị các khoản thế chấp và vay trên sổ sách là 50 tỷ
bảng.
Lối tiếp ngân hàng của Anh là một số ngân hàng lớn khác tại châu Âu như Fortis
của Bỉ và Lúcxămbua, Dexia của Bỉ và Pháp. Đầu tháng 10/2008, ngân hàng Hypo Real
Estate của Đức cũng lâm vào khủng hoảng và Chính phủ phải cứu trợ bằng biện pháp tài
chính cần thiết. Mới đây, ngày 8/1/2009, chính phủ Đức đã tuyên bố quốc hữu hóa ngân
hàng thương mại lớn thứ hai của Đức là Commerzbank, để cứu cơ sở này khỏi bị phá sản.
Dấu hiệu đầu tiên và rõ ràng nhất cho thấy nền kinh tế nước này đã bước vào giai đoạn
suy thoái là GDP liên tục giảm: trong quý II/2008 đã giảm 0,4%, quý III/2008 giảm
0,5%. Sự sụt giảm tăng trưởng mạnh hơn dự báo của kinh tế Đức là từ thương mại quốc
tế, với sự tăng mạnh của nhập khẩu trong khi xuất khẩu giảm.
Tại Nga, hệ thống ngân hàng và thị trường tài chính, chứng khoán cũng bị ảnh
hưởng nghiêm trọng. Trong tháng 9/2008, đợt suy giảm thị trường chứng khoán diễn ra
đã làm mất 800 tỷ USD giá trị cổ phiếu trên thị trường. Tính đến ngày 7/10/2008, thị
trường chứng khoán Nga đã 2 lần tạm thời đóng cửa và chỉ số chứng khoán giảm mạnh.
Chỉ trong khoảng 3 tuần cuối tháng 9 và đầu tháng 10/2008, ngân hàng Trung ương Nga
đã phải tung ra thị trường 170 tỷ USD để cứu các ngân hàng và các công ty tài chính. Để
hỗ trợ cho các ngân hàng, ngày 8/10/2008, Tổng thống Nga công bố kế hoạch cho vay
với thời hạn 5 năm với tổng giá trị là 950 tỷ rúp, tương đương 36,4 tỷ USD.
1.2.2.2. Sự lan tỏa của khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế Châu Á
Ngày 8/10/2008, thị trường chứng khoán châu Á trải qua một ngày tồi tệ; hàng
loạt thị trường chứng khoán châu Á trong tình trạng sụt giảm nghiêm trọng. Chỉ số
Nikkei 255 của Nhật Bản giảm xuống còn 9253,32 điểm. Kể từ năm 1987, đây là mức
giảm lớn nhất: 9,4%. Hàng loạt các chỉ số chứng khoán trên các thị trường các nước khác
cũng ở tình trạng tương tự: chỉ số Hangseng của Hồng Kông giảm 5,2%, chỉ số Sensex
của Ấn Độ giảm 4,3%, chỉ số Kospi của Hàn Quốc giảm 5,8% Sự sụt giảm này trên thị

trường chứng khoán châu Á còn kéo dài đến tháng 11. Cụ thể là ngày 2/11, chỉ số Nikkei

để biến các khoản cho vay mua bất động sản thành các gói trái phiếu có gốc bất động sản
(MBS, CDO) đầy rủi ro cung cấp cho thị trường
Khi nền kinh tế đi xuống, người vay tiền mua nhà không trả được các khoản vay
mua nhà thì rủi ro tín dụng được chuyển sang các gói trái phiếu có các danh mục tín dụng
bất động sản làm tài sản đảm bảo. Khủng hoảng càng gia tăng thì việc phát mại tài sản
càng tăng làm giá bất động sản càng giảm. Điều này có nghĩa giá trị tài sản đảm bảo của
trái phiếu càng giảm và rủi ro tín dụng càng tăng.
Vòng xoáy khủng hoảng cứ tiếp tục như vậy, làm cho giá chứng khoán sụt giảm
mạnh. Các ngân hàng đầu tư mặc dù không nắm giữ toàn bộ rủi ro nhưng cũng trực tiếp
hoặc gián tiếp duy trì một số danh mục chứng khoán liên quan đến bất động sản. Hậu quả
là hàng loạt ngân hàng đầu tư lần lượt báo cáo các khoản lỗ kinh doanh.
Thứ hai: Hệ thống tín dụng đổ vỡ
Sự co lại của thị trường tín dụng, sự đổ vỡ của các thị trường các công cụ phái
sinh như CDS có mức độ ảnh hưởng còn lớn hơn sự đổ vỡ của bong bóng nhà đất rất
nhiều.
Trong cho vay nhà đất lẫn trong thị trường nợ, việc dùng đòn bẩy tài chính là hết
sức quan trọng. Một doanh nghiệp có thể đi vay 3 nếu có vốn riêng là 1, như vậy được
gọi là sử dụng đòn bẩy bằng 3 lần. Các doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thực
nếu có đòn bẩy tài chính không lớn hơn 3 thì được coi là bình thường. Với hình thức này,
trong trường hợp rủi ro người đi vay sẽ chịu rủi ro đầu tiên và khi đòn bẩy càng cao thì
tức là rủi ro càng lớn. Khi cho vay, các ngân hàng thường chú ý đến hệ số đòn bẩy nảy
bởi vì nếu hệ số đòn bẩy quá cao, thì khi có lãi người vay được lợi, khi thua lỗ thì ngân
hàng phải gánh chịu. Trên thị trường tài chính, các ngân hàng sử dụng đòn bẩy cao hơn,
có khi lên đến cả trăm lần do các ngân hàng đầu tư, các công ty tài chính không có quy
định nghiêm ngặt về vấn đề này.

Thứ ba: Thiếu cơ chế giám sát chặt chẽ
Các ngân hàng thương mại chịu sự quản lý, giám sát của các cơ quan nhà nước,
còn các ngân hàng đầu tư, các công ty tài chính chịu sự giám sát ít hơn. Các cơ quan
quản lý lỏng lẻo, không theo kịp hoạt động của tất cả các tổ chức tài chính ngân hàng dẫn

Kinh tế thế giới năm 2009 sẽ tiếp tục chìm sâu vào suy thoái và được dự báo chỉ
có thể thoát ra vào nửa cuối năm 2009 hoặc đầu năm 2010. Kết quả dự báo của IMF về
tăng trưởng kinh tế thế giới 2009 – 2010 cho rằng, tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2009
được dự báo là 0,5% - mức thấp nhất kể từ Chiến tranh thế giới lần thứ II. Sự tăng trưởng
của các nước phát triển dù chỉ là nhỏ nhưng với quy mô nền kinh tế lớn thì đó cũng là
đáng kể. Do chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu thì mức tăng trưởng
của các nước này được dự báo là âm trong năm 2009; Mỹ sẽ có mức tăng trưởng -1,6%,
Anh là -2,8% trong năm 2009 Còn mức tăng trưởng của các nền kinh tế đang nổi như
Trung Quốc hay Ấn Độ cũng sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề với mức tăng trưởng được dự
báo lần lượt là 6,7% và 5,1%. Các nước đang phát triển khác, dưới tác động của khủng
hoảng kinh tế toàn cầu, tốc độ tăng trưởng giảm rõ rệt.
Năm 2008 kinh tế Thái Lan chỉ tăng trưởng 2,6. Trong năm 2009, dự kiến, nền
kinh tế hướng tới xuất khẩu của nước này sẽ suy giảm từ 0-1%
Malaysia: Nhu cầu trong nước trên thị trường khá mạnh trong 6 tháng đầu năm
2008, nhưng sự suy giảm mạnh mẽ về các điều kiện kinh tế toàn cầu và giá hàng hóa
giảm đã khiến cho nhu cầu trong nước sụt giảm mạnh trong 6 tháng cuối năm 2008, dẫn
đến tăng trưởng kinh tế Malaysia trong 6 tháng cuối năm 2008 chỉ đạt 2,4%, so với 7,1%
trong 6 tháng đầu năm 2008.
Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu rất yếu kém, nhu cầu yếu trên thị trường thế giới
dự báo sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế Malaysia trong năm 2009 đi khoảng 4 %.
Theo Bank Negara, ngân hàng trung ương Malaysia, kinh tế Malaysia tăng trưởng
khoảng 4,6% năm 2008. Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu môi trường kinh

tế thế giới đang xấu đi nhanh chóng dự báo tăng trưởng GDP thực tế của nước này năm
2009 sẽ từ âm 1% đến 1% do bị ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu.
Kinh tế Inđônêxia: Theo lời Phó Thống đốc Ngân hàng trung ương Inđônêxia (BI)
Miranda S. Goeltom cho biết “kinh tế nước này đang ngày càng trở nên xấu đi”, với tốc
độ tăng trưởng kinh tế năm nay dự kiến chỉ ở mức từ 3-4%, thấp hơn so với dự báo tăng
4-5% trước đây.
Các số liệu của BI cũng cho thấy tỷ lệ nợ không sinh lời trong hệ thống ngân hàng

0,8%. Tình hình nhập khẩu cũng tương tự, tốc độ tăng trưởng nhập khẩu năm 2009 ở các
nước phát triển ở mức -3,1%, còn các nền kinh tế mới nổi đạt mức tăng trưởng nhập khẩu
-2,2%. Tốc độ tăng trưởng thương mại năm 2009 được dự báo âm là do còn chịu tác động
mạnh của cuộc khủng hoảng kinh tế, cả nhập khẩu và xuất khẩu đều có xu hưởng giảm
dẫn đến tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giảm.
Chủ tịch Uỷ ban Thương nghiệp Nội địa thuộc Phòng Công nghiệp và Thương
mại Inđônêxia (KADIN) ngày 29/3/2009 công bố, trước tác động ngày càng nghiêm
trọng của cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu tới nền kinh tế Inđônêxia, đầu tư
tiếp tục bị đình trệ do thiếu lượng tiền mặt, xuất khẩu trong quý I/09 đã giảm 30% so với
cùng kỳ năm 2008.
Xuất khẩu hàng hoá từ các nước châu Á đến Trung Quốc tháng 12/2008 thấp hơn
27% so với một năm trước.
Khi xem xét kỹ về số liệu xuất khẩu và nhập khẩu của các nước cho thấy như tiêu
dùng nội địa suy yếu là nguyên nhân chính dẫn đến kinh tế các nước này đi xuống.
Tại Trung Quốc, tiêu dùng nội địa đi xuống là yếu tố chính kéo lùi tăng trưởng
kinh tế Trung Quốc năm 2009.
Xét chung thì nhập khẩu giảm nhưng xuất khẩu giảm mạnh hơn, dẫn đến cán cân
thương mại thế giới sẽ chịu thâm hụt lớn trong năm 2009 này. Báo cáo của WB cho rằng
thương mại thế giới năm nay sẽ sụt giảm kỷ lục trong vòng 8 thập kỷ qua, lớn nhất là tại

khu vực Đông Á. Trong năm 2009, các quốc gia đang phát triển - trong đó có nhiều nước
nghèo được dự báo sẽ đối mặt với khả năng thâm hụt tài chính 270 - 700 tỷ USD.
Tình trạng này được dự báo có được cải thiện đôi chút vào năm 2010, khi mà nền
kinh tế không còn chịu ảnh hưởng lớn của cuộc khủng hoảng tài chính.
1.4.3. Tác động đến các vấn đề xã hội
Khủng hoảng kinh tế thế giới dẫn đến những hậu quả xã hội nghiêm trọng mà biểu
hiện rõ rệt nhất của nó là tỷ lệ thất nghiệp ở các khu vực trên thế giới liên tục tăng nhanh

Khủng hoảng kinh tế gây ra thất nghiệp. Thất nghiệp sẽ dẫn đến đói nghèo và
những tệ nạn xã hội khác. An ninh của nhiều nước nghèo đứng trước nguy cơ bất ổn do
khủng hoảng kinh tế gây ra. Khu vực châu Á - Thái Bình Dương được dự báo là có nguy
cơ trở lại tỷ lệ bần cùng hồi năm 2004.
Ngày 12/02/2009, Ngân hàng Thế giới (WB) đã công bố bản báo cáo “Cuộc
khủng hoảng kinh tế toàn cầu: Đánh giá rủi ro từ con mắt nghèo đói”, cho thấy khủng
hoảng kinh tế toàn cầu đang đe dọa đến việc thực hiện các mục tiêu xóa đói giảm nghèo
toàn cầu.
Theo WB, số liệu cho năm 2009 cho thấy tăng trưởng kinh tế chậm sẽ làm khoảng
46 triệu người không thoát được nghèo (ở mức 1,25 USD/ngày) và khoảng 53 triệu người
khác sẽ vẫn nằm dưới mức 2 USD/ngày. Đó là chưa kể đến khoảng 130 - 155 triệu người
vừa tái nghèo do cuộc khủng hoảng lương thực và năng lượng vừa qua.
Báo cáo này cho thấy nguy cơ không hoàn thành các mục tiêu thiên niên kỷ của
Liên Hợp Quốc, trong đó có mục tiêu giảm nghèo cụ thể cho năm 2015. Báo cáo mới còn
cho thấy tăng trưởng chậm cũng làm tăng tỉ lệ tử vong trẻ sơ sinh, với khoảng từ 1,4 - 2,8
triệu trẻ sơ sinh có thể tử vong trong khoảng từ nay đến năm 2015, nếu khủng hoảng này
còn tiếp diễn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status