HỆ THỐNG NHÂN VẬT VÀ THI PHÁP THỂ HIỆN CHÚNG TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ THẾ KỈ X ĐẾN THẾ KỈ XV - Pdf 35

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ GIANG

HỆ THỐNG NHÂN VẬT VÀ THI PHÁP THỂ HIỆN
CHÚNG TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN TỪ THẾ KỈ X ĐẾN THẾ KỈ XV
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 62 22 34 01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS TRẦN NHO THÌN

HÀ NỘI - 2014


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận án này là trung thực và chưa
từng được công bố trong bất kì công trình nào trước đó. Nếu vi phạm tôi
xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, ngày ….tháng ….. năm 2014
Tác giả Luận án

Nguyễn Thị Giang


MỤC LỤC

2.3.2. Phân tích nhân vật thiền sư Huyền Quang qua cái nhìn của tác giả
“Tam Tổ thực lục” ................................................ Error! Bookmark not defined.

2.3.3. Thi pháp thể hiện nhân vật thiền sư Huyền Quang trong “Tổ gia thực lục”Error! Bookma
Tiểu kết chương 2 .................................................... Error! Bookmark not defined.

1


CHƯƠNG 3: NHÂN VẬT LIỆT NỮ ..................... Error! Bookmark not defined.
3.1. Câu chuyện về nàng liệt nữ Mỵ Ê và thực tế lịch sửError! Bookmark not defined.
3.1.1. Khảo sát sự tích về Mỵ Ê ............................ Error! Bookmark not defined.
3.1.2. Những ghi chép của chính sử về người liệt nữ Error! Bookmark not defined.

3.1.3. Câu chuyện nhân vật Mỵ Ê nhìn từ góc nhìn lý luận nghiên cứu giớiError! Bookmark
3.2. Nghệ thuật thể hiện nhân vật liệt nữ Mỵ Ê ..... Error! Bookmark not defined.
3.2.1. Ngoại hình................................................... Error! Bookmark not defined.
3.2.2. Ngôn ngữ ....................................................... Error! Bookmark not defined.
3.2.3. Tâm lí ........................................................... Error! Bookmark not defined.
3.2.4. “Mô típ chọn cái chết” ............................... Error! Bookmark not defined.
3.2.5. Hình mẫu Mỵ Ê và sự tiếp nối cảm hứng ... Error! Bookmark not defined.
Tiểu kết chương 3 ..................................................... Error! Bookmark not defined.
CHƯƠNG 4: NHÂN VẬT HOÀNG ĐẾ ................ Error! Bookmark not defined.
4.1. Quan niệm về hoàng đế trong bối cảnh văn hóa, xã hội, chính trị thời
trung đại ................................................................... Error! Bookmark not defined.

4.2. Cội nguồn văn hóa của “mô hình” hoàng đế sáng tác văn chươngError! Bookmark no
4.2.1. Từ quan niệm về văn học…......................... Error! Bookmark not defined.

4.2.2… Đến thực tế sáng tác thơ ca của Hoàng đế Lê Thánh TôngError! Bookmark not def

Giáo dục

Hà Nội:

H

HĐQATT:

Hồng Đức Quốc Âm thi tập

KHXH:

Khoa học xã hội

NCVH:

Nghiên cứu văn học

NXB:

Nhà xuất bản

TCVH:

Tạp chí văn học

TGTL:

