Nhân vật chinh phụ và cung nữ trong văn học trung đại Việt Nam qua Chinh phụ ngâm và Cung oán ngân khúc - Pdf 26

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
 VŨ THỊ HOÀI

NHÂN VẬT CHINH PHỤ VÀ CUNG NỮ TRONG VĂN HỌC
TRUNG ĐẠI VIỆT NAM QUA CHINH PHỤ NGÂM VÀ
CUNG OÁN NGÂM KHÚC

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN NHO THÌN

HÀ NỘI - 2010
Vò ThÞ Hoµi
Cao häc v¨n häc K51 1 MỤC LỤC

Phần mở đầu
3
1. Lý do chọn đề tài
3
2. Lịch sử vấn đề
5
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
13
4. Phương pháp nghiên cứu
13
5. Cấu trúc luận văn
14
Chương 1: Người chinh phụ, cung nữ và số phận

42
2.1.2. Văn chương viết về người phụ nữ trước thế kỷ XVIII
51
Vò ThÞ Hoµi
Cao häc v¨n häc K51 2
2.1.2.1. Sự khinh miệt sắc đẹp của phụ nữ trong văn chương
52
2.1.2.2. Cái nhìn bất bình thường về tình yêu, tình dục trong
văn chương
53
2.1.2.3. Ca ngợi sự chung thủy hay tấm gương các liệt nữ,
thà chết để giữ gìn tiết hạnh
56
2.2. Bối cảnh văn hóa - lịch sử thế kỷ XVIII và sự nở rộ của văn học viết
về người phụ nữ
57
2.3. Ba kiểu nhân vật nữ chính giai đoạn văn học cuối thế kỷ XVIII –
đầu XIX
61
2.4. Nhân vật chinh phụ và cung nữ trong Chinh phụ ngâm và Cung oán
ngâm khúc
68
2.4.1. Nhân vật chinh phụ trong Chinh phụ ngâm
68
2.4.2. Nhân vật cung nữ trong Cung oán ngâm khúc
76
Chương 3: Kỹ thuật miêu tả tâm lý và tính nữ
3

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Truyền thống văn học Trung Quốc và Việt Nam trung đại đều viết về nỗi niềm
kiểu nhân vật phụ nữ mà người xưa gọi chung là Khuê oán. Nhưng dòng chảy văn
học không đứng im mà vận động, phát triển. Tìm hiểu sự phát triển của hai kiểu
nhân vật phụ nữ chinh phụ và cung nữ trong văn học trung đại Việt Nam cho đến
Chinh phụ ngâm và Cung oán ngâm khúc có thể giúp xác định bức tranh văn học sử
trung đại Việt Nam. Trong lịch sử văn học trung đại Việt Nam trước thế kỷ XVIII,
các tác phẩm viết về người phụ nữ rất thưa thớt. Đến đầu thế kỷ XVIII, kiểu nhân
vật này bắt đầu xuất hiện nhiều hơn, trở thành nguồn cảm hứng lớn cho các tác giả
nhà nho. Hai trong số những tác phẩm nổi bật xuất hiện đầu tiên chính là Chinh phụ
ngâm của Đặng Trần Côn và Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều. Hai khúc
ngâm này đã khơi mào dòng văn học của các nhà nho viết về phụ nữ, dẫn đến sự ra
đời của tác phẩm đỉnh cao văn học cổ điển – Truyện Kiều (Nguyễn Du). Cả hai
được các học giả đương thời đánh giá cao, lưu truyền rộng rãi và có ảnh hưởng lớn
tới các sáng tác sau này. Cho tới nay, hai tác phẩm đã được các nhà nghiên cứu tìm
hiểu kỹ ở những góc độ như vấn đề văn bản, tiếng nói phê phán chiến tranh, chế độ
cung nữ, nghệ thuật miêu tả tâm lý, thể thơ song thất lục bát… Tuy nhiên, vẫn chưa
có những công trình nghiên cứu riêng về hai tác phẩm đặt trong hệ thống nhân vật
nữ của văn học trung đại, trong sự vận động của thể loại, hình thức diễn ngôn và
đặc biệt là sự thay đổi quan niệm của tác giả nhà nho về người phụ nữ.
Giới phê bình thời sau thường có đánh giá chung về các nhà nho là những
người mang tư tưởng nam quyền, gia trưởng và khắt khe với phụ nữ, chịu ảnh
hưởng học thuyết nam quyền của Nho giáo. Tuy nhiên, nếu nhìn nhận lại, ta có thể
thấy sự phân hóa trong tầng lớp nho gia về thái độ đối với người phụ nữ. Một số tác
giả nhà nho những thế kỷ cuối thời kỳ trung đại (XVIII – XIX), có cái nhìn rất mới

oán ngâm khúc và các nhà nghiên cứu đã đánh giá cao tác phẩm ở nhiều mặt khác
nhau; tuy nhiên hầu hết các nhà phê bình từ giữa thế kỷ XX tới những thập kỷ 80
vẫn cho rằng hạn chế của hai tác phẩm này, đặc biệt Cung oán ngâm khúc, là nhiều
yếu tố nhục dục, đậm không khí nhục cảm, nhân vật chỉ biết đến tình yêu riêng tư,
Vò ThÞ Hoµi
Cao häc v¨n häc K51 5
nỗi đau thiếu thốn đời sống thân xác. Bản thân các nhà phê bình cũng đứng trên
quan điểm nam quyền để định giá, hoặc quá nhấn mạnh vào quan điểm giai cấp nên
gạt đi, hạ thấp yếu tố nữ tính. Khoảng hai thập kỷ gần đây, khi phê bình nữ quyền
xuất hiện và ảnh hưởng tới Việt Nam, cùng với việc nở rộ các tác phẩm sáng tác
mang đậm yếu tố nữ và tình dục, giới nghiên cứu bắt đầu nhìn nhận lại tính nữ trong
các sáng tác văn học. Phương pháp phê bình này gợi mở ra những lớp nghĩa thú vị,
xét lại nhiều giá trị của một số tác phẩm trung đại và hiện đại. Cũng từ phương pháp
phê bình nữ quyền gợi cho chúng tôi tìm hiểu lại giá trị nhân bản của Chinh phụ
ngâm và Cung oán ngâm khúc, thái độ tiến bộ của hai tác giả nhà nho này với người
phụ nữ xét trong hệ thống sáng tác về đề tài nữ giới thời kỳ văn học trung đại.
Với hứng thú tìm hiểu về kiểu nhân vật nữ trong thời kỳ văn học trung đại,
luận văn của chúng tôi mong muốn nghiên cứu kiểu nhân vật chinh phụ và cung nữ
từ phương diện nữ quyền. Từ đó, chúng tôi muốn nhìn nhận lại sự phân hóa của các
nhà nho trên phương diện chịu ảnh hưởng như thế nào với tư tưởng nam quyền của
Nho giáo, qua thái độ của họ với người phụ nữ. Sự phân hóa này cho thấy sự phức
tạp trong tư tưởng nho gia và sự đa dạng trong sáng tác. Nhà nho sáng tác không chỉ
đứng trên quan điểm đạo đức phong kiến mà còn đứng trên lập trường nhân sinh, tố
cáo những gì phản nhân sinh, bênh vực quyền sống của con người, đặc biệt là phụ
nữ. Thêm vào đó, người viết cũng muốn tìm hiểu thêm về kỹ thuật miêu tả tính nữ
trong hai tác phẩm này, sự đột phá cũng như các công thức miêu tả.
2. Lịch sử vấn đề

nghiên cứu rất khác nhau. Nhà phê bình Đặng Thanh Lê trong Cung oán ngâm khúc
trên bước đường phát triển của thể song thất lục bát phê phán yếu tố nhục cảm:
“Tuy nhiên, Cung oán ngâm khúc vẫn có phần chưa lành mạnh. Tràn đầy khúc
ngâm là một không khí nhục cảm. Cung nữ say sưa nói đến những hạnh phúc của
thời kỳ được sủng ái và chủ yếu là khoái cảm xác thịt với những cảm giác đắm đuối
khó tả (…) Hạnh phúc ở đây phiến diện quá, yêu cầu ấy có mặt chính đáng nhưng
quyết không thể là mặt duy nhất, cao nhất của hạnh phúc yêu đương. Tất nhiên, tâm
trạng của cung nữ phần nào được biểu hiện qua nhân sinh quan hưởng lạc của giai
cấp thống trị và quan hệ giữa cung nữ với vua không phải là quan hệ của tình yêu
mà chỉ là quan hệ nhục dục. Nhưng dù sao, cung nữ cũng khác nàng Kiều trong
trắng kiên quyết bảo vệ mối tình đầu tươi đẹp, khác cả người chinh phụ tuy rạo rực
Vũ Thị Hoài
Cao học văn học K51 7
yờu ng nhng cng rt kớn ỏo, t nh [26, tr. 2]. Nh nghiờn cu Thanh Lờ
ng trờn quan im giai cp phờ bỡnh cung n ch ngh n hng lc, nhu cu
xỏc tht, khụng cú tỡnh yờu trong sỏng.
Nguyn Trỏc v Nguyn ng Chõu trong Cung oỏn ngõm khỳc, kho thớch
v gii thiu, cng phờ phỏn phng din nhc cm, cho rng cung n luụn b ỏm
nh v tỡnh dc m khụng mt chỳt e l. ễng vit: Ton khỳc ngõm trin miờn
trong mt th gii c bit ton õn ỏi mõy ma. Mi thi con gỏi, cha bc chõn
vo cuc i, t ho v nhan sc ngi thiu n ó ngh ti: C cõy cng mun ni
tỡnh mõy ma. Hoc cho rng vn nhõn ti t cụng hu khanh tng khi nghe núi
n nng s: Tai nghe nhng mt cha nhỡn/ Bnh T Tuyờn ó ni lờn ựng ựng.
Vi nhng ý ngh tỏo bo sm n v dc tỡnh kiu y, khi c tuyn vo cung,
ngi cung n cng ch cú th hõn hoan vỡ nhng s tha nguyn v xỏc tht ().
Bi ca xỏc tht vn v y c kt thỳc bng mt ni hõn hoan khụng chỳt e l
ngng ngựng [50, tr. 45 46].

thể hiện tâm sự sâu kín ấy chính là ý nghĩa nhân bản của khúc ngâm.
Nhiều nhà nghiên cứu có cái nhìn thoáng hơn về yếu tố nhục cảm trong khúc
ngâm và đánh giá cao nghệ thuật thể hiện nữ tính của Nguyễn Gia Thiều. Trong
Mấy vấn đề đặt ra từ hội thảo khoa học về Nguyễn Gia Thiều và Cung oán ngâm
khúc, nhà nghiên cứu Nguyễn Huệ Chi viết: “Bởi vì cảm hứng nghệ thuật chủ đạo
của ông đã cố ý để cho biểu tượng cung nữ – người lấn át biểu tượng cung nữ – phụ
nữ. Nhưng ham muốn nhục cảm có phần lộ liễu đối với nàng cũng không còn gì là
quá đáng, là xa lạ với những quy phạm nghệ thuật biểu hiện nữ tính, vì chúng nằm
trong tâm lý khao khát nhục cảm vốn có của con người. Cho nên Cung oán ngâm
khúc chính là sự giãi bày tâm trạng của một con người trong mọi cảnh ngộ có thể có
về thân phận con người, cao hơn nữa, nó còn kết tinh được những cảm hứng triết
học về nỗi khổ của đời người.” [8, tr. 4].
Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử trong Giá trị hư ảo, vô nghĩa của cá nhân con
người trong Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều khẳng định yếu tố nhục
cảm là một trong những biểu hiện của quan niệm về con người cá nhân: “Ông miêu
tả cảnh hành dục không như một tội lỗi kiểu Truyền kỳ mạn lục mà như một niềm
kiêu hãnh, sung sướng. Cả ở đây con người cá nhân cũng xuất hiện như một phát
hiện lại, đi ngược giáo lý. Có thể nói thế kỷ XVIII đã xảy ra một bước ngoặt lớn
Vũ Thị Hoài
Cao học văn học K51 9
trong quan nim con ngi cỏ nhõn, lm n r mt dũng vn hc nhõn o, khỏc
vi vn hc nhõn ngha l ch o trc ú. Bc ngot lm i thay giỏ tr con
ngi y l: Trc th k XVIII cỏ nhõn ch c ỏnh giỏ trong thang bc o lý,
ngha lý, lý trớ v sc mnh tinh thn, con ngi cng cú ngh lc vn lờn bao
nhiờu, cng khc phc cỏ nhõn nh bộ, phm tc bao nhiờu thỡ cng cú giỏ tr. Bi
vỡ ngha lý, o lý, giỏo lý l cỏi thin, cũn mi th dc, lc dc, nhõn dc, nht l
tỡnh dc u l cỏi ỏc. Bõy gi tỡnh hỡnh lt ngc li. Quyn sng ca con ngi

10
Cỏc nh nghiờn cu trờn ó coi yu t xỏc tht trong khỳc ngõm l chớnh ỏng
v ỏnh giỏ cao ngh thut biu hin n tớnh m Nguyn Gia Thiu ó th hin. Dự
cha i sõu khai thỏc yu t n tớnh nhng õy l nhng úng gúp bc du trong
vic nhỡn nhn li giỏ tr khỳc ngõm xột v khớa cnh con ngi bn nng, thõn xỏc.
Vi Chinh ph ngõm, vn n tớnh ớt b ch trớch vỡ khao khỏt th xỏc khụng
c th hin sụi ni v trc tip nh trong Cung oỏn ngõm khỳc. Trong cỏc bi
nghiờn cu trc õy v ni dung v ngh thut ca khỳc ngõm, ngi chinh ph
ch yu c ỏnh giỏ v phm cht chung thy theo quan nim o c Nho giỏo
( Mc trong Chinh ph ngõm khỳc dn gii, Dng Qung Hm trong Vit Nam
vn hc s yu) hoc cỏi nhỡn phờ phỏn chin tranh (Phong Chõu trong Chinh ph
ngõm khỳc khỳc ca oỏn ghột chin tranh, Vn Tõn trong on Th im vi
Chinh ph ngõm hay l mt tỏc phm chng chin tranh). Rt ớt cỏc bi phờ bỡnh
nhỡn nhn v cao yu t n tớnh trong khỳc ngõm.
Chinh ph ngõm khỳc ging lun ca Thun Phong cú on vit: V õy l
bi hc ca to vt, ca t nhiờn:
Chng chng thy chim uyờn ni
Cng dp dỡu chng vi phõn trng.
Chng xem chim ộn trờn rng
Bc u khụng n ụi ng r nhau.
Kỡa loi sõu hai u cựng sỏnh,
N loi chim chp cỏnh cựng bay,
Liu sen l thc c cõy,
ụi hoa cựng sỏnh, ụi dõy cựng lin.
y loi vt tỡnh duyờn cũn th,
Sao kip ngi n y õy?
Mt bi hc khỏ tm thng cha chan nhng ý v phm tc, cha núi n ý
ngha khoa hc cú ch rt kh nghi. Bi hc hng th, bi hc khoỏi lc ch ngha -
ch cú th thụi! M li l cng chng cú gỡ l tha thit cho lm (). S yờu cu
hng th trong Chinh ph ngõm li cng khụng cú ý v nng nn ca nhc dc nh

Cú th thy, yu t nhc cm trong hai khỳc ngõm gõy ra nhiu ý kin trỏi
chiu i vi cỏc nh nghiờn cu. a s cỏc cõy bỳt phờ bỡnh trong giai on nh
hng mnh m ca phờ bỡnh xó hi hc giai cp ó phờ phỏn khụng khớ nhc cm
trong cỏc khỳc ngõm v quy nhõn vt vo giai cp quý tc hng lc. Cú mt thc
t rng, cỏc nh phờ bỡnh ó khụng xem xột n thỏi ca tỏc gi khi vit v cỏc
nhõn vt n ny. Giai on sau ny, mt s nh phờ bỡnh ó nhỡn nhn yu t ny
mt cỏch ci m hn, c bit xem xột nhõn vt chinh ph v cung n gúc con

(1 ) Thun Phong, Chinh ph ngõm khỳc ging lun, Vn húa xut bn, Si Gũn, 1952, tr. 33.
(2) Phm Th Ng, ng Trn Cụn vi khỳc chinh ph ch Hỏn. In trong Vit Nam vn hc s gin c tõn
biờn, tp II, Vn hc lch triu, Vit vn, Nxb ng Thỏp, in li nm 1997.

Vò ThÞ Hoµi
Cao häc v¨n häc K51 12
người đời thường chứ không đứng ở góc độ giai cấp hay đạo đức, bổn phận của
người phụ nữ.
Tìm hiểu con người trong văn chương trung đại từ quan điểm văn hóa học, dựa
trên hai phạm trù “thân” và “tâm”, nhà nghiên cứu Trần Nho Thìn đã có những đánh
giá mới mẻ về nhân vật phụ nữ. Trong nhiều bài viết, ông đã bước đầu hệ thống hóa
những kiểu nhân vật nữ giai đoạn thế kỷ XVIII, chỉ ra sự chuyển biến giữa các kiểu
nhân vật và thái độ đầy nhân bản của tác giả nhà nho khi viết về người phụ nữ. Ông
cũng đánh giá cao Nguyễn Gia Thiều và Đặng Trần Côn ở việc ngợi ca, bênh vực,
nói lên quyền sống về tình yêu, thân xác của họ. Đặc biệt bài viết Nho giáo và nữ
quyền của nhà nghiên cứu gợi mở cho chúng tôi hướng nghiên cứu sâu hơn về các
kiểu nhân vật phụ nữ trong văn học trung đại Việt Nam, nhìn nhận từ phương pháp
phê bình văn học nữ quyền. Bài tham luận này đã chỉ ra sự phân hóa trong tầng lớp
tác giả nhà nho đối với vấn đề nữ quyền. Trong bối cảnh Nho giáo Việt Nam chịu

õy l nhng kiu nhõn vt truyn thng trong vn hc phng ụng nn cn cú s
so sỏnh vi nn vn hc Trung Quc. Tuy nhiờn, do khuụn kh ca lun vn, vic
kho sỏt trờn din rng ch c trỡnh by s lc trong chng 1. Lun vn ch
yu tp trung phõn tớch hai kiu nhõn vt ny trong hai tỏc phm tiờu biu ca vn
hc Vit Nam l Chinh ph ngõm ca ng Trn Cụn v Cung oỏn ngõm khỳc ca
Nguyn Gia Thiu.
Ngoi ra, mc ớch ca lun vn l nghiờn cu hai nhõn vt ny t trong h
thng nhõn vt n vn hc trung i, soi chiu gúc tớnh n nờn chỳng tụi cng
phõn tớch i chiu vi cỏc tỏc phm vit v ngi ph n núi chung, bi t ú mi
thy rừ hn nhng úng gúp ca hai tỏc gi nh nho trong vic th hin hai kiu
nhõn vt n ny.
V vn bn khỳc ngõm dựng kho sỏt v phõn tớch, chỳng tụi nghiờn cu
da trờn vn bn ch quc õm ca Chinh ph ngõm, bn dch hin hnh in trong
sỏch Chinh ph ngõm, Li Ngc Cang kho thớch v gii thiu. i vi Cung oỏn
ngõm khỳc, chỳng tụi la chn vn bn in trong cun Ngõm khỳc Vit Nam chn lc
do Nh xut bn Vn hc chu trỏch nhim biờn tp v in n, xut bn nm 2008.
4. Phng phỏp nghiờn cu
tỡm hiu nhõn vt chinh ph v cung n trong hai khỳc ngõm, nhng nhõn
vt n thuc v thi k trung i, nờn chỳng tụi la chn phng phỏp tip cn vn
Vũ Thị Hoài
Cao học văn học K51 14
húa hc, da trờn hai phm trự m ngi xa dựng nhỡn nhn v con ngi: thõn
v tõm.
Chỳng tụi nghiờn cu hai kiu nhõn vt t gúc gii nờn cng ỏp dng
phng phỏp phờ bỡnh vn hc n quyn. Trờn th gii, phờ bỡnh vn hc n quyn
bt u thnh hnh t cui thp niờn 1960 v u thp niờn 1970 cựng vi cuc cỏch
mng n quyn rm r. Vit Nam, phờ bỡnh vn hc n quyn mi ch c ỏp

2.4. Nhân vật chinh phụ và cung nữ trong Chinh phụ ngâm và Cung oán ngâm khúc
Chương 3: Kỹ thuật miêu tả tâm lý và tính nữ

PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
NGƯỜI CHINH PHỤ, CUNG NỮ VÀ SỐ PHẬN CỦA
HỌ TRONG LỊCH SỬ VÀ VĂN HỌC
1.1. Người chinh phụ trong lịch sử và văn học
1.1.1. Khái niệm
Từ “chinh phụ” được hiểu theo nghĩa chung là vợ của những người ra trận
chinh chiến. Theo Từ điển tiếng Việt: “Chinh phụ là vợ của người đàn ông đang đi
đánh trận thời phong kiến”
(1)
. Tuy nhiên, từ Hán Việt này thường được dùng trong
văn chương nhà nho theo một nghĩa trang trọng, chỉ phu nhân của những người có
chức tước đi đánh trận phương xa. Họ không phải là những nông dân lam lũ, có đời
sống vật chất thiếu thốn. Chẳng hạn trong ca dao, người vợ có chồng ra trận mạc
được gọi một cách dân dã là người “vợ lính”:
Kìa ai tiếng khóc nỉ non,
Ấy vợ lính mới trèo hòn Đèo Ngang.
Chém cha cái giặc chết hoang,

(1) Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, 2010, 1562 trang.
Vò ThÞ Hoµi
Cao häc v¨n häc K51 16
Làm cho thiếp phải gánh lương theo chồng.
Gánh từ xứ Bắc, xứ Đông


17
kỳ trung đại. Thuật ngữ chinh phụ sau này không còn được sử dụng trong văn học
hiện đại và lời ăn tiếng nói hàng ngày của người dân.
1.1.2. Một số gương chinh phụ được nhắc đến trong lịch sử trung đại Việt Nam
Trong sử sách Việt Nam rất ít khi ghi chép về các nhân vật nữ, ngay cả những
nhân vật nữ trong triều đình như hoàng hậu, phi tần, công chúa Những nhân vật
được ghi danh phải là các nữ anh hùng như Bà Triệu, Trưng Trắc, Trưng Nhị,
Bùi Thị Xuân… Tuy nhiên trường hợp đặc biệt, một số người phụ nữ bình thường
lại được ghi tên vào sử sách và được vua quan và nhân dân lập miếu thờ. Đó là
những chinh phụ tuẫn tiết khi biết tin chồng mình đã thiệt mạng nơi chiến trường.
Chẳng hạn như trong Thần nữ và liệt nữ Việt Nam, nhắc đến gương một người vợ
tuẫn tiết theo chồng. Đó là bà Phan Thị Thuấn, quê ở làng Trảo Nha, huyện Can
Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Bà là vợ thứ 3 của ông Ngô Cảnh Hoàn. Ông là tướng quân nhà
Trịnh, dưới quyền của Hoàng Phùng Cơ, được giao trấn giữ ở bến Thúy Ái, huyện
Thanh Trì, Hà Nội. Quân Tây Sơn tiến ra Bắc để lật đổ họ Trịnh. Trịnh Khải bỏ
chạy, quân Lê Trịnh tan tác, riêng có Ngô Cảnh Hoàn cố cầm cự trên sông nhưng
cũng trúng đạn mà tử trận. Cả họ hàng và làng quê thương khóc, riêng bà Thuấn,
lúc ấy 20 tuổi, vẫn thản nhiên như không có chuyện gì. Bà thu xếp đưa mấy người
họ hàng ra Bắc đến chùa Kiến Sở ở làng Phù Đổng, làm lễ cáo gia tiên, vĩnh biệt họ
hàng, nói những lời tuyệt mệnh: “Chồng chết vì việc nước, tôi xin đi theo để trọn
nghĩa cùng chồng”. Nói xong, chèo thuyền con ra giữa dòng, gieo mình xuống
nước. Vua Lê Chiêu Thống phong bà là Tiết liệt phu nhân. Nhân dân lập đền thờ bà
ở bến Thúy Ái. Sau này trong sách Đại Nam thực lục chính biên có ghi “Năm Tự
Đức thứ 12, có lệnh dựng bia liệt nữ Phan Thị Thuấn” [9, tr. 281].
Cuốn Thần nữ và liệt nữ Việt Nam còn nhắc đến thiếu phụ Vũ Thị Thiết quê ở
Nam Xương (Lý Nhân, Hà Nam). Nàng là nhân vật có thật, được ghi trong sử sách
và cũng đi vào văn học (Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ). Nàng là người con gái
xinh đẹp, lại nết na, cưới chồng chưa được bao lâu thì chồng đi đánh giặc Chiêm
Thành. Đêm đêm ở nhà nàng thường chỉ bóng mình trên vách bảo đứa con nhỏ rằng

Bi th Bỏ h trong Kinh thi:
Chng l ngi uy v anh hựng
Ti nng tri nht trong nc ny
Vò ThÞ Hoµi
Cao häc v¨n häc K51 19
Cây thù cầm chắc trong tay
Tiên khu đột trận ra tài giúp vua
Từ ngày chàng tách sang đông,
Đầu em rối tựa hoa bồng cuộn bay
Há không thoa sáp, gội cài?
Vắng chàng, trang điểm cho ai ngắm nhìn?
Bài thơ rất nổi tiếng ở Trung Quốc, có ảnh hưởng mạnh tới các thi nhân sau
này. Nhiều nhà thơ khi viết về hình ảnh chinh phụ nhớ chồng hoặc cô gái xa người
yêu đã sử dụng tứ thơ “thủ như phi bồng” và “thùy đích vi dung”. Mô típ đầu bù tóc
rối không chải chuốt, mặt mộc không phấn son vì vắng chàng cũng được Đặng Trần
Côn lặp lại trong Chinh phụ ngâm để tạo nên những hình ảnh thơ có sức khơi gợi.
Đời Đường là thời kỳ phát triển rực rỡ của thơ ca Trung Quốc với rất nhiều
nhà thơ tài năng. Đặc biệt rất nhiều thi nhân thời này sáng tác theo cảm hứng lãng
mạn như Lý Bạch, Vương Xương Linh, Nhiều sáng tác của họ đề cập tới tình yêu
lứa đôi, nỗi buồn ly biệt, nỗi nhớ nhung, chờ đợi. Các tác giả Trung Quốc có riêng
một dòng thơ khuê oán xuyên suốt nhiều giai đoạn. Trong đó, thơ viết về chinh phụ
cũng không ít. Những sáng tác này ảnh hưởng mạnh mẽ tới sáng tác của Đặng Trần
Côn. Một trong những bài thơ Đường để lại dấu ấn trong Chinh phụ ngâm là Khuê
oán của Vương Xương Linh:
Thiếu phụ ở chốn khuê phòng
Không biết đến nỗi buồn rầu
Ngày xuân trang điểm xong bước lên lầu thúy

Ở Việt Nam, dù chiến tranh thường xuyên diễn ra nhưng cho tới thế kỷ XVIII,
rất ít các bài thơ nói về nỗi niềm của người chinh phụ. Có thể do đặc điểm của thơ
văn Việt Nam không đề cập tới tình cảm ủy mị, vì trong các thế kỷ đầu chống giặc
ngoại xâm, các tác giả nhà nho chỉ nói lên chí khí của người anh hùng trận mạc.
Cũng thật khó kiếm một bài thơ viết về chinh phu với nỗi nhớ vợ như trong thơ
Đường, chẳng hạn: “Người lính thú ngắm nhìn cảnh sắc nơi biên giới/Lòng nhớ nhà
vì nghĩ đến ngày về nét mặt cau có đau buồn” (Quan san nguyệt, Lý Bạch). Đấng
nam nhi không bộc lộ tình cảm riêng tư, yếu đuối mà thường là thể hiện chí khí làm
trai. Nhân vật chinh phụ ít khi được nhắc đến cũng là tình trạng chung của văn học
Vò ThÞ Hoµi
Cao häc v¨n häc K51 21
viết về người phụ nữ trước thế kỷ XVIII. Sáng tác của các nhà nho các thế kỷ đầu
chủ yếu là nói chí, đạo trong khi nhà sư bàn nhiều về tâm đạo, sắc không.
Nếu như văn học viết thiếu vắng đề tài chinh phụ, văn học dân gian lại có rất
nhiều bài thơ viết về cảnh đi lính và nỗi niềm của người vợ lính. Đó là tiếng than
bộc trực, tự nhiên của những người vợ ở quê nhà trông ngóng chồng:
Lính vua, lính chúa, lính làng
Nhà vua bắt lính cho chàng phải ra…
Rủ nhau ra chợ Quỳnh Lâm,
Vai đỗ gánh xuống, hỏi thăm tin chồng.
Xót xa như muối bóp lòng,
Nửa muốn theo chồng, nửa bận con thơ
Ca dao thường đề cập tới nỗi khổ vật chất của những người vợ lính nhiều hơn
là nỗi sầu cô quạnh. Chị em phải tất bật quanh năm cấy hái, nuôi mẹ già con trẻ. Đó
là tiếng lòng của một người vợ đảm:
Anh ơi! phải lính thì đi,
Cửa nhà đơn chiếc đã thì có tôi.

Dịch nghĩa:
Cỏ trước sân đã thành khóm, hàng liễu đã buông tơ
Ngày về định lúc nào hỡi khách chinh phu?
Nửa bức rèm thưa, trông trăng tàn lòng thêm não nuột
Năm canh gối lạnh, nghe tiếng quốc kêu mà rơi lệ
Ải bắc mây tràn, thương thân nhạn lẻ
Giang Nam xuân hết, nỗi mày xanh phai nhạt
Biết bao lần lòng tương tư trong mộng
Mơ đến gần chàng, chàng có thấu tình chăng?
Bài thơ viết theo thể Đường luật thất ngôn bát cú, mang ảnh hưởng của thơ ca
Trung Quốc. Nhân vật trữ tình là thiếu phụ nơi khuê phòng cô đơn trong đêm trăng,
buồn sầu nghe tiếng quốc kêu, mơ thấy lang quân trong mộng… Bài thơ dung lượng
ngắn nên chỉ thể hiện một khoảnh khắc của tâm trạng chứ không diễn tả nỗi niềm
triền miên, suy tư dằn vặt, trăn trở như các khúc ngâm sau này. Tuy nhiên, điều
đáng quý là giữa một rừng thơ nói chí xuyên suốt nhiều thế kỷ, Thái Thuận đã để lại
một tác phẩm hiếm hoi viết về nỗi niềm của người phụ nữ, tình cảm riêng tư và sâu
kín trong chốn khuê phòng.
Trong văn học viết, bi kịch người chinh phụ cũng được đề cập tới trong tác
phẩm nổi tiếng của Nguyễn Dữ. Nhân vật Vũ Thị Thiết trong truyện truyền kỳ
Người con gái Nam Xương, sau bao năm chờ chồng đi chinh chiến trở về, lại bị
chồng ruồng rẫy vì ghen tuông và hiểu lầm. Nàng đã gieo mình xuống sông tự tử để
chứng minh tiết hạnh. Cái chết của thiếu phụ có thật trong lịch sử này đã được
người xưa ngợi ca, tôn nàng là liệt nữ. Lê Thánh Tông làm bài Hoàng Giang điếu
Vũ Nương và Điếu Vũ Nương tán thành và ca ngợi hành động xả thân thủ nghĩa của
nàng: “Ngàn lau san sát cỏ xanh xanh/ Sảy nhớ ngày xưa kẻ tiết trinh”.
Tác giả Ngô Thì Ức (1709 – 1736) cũng có một bài thơ vịnh về Vũ Nương, Đề
Vũ Nương miếu [18, tr. 44]:
Tiết sương tháo giá ruột gan vàng,

Trích đoạn Người cung nữ trong lịch sử và văn học Phụ nữ trong quan niệm của Nho giáo và trong văn học của các nhà nho trước thế kỷ X Ba kiểu nhân vật nữ chính giai đoạn văn học cuối thế kỷ XVIII – đầu Nhân vật chinh phụ và cung nữ trong Chinh phụ ngâm và Cung oán ngâm khúc Những công thức miêu tả tính nữ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status