TRƯỜNG..........................
KHOA……………………
TIỂU LUẬN
Đề tài
Trong thời kỳ đổi mới chúng ta
khẳng định phải đổi mới tư duy lý
luận trước khi đổi mới thực tiễn. Anh
hay vận dụng những tư tưởng cơ bản
của triết học Macxit để giải thích cho
luận điểm trên
tiÓu luËn triÕt häc -
LỜI MỞ ĐẦU
Trong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận
hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội
chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, lý luận nhận thức, vấn đề cải tạo thực tiễn nền kinh tế
luôn thu hút sự quan tâm của nhiều đối tượng.
Ngày nay, triết học là một bộ phận không thể tách rời với sự phát triển của bất
cứ hình thái kinh tế nào. Những vấn đề triết học về lý luận nhận thức và thực tiễn,
phương pháp biện chứng... luôn là cơ sở, là phương hướng, là tôn chỉ cho hoạt động
thực tiễn, xây dựng và phát triển xã hội. Nếu xuất phát từ một lập trường triết học
đúng đắn, con người có thể có được những cách giải quyết phù hợp với các vấn dề
do cuộc sống đặt ra. Việc chấp nhận hay không chấp nhận một lập trường triết học
nào đó sẽ không chỉ đơn thuần là sự chấp nhận một thế giới quan nhất định, một
cách lý giải nhất định về thế giới, mà còn là sự chấp nhận một cơ sở phương pháp
luận nhất định chỉ đạo cho hoạt động.
Chúng ta biết rằng, triết học là một trong ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa
Mác. Lênin đã chỉ rõ rằng chủ nghĩa duy vật biện chứng đó chính là triết học của
chủ nghĩa Mác. Cho đến nay, chỉ có triết học Mác là mang tính ưu việt hơn cả. Trên
quan.’(Trích’Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI”). Từ năm 1986, chúng
ta đã tổng kết được những bài học kinh nghiệm quý báu để đổi mới và cải cách kinh
tế. Xây dựng một nền kinh tế thị trường, một nền kinh tế nhiều thành phần, lành
mạnh chính là sự vận dụng sáng tạo quan điểm chỉ đạo của Đảng vào thực tiễn hoàn
cảnh trong nước và trên thế giới. Những quan điểm đổi mới, tiến bộ đó là sự tôn
trọng hoàn toàn những lý luận nhận thức và thực tiễn chi phối nền kinh tế.
Đứng trên quan điểm triết học Mác- Lênin, ta càng có cơ sở để khẳng định
những khởi sắc trong mười năm đổi mới cho dến nay từ sau Đại hội Đảng lần thứ
VI là những thành công mang tính tất yếu do chúng ta đã vận dụng đúng đắn các
quy luật khách quan vào cải tạo thực tiễn. Chúng ta đã tôn trọng những bước phát
triển có tính quy luật của lịch sử, không đi ngược lại “guồng quay” của lịch sử.
II, MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ
Luôn luôn gắn lý thuyết với thực hành, nắm vững kiến thức thông qua sự hiểu
biết sâu rộngvấn đề là một phương châm hành động của sinh viên trong thời đại
mới. Nghiên cứu lý luận nhận thức và thực tiễn là một sự nghiên cứu sâu rộng của
triết học trong mối liên quan với phát triển kinh tế và phát triển xã hội.
Hơn thế nữa, đứng trước ngưỡng cửa thế kỷ 21, khi mà xu thé hội nhập đang
tăng cao, nền kinh tế ngày càng phát triển mạnh mẽ thì các hành động đều xuất phát
Vò Ngäc Khoa
3
tiÓu luËn triÕt häc -
từ quá trình nhận thức và cải tạo thực tiễn là phương châm chỉ đạo và hoạt động của
Đảng, Nhà nước ta.
Muốn phát triển kinh tế vững mạnh thì phải luôn đặt nó với mối quan hệ với
những khoa học khác, đặc biệt là triết học. Sự thành công hay thất bại, phát triển hay
lạc hậu của bất cứ nền kinh tế nào là do có lập trường triết học đúng đắn. Bởi vì xuất
phát từ một lập trường triết học đúng đắn, con người có thể có được cách giải quyết
phù hợp với những vấn đề do cuộc sống đặt ra. Còn ngược lại, xuất phát từ một lập
trường triết học sai lầm, con ngưòi khó có thể tránh khỏi hành động sai lầm. Trong
hoạt dông kinh tế, một lập trường triết học đúng đắn là tối cần thiết. Chỉ có triết học
IV, CƠ SỞ LÝ LUẬN
Đại hội Đảng lần thứ VI đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong quá
trình phát triển kinh tế của Việt Nam. Trước văn kiện này, những bài học kinh
nghiệm đã được rút ra trong triết học Mác - Lênin và Đảng ta lấy đó làm “kim chỉ
nam’ cho hoạt động của mình. Triết học là một bộ phận cấu thành của chủ nghĩa
Mác- Lênin đã chỉ rõ; triết học của chủ nghĩa Mác là chủ nghĩa duy vật. Nhưng Mác
không dừng lại ở chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVIII mà những thiếu sót chủ yếu nhất
của nó là máy móc, siêu hình và duy tâm khi xem xét các hiện tượng xã hội. C.Mác
và F.Enghen đã khắc phục những thiếu sót ấy, đẩy triết học tiến lên hơn nữa bằng
cách tiếp thu một cách có phê phán và có chọn lọc những thành quả của triết hoc cổ
điển Đức và nhất là của hệ thống triết học Hêghen. Trong những thành quả đó thì
thành quả chủ yếu là phép biện chứng, tức là học thuyết về sự phát triển dưới hình
thức toàn diện nhất, sâu sắc nhất và thoát hẳn được tính phiến diện. Nhưng phép
biện chứng của Heeghen là phép biện chứng duy tâm nên Mác và Enghen đã cải tạo
nó. Chính trong quá trình cải tạo này, Mác và Enghen đã gắn phép biện chứng
Hêghen với thực tiễn, phát triển tiếp tục chủ nghĩa duy vật cũ, đẩy nó lên thành chủ
nghĩa duy vật bịên chứng.Vì vậy chính Mác và Enghen đã xây dựng một triết học
mới với thế giới quan duy vật nhất quán trong việc nhận thức xã hội. Cơ sở của
những lí luận trong học thuyết đó là những quy luật khách quan và thực tiễn xã hội
(“Triết học Mác- Lênin”- Chương trình cao cấp. Tập I;Tập san triết học).
Vậy trong quá trình xây dựng nên triết học Mác, C.Mác và Enghen đã luôn đi
từ thực tiễn và những quy luật khách quan để định hướng lý luận nghiên cứu. Những
lý luận đó vì thế có cơ sở khoa học vững chắc, không sa vào siêu hình hay nhị
nguyên luận như các nhà triết học đi trước.
Vò Ngäc Khoa
5
tiÓu luËn triÕt häc -
Để chỉ đạo hoạt động được đúng đắn, triết học Mác- Lênin chính là nền tảng
bền vững cho mọi mục tiêu, phương hướng phát triển mọi mặt của Đảng và Nhà
nước ta.
mới, một ”thiên nhiên thứ hai”. Đó là thế giới của văn hóa tinh thần và vật chất,
những điều kiện mới cho sự tồn tại của con người, những điều kiện này không được
giới tự nhiên mang lại dưới dạng có sẵn. Đồng thời với quá trình đó, con người cũng
phát triển và hoàn thiện bản thân mình. Chính sự cải tạo hiện thực thông qua hoạt
động thực tiễn là cơ sở của tất cả những biểu hiện khác có tính tích cực, sáng tạo của
con người. Con người không thích nghi một cách thụ động mà thông qua hoạt động
của mình, tác động một cách tích cực để biến đổi và cải tạo thế giới bên ngoài. Hoạt
động đó chính là thực tiễn.
a,Hoạt động sản xuất vật chất
Là hoạt động thực tiễn quan trọng nhất của xã hội.Thực tiễn sản xuất vật chất
là tiền đề xuất phát để hình thành những mối quan hệ đặc biệt của con người đối với
thế giới, giúp con người vượt ra khỏi khuôn khổ tồn tại của các loài vật.
b.Hoạt động chính trị xã hội
Là hoạt dộng của con người trong các lĩnh vực chính trị xã hội nhằm phát
triển và hoàn thiện các thiết chế xã hội, các quan hệ xã hội làm địa bàn rộng rãi cho
hoạt động sản xuất và tạo ra những môi trường xã hội xứng đáng với bản chất con
người bằng cách đấu tranh giai cấp và cách mạng xã hội.
c. Hoạt động thực nghiệm khoa học
Là hoạt động thực tiễn đặc biệt vì con người phải tạo ra một thế giới riêng cho
thực nghiệm của khoa học tự nhiên và cả khoa học xã hội.
II, THỰC TIỄN CÓ VAI TRÒ RẤT TO LỚN ĐỐI VỚI NHẬN THỨC
Hoạt động thực tiễn là cơ sở , là nguồn gốc, là động lực, là mục đích, là tiêu
chuẩn của nhận thức.
1.Thực tiễn là cơ sở, nguồn gốc của nhận thức
Trong hoạt động thực tiễn, con người làm biến đổi thế giới khách quan, bắt
các sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan phải bộc lộ những thuộc tính và quy
luật của chúng. Trong quá trình hoạt động thực tiễn luôn luôn nảy sinh các vấn đề
Vò Ngäc Khoa
7
tiÓu luËn triÕt häc -
8
tiÓu luËn triÕt häc -
4,Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý
a.Chân lý
Là những tri thức phản ánh đúng đắn thế giới khách quan được thực tiễn
khẳng định ( nội dung khách quan, có ý nghĩa giá trị đối với đời sống con người)
Chân lý mang tính khách quan, nó không phụ thuộc vào số đông (ví dụ: chân
lý tôn giáo).
Chân lý mang tính hai mặt ( tuyệt đối và tương đối ) vì tính hai mặt trong quá
trình nhận thức của nhân loại.
b.Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, tiêu chuẩn để kiểm tra
chân lý không phải là ý thức tư tưởng, tư duy mà là thực tiễn. Bởi vì chỉ có thông
qua hoạt động thực tiễn, tri thức mới trở lại tác động vào thế giới vật chất, qua đó nó
được ”hiện thực hoá”, “vật chất hơn” thành các khách thể cảm tính. Từ đó mới có
căn cứ để đánh giá nhận thức của con người đúng hay sai, có đạt tới chân lý hay
không.
Thực tiễn có rất nhiều hình thức khác nhau, nên nhận thức của con người
cũng được kiểm tra thông qua rất nhiều hình thức khác nhau.
+Thực tiễn của xã hội luôn luôn vận động và phát triển.
+Thực tiễn trong mỗi giai đoạn lịch sử đều có giới hạn. Nó không thể chứng
minh hay bác bỏ hoàn toàn một tri thức nào đó của con người mà nó được thực tiễn
tiếp theo chứng minh, bổ sung thêm.
Như vậy tiêu chuẩn thực tiễn cũng mang tính chất biện chứng và như vậy mới
có khả năng kiểm tra một cách chính xác sự phát triển biện chứng của nhận thức.
c.
Ý nghĩa:
Thực tiễn lớn nhất ở nước ta hiện nay là thực tiễn xây dựng nền kinh tế thị
trường mới, nền văn hoá mới đậm đà bản sắc dân tộc và chế độ xã hội mới: công
bằng, bình đẳng, tién bộ.
cải tạo xã hội để thoả mãn nhu cầu của con người.
a. Lý luận bắt nguồn từ thực tiễn
Vò Ngäc Khoa
10
tiÓu luËn triÕt häc -
Lý luận dựa trên nhu cầu của thực tiễn và lấy được chất liệu của thực tiễn.
Thực tiễn là hoạt động cơ bản nhất của con người, quyết định sự tồn tại và phát triển
xã hội. Lý luận không có mục đích tự nó mà mục đích cuối cùng là phục vụ thực
tiễn. Sức sống của lý luận chính là luôn luôn gắn liền với thực tiễn, phục vụ cho yêu
cầu của thực tiến.
b. Lý luận mở đường và hướng dẫn hoạt động của thực tiễn
Ví dụ: lý luận Mác - Lênin hướng dẫn con đường đấu tranh của giai cấp vô
sản. Sự thành công hay thất bại của hoạt động thực tiễn là tuỳ thuộc vào nó được
hướng dẫn bởi lý luận nào, có khoa học hay không? Sự phát triển của lý luận là do
yêu cầu của thực tiễn, điều đó cũng nói lên thực tiễn không tách rời lý luận, không
thể thiếu sự hướng dẫn của lý luận.
Vai trò của lý luận khoa học là ở chỗ: nó đưa lại cho thực tiễn các tri thức
đúng đắn về các quy luật vận động, phát triển của hiện thực khách quan, từ đó mới
có cơ sở để định ra mục tiêu và phương pháp đúng đắn cho hoạt động thực tiễn.
Quan hệ lý luận và thực tiễn mang tính chất phức tạp, quan hệ đó có thể là
thống nhất hoặc mâu thuẫn đối lập.
c. Lý luận và thực tiễn là thống nhất
Lý luận và thực tiễn thống nhất khi giai cấp thống trị còn mang tinh thần tiến
bộ và còn giữ sứ mệnh lịch sử. Khi lý luận và thực tiễn thống nhất thì chúng sẽ tăng
cường lẫn nhau và phát huy vai trò của nhau. Sự thống nhất đó là một trong những
nguyên lý căn bản của triết học Mác- Lênin.
d. Sự mâu thuẫn của lý luận và thực tiễn
Xảy ra khi giai cấp thống trị trở nên phản động, lỗi thời, lạc hậu. Khi mâu
thuẫn nảy sinh, chúng sẽ làm giảm ảnh hưởng của nhau. Điều đó dẫn đến mọi đường
lối, chính sách xã hội trở nên lạc hậu và phản động.