Tổ gia thực lục


văn học ngay cả khi nhà văn viết về loài vật hay đề vịnh cây cỏ. Và trong tác phẩm
văn học, dù là văn xuôi hay thơ, nhân vật chính là kết tinh của quan niệm về con
người của tác giả, của một giai đoạn văn học. Nếu nói nhân vật là phương tiện để
khái quát hiện thực thì “văn học không thể thiếu nhân vật. Bởi vì đó là hình thức cơ
bản để qua đó văn học miêu tả thế giới một cách hình tượng”. Nhân vật còn là kết
quả tương tác giữa chủ thể và khách thể - chủ thể được hiểu là kiểu tác giả với tư
tưởng chính trị, đạo đức và quan niệm về thẩm mĩ; khách thể chính là những vấn đề
của thời đại lịch sử đặt ra cho con người. Nhưng con người không phải từ trên trời
rơi xuống, cũng không phải nhất thành bất biến mà là một thực thể có tính lịch sử,
thay đổi qua thời gian. Nghiên cứu vấn đề con người trong văn học trung đại Việt
Nam nói riêng và văn học Việt Nam nói chung hiện vẫn rất đang là đề tài có ý nghĩa
khoa học. Nhân vật thể hiện quan niệm về con người của tác giả. Và quan niệm về
con người bao giờ cũng là sản phẩm của một nền văn hóa nhất định. Mỗi dân tộc,
mỗi thời đại lịch sử lại có những quan niệm riêng về con người do các quan niệm
chính trị, đạo đức, tôn giáo, thẩm mỹ riêng chi phối. Do đó, để nghiên cứu con
người trong văn học Việt Nam nói chung, cần tìm hiểu con người trong văn học
trung đại. Và để khái quát về con người trong văn học trung đại, cần phải xem xét con
người của từng giai đoạn như là chuẩn bị “nền móng” cho sự xây dựng bức tranh chung
về con người của cả thời đại văn học này. Tuy rằng văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết
thế kỉ XIX nằm trong phạm trù văn học trung đại nhưng giữa các giai đoạn khác nhau, hệ
thống nhân vật cũng có những điểm khác nhau. Giai đoạn đầu tiên có một vị trí định hình
đặc biệt, báo hiệu đường hướng phát triển của các giai đoạn sau. Đó là lí do đầu tiên thôi
thúc chúng tôi lựa chọn đề tài Hệ thống nhân vật và thi pháp thể hiện chúng trong
văn học trung đại Việt Nam giai đoạn từ thế kỉ X đến thế kỉ XV.
1.2. Nghiên cứu con người trong một giai đoạn văn học tuy đã được giới
nghiên cứu văn học nước ta quan tâm từ lâu, nhưng nhu cầu nghiên cứu một cách hệ
thống hầu như chưa được đặt ra.


Thế nào là nghiên cứu nhân vật một cách hệ thống ? Chúng tôi quan niệm tính


“tú khí” do núi sông chung đúc. Ngoài ra, bất cứ con người thuộc tầng lớp, giai cấp
nào, thời đại nào, tôn giáo nào cũng mang một kiểu văn hóa ứng xử như thế nào đó
đối với thân xác và tâm lý của bản thân mình. Nhìn con người như thế là nhìn từ góc
nhìn nhân học văn hóa mà nghiên cứu là vấn đề văn học quan tâm.
Vì thế mà để nghiên cứu nhân vật của bất kì giai đoạn văn học nào, ít nhất
cũng cần phải tiếp cận chúng từ các góc nhìn mang tính hệ thống như vậy.
1.3. Nguyên tắc xác định hệ thống nhân vật:
Hệ thống nhân vật trong VHTĐVN giai đoạn X-XV phong phú và đa dạng:
nam nhi- quý tộc- vua quan - nhà nho - ẩn sĩ- thiền sư- phụ nữ…Như chúng ta biết,
nhân vật chính trong triều đình thời độc lập là các nhà sư. Điều này cũng dễ lí giải
bởi đó là thời điểm Phật giáo đang trên đà phát triển, ảnh hưởng của nó trùm khắp
xã hội. Và nhà sư cũng trở thành “nhân vật” chính trong văn học vài thế kỉ đầu. Nhà
sư gồm nhiều kiểu loại theo những tiêu chí khác nhau: Đại sư (Khuông Việt, Mãn
Giác), Quốc sư (Đỗ Pháp Thuận, Vạn Hạnh, Viên Thông…), Tổ sư (Trần Nhân
Tông, Pháp Loa, Huyền Quang), Thiền sư (Vạn Hạnh, Huyền Quang, Viên Chiếu,
Mãn Giác, Từ Đạo Hạnh, Dương Không Lộ…), Cư sĩ (Thông Sư, Ứng Vương), Ni
sư (Diệu Nhân).
Các ông vua và vương hầu nhà Trần lại chính là những vị thiền sư thông tuệ
nhất: Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ, Trần Nhân Tông…Trong triều đình,
thay thế địa vị của các nhà sư trong buổi đầu là quý tộc, võ tướng. Vai trò của quý tộc
nhà Trần thực sự nổi bật trong đời sống của đất nước. Trong ba cuộc chiến thắng
chống quân Nguyên- Mông, chính họ là những người xứng đáng có công đầu. Vào
giai đoạn hưng thịnh của mình, nhà Trần đã có một thế hệ tôn thất quý tộc đầy tài
năng và lòng kiêu hãnh, thật sự là bộ phận tinh hoa của đất nước. Họ là những võ
tướng tài ba nơi sa trường, là những người quản lí đất nước, là những thi sĩ, học giả
đáng kính, là những thiền sư cao đạo. Ở họ có sự dung hòa giữa tinh thần phóng
khoáng của giới võ tướng, tính chất thâm trầm nhưng rộng rãi của văn hóa Phật giáo
và cả cái gọi là trung liệt của Nho gia. Có thể kể đến những nhân vật như Trần Thủ
Độ, Trần Quang Khải, Trần Quốc Tuấn, Trần Ích Tắc, Phạm Ngũ Lão…Đến khi Hồ

đều biết, Hưng Đạo Vương nuôi trong nhà khá nhiều môn khách trong đó có những
người như Trần Thì Kiến, Trương Hán Siêu, Phạm Lãm, Trịnh Dũ, Ngô Sĩ Thường,
Nguyễn Thế Trực… đều do văn chương chương chính sự nổi tiếng với đời. Trần Ích


Tắc, một vương hầu nuôi tham vọng đoạt ngôi cũng chiêu mộ khá nhiều nho sinh.
Hoặc đời Trần Minh Tông thì đội ngũ nho sĩ trong triều đã khá hùng hậu: “bấy giờ
quan ở trong triều như bọn Trần Thì Kiến, Đoàn Nhữ Hài, Đỗ Thiên Hứ, Mạc Đĩnh
Chi, Nguyễn Dũ, Phạm Mại, Phạm Ngộ, Nguyễn Trung Ngạn, Lê Quát, Phạm Sư
Mạnh, Lê Duy…, Trương Hán Siêu, Lê Cự Nhân, nối nhau làm quan, nhân tài đầy
rẫy” [75; tr357]. Đấy là chưa kể sự xuất hiện của hàng loạt các danh nho như
Trương Hán Siêu, Nguyễn Sưởng, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Ức, Nguyễn Trung Ngạn,
Chu Văn An, Phạm Sư Mạnh, Lê Quát, Nguyễn Phi Khanh...Sang thế kỉ XV, Nho
giáo đã trở thành quốc giáo, giữ địa vị độc tôn thì nho sĩ đã trở thành một lực lượng
hùng hậu, chiếm đại đa số trong các hoạt động chính trị, xã hội, văn học. Hai nhà
văn vĩ đại của thế kỉ này là Nguyễn Trãi và Lê Thánh Tông đã lựa chọn Nho giáo và
thực thi Nho giáo một cách triệt để nhất trong lẽ sống, mục đích sống của mình và
dân tộc. Và có thể khẳng định “nhân vật” chính của văn học thế kỉ XV là nhà Nho.
Trong cả một giai đoạn dài như vậy, trước thực tế nhiều kiểu loại nhân vật đa
dạng, theo chúng tôi, có hai nguyên tắc cần chú ý khi chọn nhân vật như đối tượng
nghiên cứu: Thứ nhất, các nhân vật đó cho thấy xu thế vận động của văn học tiến đến
trạng thái điển hình của văn học chức năng, văn học chính thống quan phương của nhà
nho. Từ ba loại hình nhân vật thiền sư, liệt nữ, hoàng đế mà luận án nghiên cứu chúng
ta thấy văn học trung đại Việt Nam giai đoạn X-XV có sự vận động. Nếu Huyền Quang
là một thiền sư có yếu tố nho gia vì bản thân ông ta trước khi đi tu đã là một nhà nho,
thi đỗ làm quan, hơn nữa bấy giờ tuy Phật giáo là quốc giáo nhưng trên cơ sở tam giáo
đồng nguyên; đến Mỵ Ê thì đã là một diễn ngôn Nho giáo hay chí ít cũng bị Nho giáo
hóa; còn Lê Thánh Tông là một hoàng đế - nhà nho một trăm phần trăm. Đây rõ ràng là
giai đoạn của văn học nhà nho tiến đến điển phạm hóa. Điều này phản ánh văn hóa Việt
Nam chuyển động từ văn hóa đa nguyên (tam giáo) sang văn hóa nhất nguyên (Nho

Huyền Quang.
Về con người nhìn từ quan điểm chính trị -giai cấp, chúng tôi chọn khảo sát
kiểu nhân vật tiêu biểu -nhân vật hoàng đế, cụ thể là nhân vật Lê Thánh Tông qua
các sáng tác của chính ông và của các tác giả khác cùng thời viết về ông. Đây là
nhân vật vốn đã hiện diện trong sử sách và sáng tác văn học rất sớm, từ đời Lí,
nhưng phải đến Lê Thánh Tông thì ta mới có được hình mẫu tiêu biểu. Tất nhiên,


nói đến con người giai cấp thì phải đề cập đến cả tầng lớp bị trị, dưới đáy xã hội, tuy
nhiên, vì các sáng tác trung đại giai đoạn này là sáng tác của tầng lớp trên nên kiểu
nhân vật đại diện cho nông dân hầu như rất mờ nhạt, vắng bóng. Về các nhân vật
trung gian, thiên về tầng lớp trên như trí thức nho sĩ, nhà nho hành đạo và nhà nho
ẩn dật thì đã có quá nhiều luận văn các cấp nghiên cứu. Nhân vật hoàng đế tiêu biểu
cho một triều đại, một thể chế chính trị, mang quan điểm đạo đức, nhân cách của
giai cấp thống trị, thể hiện đường lối văn hóa chính trị, thể hiện quan điểm chính trị,
đạo đức, thẩm mỹ chính thống của một triều đại. Nghiên cứu nhân vật hoàng đế trong
văn học trung đại lại chưa được giới nghiên cứu quan tâm đúng mức nên luận án định
hướng tìm hiểu nhân vật này. Sự tìm hiểu nhân vật hoàng đế sẽ giúp hình dung không
những đường lối chính trị, mô hình nhân cách của người xưng là thiên tử, đứng đầu một
triều đình phong kiến chuyên chế tập quyền mà cũng có thể góp phần hiểu thực chất quan
niệm văn học của giai cấp phong kiến thống trị và đời sống văn học cung đình dưới sự
trị vì của nhân vật hoàng đế. Nhân vật hoàng đế như một điển hình nghệ thuật này hiện
ra như thế nào trong thơ văn của chính ông ta và của những người khác viết về ông ta,
có quan hệ như thế nào với sự nghiệp trị vì của ông ta ? Những tri thức này rất quan
trọng để so sánh với quan niệm văn học hay tư tưởng chính trị được phát biểu bởi các
tác giả văn học nhân đạo khác trong tư cách là thần dân, nhất là trong giai đoạn xã hội
phong kiến suy yếu, khủng hoảng.
Nhân vật nhìn theo quan điểm văn hóa về ứng xử giới tất nhiên cần được khảo
sát từ góc độ cả hai giới: giới nam và giới nữ. Tuy nhiên, các vấn đề của nhân vật nam
giới, cái nhìn nam giới đã tích hợp trong bản thân hai nhân vật Huyền Quang và Lê

3.

Lại Nguyên Ân (1997), “Các thể tài chức năng trong Văn học trung đại Việt
Nam”, Tạp chí Văn học (1), tr.56-60.

4.

Lại Nguyên Ân- Bùi Văn Trọng Cường (1995), Từ điển Văn học Việt NamQuyển I, nhà xuất bản Giáo Dục, Hà Nội.

5.

Ngô Vũ Hải Bằng (2008), Quyền lợi của người phụ nữ trong bộ luật Hồng
Đức, />
6.

Đào Phương Bình (1965), “Phi Khanh và thơ Phi Khanh”, Tạp chí Văn học
(4), tr.11-14.

7.

Đào Phương Bình, Phạm Tú Châu, Nguyễn Huệ Chi...(1977), Thơ văn LýTrần, Tập I, nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội.

8.

Đào Phương Bình, Nguyễn Đức Vân…(1988), Thơ Văn Lý- Trần, Tập II
(Quyển thượng), nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội.

9.

Phạm Tú Châu (1997), “Thơ thiên nhiên trong thơ chữ Hán Lê Thánh Tông”,

15.

Nguyễn Huệ Chi (1978), “Các yếu tố Nho, Phật, Đạo được tiếp thu và chuyển
hóa như thế nào trong đời sống và tư tưởng văn học Lý- Trần”, Tạp chí Văn
học (6), tr.76-94.

16.

Nguyễn Huệ Chi, Đỗ Văn Hỷ, Trần Thị Băng Thanh…(1978), Thơ văn LýTrần, Tập III, nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội.

17.

Nguyễn Huệ Chi (1986), “Nghĩ về văn học đời Lý”, Tạp chí văn học (6), tr.96-104.

18.

Nguyễn Huệ Chi (1987), “Mãn Giác và bài thơ thiền nôi tiếng của ông”, Tạp
chí Văn học, (5), tr.67-72.

19.

Nguyễn Huệ Chi (1988), “Đề nghị một cách hiểu mối quan hệ giữa văn học
đời Trần và cuộc kháng chiến chống xâm lược đời Trần”, Tạp chí Văn học
(3&4), tr.48-60.

20.

Đào Phương Chi (2006), Nghiên cứu văn bản VĐUL và quá trình chuyển
dịch của văn bản, Luận án Tiến Sĩ Ngữ Văn, Viện nghiên cứu Hán Nôm, Hà
Nội.


27.

Nguyễn Dữ (1988), Truyền kì mạn lục (Trúc Khê Ngô Văn Triện dịch), nhà
xuất bản Văn Nghệ, Thành Phố Hồ Chí Minh

28.

Trần Trọng Dương (2010), “Khảo về văn hiến Đại Việt qua trường hợp
hoàng đế Lê Thánh Tông”, bài tham dự Hội thảo Các nhà khoa học trẻ tại
Viện khoa học xã hội Việt Nam- nhân 1000 năm Thăng Long, ngày
22/09/2010 (bản quyền tác giả chưa công bố).

29.

Thích Phước Đạt (2008), “Giá trị tư tưởng Thiền học trong “Cư trần lạc đạo phú”
của Trúc Lâm Đầu Đà Trần.Tông”, Tạp chí Văn học (2), tr.5-9.

30.

Hà Minh Đức, Bùi Duy Tân, Lại Văn Hùng…(2007), Lê Thánh Tông- tác
gia và tác phẩm, nhà xuất bản Giáo Dục, Hà Nội.

31.

Trần Văn Giáp (1968), “Lược khảo sách Việt điện u linh”, Nghiên cứu Văn học (12),
tr.22-38.

32.


Nguyễn Văn Hạnh (2006), “Quan hệ giữa tôn giáo và thơ trong thế giới biểu
tượng”, Tạp chí Văn học (9), tr.55-65.

39.

Võ Thị Hảo (2004), Giàn thiêu, nhà xuất bản Phụ nữ, Hà Nội.


40.

Lưu Hiệp (1997), Văn Tâm Điêu Long, nhà xuất bản Văn học, Hà Nội.

41.

Nguyễn Duy Hinh (1986), “Hệ tư tưởng Trần”, Tạp chí nghiên cứu lịch sử, (4).

42.

Nguyễn Duy Hinh (1992), “Phật giáo với văn học Việt Nam”, Tạp chí Văn học (4).

43.

Nguyễn Duy Hinh (1998), Lịch sử đạo Phật Việt Nam, nhà xuất bản Tôn
Giáo, nhà xuất bản Từ Điển Bách Khoa.

44.

Nguyễn Duy Hinh (1999), Tư tưởng Phật giáo Việt Nam, nhà xuất bản KHXH, Hà
Nội.



51.

Kiều Thu Hoạch (1965), “Tìm hiểu thơ văn của các nhà sư Lý- Trần”, Tạp
chí Văn học (6), tr.64-71.

52.

Nguyễn Phạm Hùng (1986), “Thơ Thiền và việc lĩnh hội thơ Thiền đời Lý”,
Tạp chí Văn học (4), tr.39-44.

53.

Nguyễn Phạm Hùng (1996), “Dương Không Lộ- thiền sư- thi sĩ”, Nghiên cứu
Phật học (4&5), tr.34-37, tr.26-27.

54.

Nguyễn Phạm Hùng (1998), Thơ Thiền Việt Nam- những vấn đề lịch sử và tư
tưởng nghệ thuật, nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

55.

Nguyễn Phạm Hùng (2008), Các khuynh hướng văn học thời Lý- Trần, nhà
xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.


56.

Lại Văn Hùng (2001), “Truyện ngắn nhìn trong nguồn mạch”, Tạp chí Văn

Trần Trọng Kim (2008), Việt Nam sử lược (tái bản), nhà xuất bản Văn học, Hà
Nội.

63.

Hoàng Cao Khải (2007), Việt sử yếu (Bản dịch), nhà xuất bản Nghệ An.

64.

Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân…(2004), Văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến
đầu thế kỉ XVIII, nhà xuất bản Giáo Dục, Hà Nội.

65.

Phan Khôi (1929), “Văn học với nữ tánh”, Phụ nữ tân văn, S2, Sài Gòn.

66.

Phan Khôi (1929), “Chữ trinh: Cái tiết với cái nết”, Phụ nữ tân văn, S21, Sài Gòn.

67.

Phan Khôi (1931), “Tống Nho với phụ nữ”, Phụ nữ tân văn, S9, Sài Gòn.

68.

Phan Khôi (2005), Tác phẩm đăng báo 1929 (Lại Nguyên Ân sưu tầm, biên
soạn), nhà xuất bản Đà Nẵng- Trung tâm Ngôn Ngữ Văn Hoá Đông Tây.

69.

75.

Ngô Sĩ Liên (2009), Đại Việt sử ký toàn thư (trọn bộ), nhà xuất bản Văn Hoá
Thông Tin, Hà Nội.

76.

Phương Lựu (1985), Về quan niệm văn chương cổ Việt Nam, nhà xuất bản
Giáo Dục, Hà Nội.

77.

Phương Lựu (1990), Góp phần xác lập hệ thống quan niệm Văn học trung đại
Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Khoa học Ngữ Văn, Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội

78.

Phương Lựu (2005), Phương Lựu tuyển tập, tập I, nhà xuất bản Giáo Dục, Hà
Nội.

79.

I.X.Lixevich (2000), Tư tưởng văn học cổ Trung Quốc (Trần Đình Sử dịch),
nhà xuất bản Giáo Dục, Hà Nội.

80.

Đặng Thai Mai (1974), “Mấy điều tâm đắc trong khi đọc lại văn học của một
thời đại”, Tạp chí Văn học (6), tr.8-15.



Thông Tin, Hà Nội.

87.

Đỗ Văn Ninh (2002), Từ điển quan chức Việt Nam, nhà xuất bản Thanh Niên,
Hà Nội.

88.

Nguyễn Tôn Nhan (2002), Bách khoa thư Văn hoá cổ điển Trung Quốc, nhà
xuất bản Văn Hoá Thông Tin, Hà Nội.

89.

Lê Kim Ngân (1963), Tổ chức chính quyền trung ương dưới triều Lê Thánh
Tông (1460- 1497), Tủ sách Viện khảo cổ, Bộ quốc gia giáo dục, Sài Gòn.

90.

Lê Kim Ngân (1974), Chế độ chính trị Việt Nam thế kỉ XVII và XVIII, nhà
xuất bản Phân khoa khoa học xã hội, Viện Đại học Vạn Hạnh, Sài Gòn.

91.

Nhiều tác giả (2007), Đại Nam thực lục, Tập I- V (Bộ mới), nhà xuất bản
Giáo Dục, Hà Nội.

92.


tr.29-43.

99.

Trần Nghĩa (2010), “Quá trình hội nhập Nho- Phật- Lão hay sự hình thành tư
tưởng “Tam giáo đồng nguyên” ở Việt Nam”, Triết học (1), tr.23-30.

100. Nguyễn Thị Oanh (2005), Nghiên cứu văn bản Lĩnh Nam chích quái, Luận án
Tiến sĩ Ngữ Văn, Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội.


101. Trần Thế Pháp (1960), Lĩnh Nam chích quái (Bản dịch của Lê Hữu Mục), nhà
xuất bản Khai Trí, Sài Gòn.

102. Lê Đình Phụng (2009), “Vài nét về thiền phái Trúc Lâm Phật giáo Việt
Nam”, Nghiên cứu Tôn giáo (6).

103. Lê Văn Quán (1998), “Bước đầu tìm hiểu giá trị nhân sinh của Phật giáo”
Nghiên cứu Phật học (2).

104. Vũ Quỳnh- Kiều Phú (2001), Lĩnh Nam chích quái (Nguyễn Ngọc San biên
khảo- giới thiệu), nhà xuất bản Văn học, Hà Nội.

105. Nguyễn Hưng Quốc (2005), Nữ quyền luận và đồng tính luận,
/>k&artworkId=3469

106. B.L.Rip-tin (1974), “Mấy vấn đề nghiên cứu những nền văn học trung cổ của
Phương Đông theo phương pháp loại hình”, Tạp chí Văn học (2), tr.97-123.

107. Trần Huyền Sâm (2010), Siêu lí đàn bà nhìn từ góc độ nữ giới,


117. D.T.Suzuki (1992), Thiền luận, quyển hạ (bản dịch), nhà xuất bản Thành Phố
Hồ Chí Minh.

118. Trần Đình Sử (2005), Thi pháp Văn học trung đại Việt Nam, nhà xuất bản
Đại học Quốc gia, Hà Nội.

119. Nguyễn Văn Xô (2001), Từ điển Tiếng Việt, nhà xuất bản Trẻ, Thành phố Hồ Chí
Minh.

120. Lý Tế Xuyên (1974), VĐUL tập lục toàn biên (Ngọc Hồ phiên dịch), nhà xuất
bản Sống Mới, Sài Gòn.

121. Lý Tế Xuyên, Hồ Nguyên Trừng, Nguyễn Dữ (2008), Việt điện u linh, Nam
Ông mộng lục, Truyền kì mạn lục (Đinh Gia Khánh- Trịnh Đình Rư dịch và
chú thích), nhà xuất bản Văn học, Hà Nội.

122. Bùi Duy Tân (1977), “Cảnh hứng dân tộc, cảm hứng nhân văn qua thơ Nôm
vịnh sử của Lê Thánh Tông”, Tạp chí văn học (8), tr.26-30.

123. Bùi Duy Tân (1993), “Hội Tao Đàn, Quỳnh uyển cửu ca và vai trò của Lê
Thánh Tông”, Tạp chí văn học, (1), tr.14-20.

124. Bùi Duy Tân (1999), Khảo và luận một số tác gia- tác phