Tiểu luận triết học “Trong thời kỳ đổi mới chúng ta khẳng định phải đổi mới tư duy lý luận trước khi đổi mới thực tiễn. Anh hay vận dụng những tư tưởng cơ bản của triết học Macxit để giải thích cho luận điểm trên” - Pdf 71

tiÓu luËn triÕt häc -
Tiểu luận triết học “Trong thời kỳ đổi mới chúng ta khẳng
định phải đổi mới tư duy lý luận trước khi đổi mới thực
tiễn. Anh hay vận dụng những tư tưởng cơ bản của triết
học Macxit để giải thích cho luận điểm trên”

Vò Ngäc Khoa
1
tiÓu luËn triÕt häc -
MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU
1
GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
2
CHƯƠNG I:
MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU
5
I. Thực tiễn 5
II. Thực tiễn có vai trò quan trọng đối với quá trình nhận thức 6
III. Mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn 8
CHƯƠNG II: QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở VIỆT NAM 12
I. Vị trí địa lý 12
II. Quá trình phát triển kinh tế ở Việt Nam 12
III. Biện pháp giải quyết tình hình để phát triển kinh tế 15
CHƯƠNG III:
ÁP DỤNG LÝ LUẬN THỰC TIỄN TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI HIỆN
NAY
18
I.Lý luận thực tiễn trong sự nghiệp phát triển kinh tế và đổi mới hiện nay 18

tranh cãi, nhất là trong quá trình đổi mới hiện nay.Vì vậy, em quyết định chọn đề tài “Trong thời kỳ
đổi mới chúng ta khẳng định phải đổi mới tư duy lý luận trước khi đổi mới thực tiễn. Anh hay
vận dụng những tư tưởng cơ bản của triết học Macxit để giải thích cho luận điểm trên”.
Vò Ngäc Khoa
3
tiÓu luËn triÕt häc -
GIỚI THIỆU TIỂU LUẬN
I, TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Sự tất thắng của chủ nghĩa cộng sản, sự thay thế xã hội tư bản chủ nghĩa bằng xã hội cộng
sản chủ nghĩa trong tiến trình lịch sử của nhân loại là một quy luật khách quan. Việt Nam hiện nay
đang ở vào thời kỳ quá độ, chúng ta đã bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa, tiến thẳng lên chủ nghĩa
xã hội. Vì vậy trong quá trình phát triển, luôn luôn nảy sinh những mâu thuẫn cần giải quyết. Với sự
lãnh đạo đúng đắn của Đảng và Chính phủ, chúng ta đã có những chiến lược và sách lược đúng đắn.
Trên cơ sở nền tảng của chủ nghĩa Mác- Lênin, đặc biệt là lý luận triết học Mác- Lênin,
chúng ta đã vạch rõ được con đường phát triển kinh tế đúng đắn đó là: ”luôn luôn xuất phát từ thực
tiễn, tôn trọng và hoạt động theo quy luật khách quan.’(Trích’Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ VI”). Từ năm 1986, chúng ta đã tổng kết được những bài học kinh nghiệm quý báu để đổi
mới và cải cách kinh tế. Xây dựng một nền kinh tế thị trường, một nền kinh tế nhiều thành phần,
lành mạnh chính là sự vận dụng sáng tạo quan điểm chỉ đạo của Đảng vào thực tiễn hoàn cảnh trong
nước và trên thế giới. Những quan điểm đổi mới, tiến bộ đó là sự tôn trọng hoàn toàn những lý luận
nhận thức và thực tiễn chi phối nền kinh tế.
Đứng trên quan điểm triết học Mác- Lênin, ta càng có cơ sở để khẳng định những khởi sắc
trong mười năm đổi mới cho dến nay từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI là những thành công mang
tính tất yếu do chúng ta đã vận dụng đúng đắn các quy luật khách quan vào cải tạo thực tiễn. Chúng
ta đã tôn trọng những bước phát triển có tính quy luật của lịch sử, không đi ngược lại “guồng quay”
của lịch sử.
II, MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ
Luôn luôn gắn lý thuyết với thực hành, nắm vững kiến thức thông qua sự hiểu biết sâu
rộngvấn đề là một phương châm hành động của sinh viên trong thời đại mới. Nghiên cứu lý luận
nhận thức và thực tiễn là một sự nghiên cứu sâu rộng của triết học trong mối liên quan với phát triển

lý luận nhận thức và cải tạo thực tiễn của nền kinh tế Việt Nam trong quá trình phát triển. Cùng với
sự tổng kết của đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI trong văn kiện đã đánh dấu một mốc son lịch sử
của Việt Nam chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần, vận
hành theo cơ chế thị trường dưới sự quản lý của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Hoạt
động xây dựng kinh tế, đổi mới kinh tế những năm gần đây và mối liên hệ của nó với thực tiễn và
các quy luật triết học là trung tâm của nội dung này.
IV, CƠ SỞ LÝ LUẬN
Đại hội Đảng lần thứ VI đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong quá trình phát triển
kinh tế của Việt Nam. Trước văn kiện này, những bài học kinh nghiệm đã được rút ra trong triết học
Mác - Lênin và Đảng ta lấy đó làm “kim chỉ nam’ cho hoạt động của mình. Triết học là một bộ phận
cấu thành của chủ nghĩa Mác- Lênin đã chỉ rõ; triết học của chủ nghĩa Mác là chủ nghĩa duy vật.
Nhưng Mác không dừng lại ở chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVIII mà những thiếu sót chủ yếu nhất của
nó là máy móc, siêu hình và duy tâm khi xem xét các hiện tượng xã hội. C.Mác và F.Enghen đã khắc
phục những thiếu sót ấy, đẩy triết học tiến lên hơn nữa bằng cách tiếp thu một cách có phê phán và
có chọn lọc những thành quả của triết hoc cổ điển Đức và nhất là của hệ thống triết học Hêghen.
Trong những thành quả đó thì thành quả chủ yếu là phép biện chứng, tức là học thuyết về sự phát
triển dưới hình thức toàn diện nhất, sâu sắc nhất và thoát hẳn được tính phiến diện. Nhưng phép biện
chứng của Heeghen là phép biện chứng duy tâm nên Mác và Enghen đã cải tạo nó. Chính trong quá
Vò Ngäc Khoa
5
tiÓu luËn triÕt häc -
trình cải tạo này, Mác và Enghen đã gắn phép biện chứng Hêghen với thực tiễn, phát triển tiếp tục
chủ nghĩa duy vật cũ, đẩy nó lên thành chủ nghĩa duy vật bịên chứng.Vì vậy chính Mác và Enghen
đã xây dựng một triết học mới với thế giới quan duy vật nhất quán trong việc nhận thức xã hội. Cơ
sở của những lí luận trong học thuyết đó là những quy luật khách quan và thực tiễn xã hội (“Triết
học Mác- Lênin”- Chương trình cao cấp. Tập I;Tập san triết học).
Vậy trong quá trình xây dựng nên triết học Mác, C.Mác và Enghen đã luôn đi từ thực tiễn và
những quy luật khách quan để định hướng lý luận nghiên cứu. Những lý luận đó vì thế có cơ sở
khoa học vững chắc, không sa vào siêu hình hay nhị nguyên luận như các nhà triết học đi trước.
Để chỉ đạo hoạt động được đúng đắn, triết học Mác- Lênin chính là nền tảng bền vững cho

của con người, những điều kiện này không được giới tự nhiên mang lại dưới dạng có sẵn. Đồng thời
với quá trình đó, con người cũng phát triển và hoàn thiện bản thân mình. Chính sự cải tạo hiện thực
thông qua hoạt động thực tiễn là cơ sở của tất cả những biểu hiện khác có tính tích cực, sáng tạo của
con người. Con người không thích nghi một cách thụ động mà thông qua hoạt động của mình, tác
động một cách tích cực để biến đổi và cải tạo thế giới bên ngoài. Hoạt động đó chính là thực tiễn.
a,Hoạt động sản xuất vật chất
Là hoạt động thực tiễn quan trọng nhất của xã hội.Thực tiễn sản xuất vật chất là tiền đề xuất
phát để hình thành những mối quan hệ đặc biệt của con người đối với thế giới, giúp con người vượt
ra khỏi khuôn khổ tồn tại của các loài vật.
b.Hoạt động chính trị xã hội
Là hoạt dộng của con người trong các lĩnh vực chính trị xã hội nhằm phát triển và hoàn thiện
các thiết chế xã hội, các quan hệ xã hội làm địa bàn rộng rãi cho hoạt động sản xuất và tạo ra những
môi trường xã hội xứng đáng với bản chất con người bằng cách đấu tranh giai cấp và cách mạng xã
hội.
c. Hoạt động thực nghiệm khoa học
Là hoạt động thực tiễn đặc biệt vì con người phải tạo ra một thế giới riêng cho thực nghiệm
của khoa học tự nhiên và cả khoa học xã hội.
II, THỰC TIỄN CÓ VAI TRÒ RẤT TO LỚN ĐỐI VỚI NHẬN THỨC
Hoạt động thực tiễn là cơ sở , là nguồn gốc, là động lực, là mục đích, là tiêu chuẩn của nhận
thức.
1.Thực tiễn là cơ sở, nguồn gốc của nhận thức
Trong hoạt động thực tiễn, con người làm biến đổi thế giới khách quan, bắt các sự vật, hiện
tượng của thế giới khách quan phải bộc lộ những thuộc tính và quy luật của chúng. Trong quá trình
hoạt động thực tiễn luôn luôn nảy sinh các vấn đề đòi hỏi con người phải giải đáp và do đó nhận
thức được hình thành. Như vậy, qua hoạt động thực tiễn mà con người tự hoàn thiện và phát triển
thế giới quan( tạo điều kiện cho nhận thức cao hơn).
Qua hoạt động thực tiễn, não bộ con người cũng ngày càng phát triển hơn, các giác quan
ngày càng hoàn thiện hơn.
Thực tiễn là nguồn tri thức, đồng thời cũng là đối tượng của nhận thức.
Vò Ngäc Khoa

Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý không
phải là ý thức tư tưởng, tư duy mà là thực tiễn. Bởi vì chỉ có thông qua hoạt động thực tiễn, tri thức
mới trở lại tác động vào thế giới vật chất, qua đó nó được ”hiện thực hoá”, “vật chất hơn” thành các
khách thể cảm tính. Từ đó mới có căn cứ để đánh giá nhận thức của con người đúng hay sai, có đạt
tới chân lý hay không.
Vò Ngäc Khoa
8
tiÓu luËn triÕt häc -
Thực tiễn có rất nhiều hình thức khác nhau, nên nhận thức của con người cũng được kiểm
tra thông qua rất nhiều hình thức khác nhau.
+Thực tiễn của xã hội luôn luôn vận động và phát triển.
+Thực tiễn trong mỗi giai đoạn lịch sử đều có giới hạn. Nó không thể chứng minh hay bác
bỏ hoàn toàn một tri thức nào đó của con người mà nó được thực tiễn tiếp theo chứng minh, bổ sung
thêm.
Như vậy tiêu chuẩn thực tiễn cũng mang tính chất biện chứng và như vậy mới có khả năng
kiểm tra một cách chính xác sự phát triển biện chứng của nhận thức.
c.Ý nghĩa:
Thực tiễn lớn nhất ở nước ta hiện nay là thực tiễn xây dựng nền kinh tế thị trường mới, nền
văn hoá mới đậm đà bản sắc dân tộc và chế độ xã hội mới: công bằng, bình đẳng, tién bộ.
Trong lĩnh vực kinh tế, đường lối, chính sách hay các giải pháp kinh tế cụ thể muốn biết
đúng hay sai đều phải thông qua vận dụng chúng trong sản xuất, kinh doanh cũng như quản lý các
quá trình đó. Đường lối chính sách cũng như các giải pháp kinh tế chỉ đúng khi chúng mang lại hiệu
quả kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển, nâng cao năng suất lao động, làm cho dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, văn minh.
Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội sau những bước tiến và những thành tựu to lớn mang
lại ý nghĩa lịch sử, giờ đây lại đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết. Những hoạt động nghiên cứu lý
luận chính là nhằm tìm ra lời giải đáp cho những vấn đề của giai đoạn cách mạng hiện nay. Công
cuộc đổi mới ở nước ta vừa là mục tiêu, vừa là động lực mạnh mẽ thúc đẩy hoạt động nhận thức nói
chung và công tác lý luận nói riêng, nhất định sẽ đem lại cho chúng ta những hiểu biết mới, phong
phú hơn và cụ thể hơn về mô hình chủ nghĩa xã hội, về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status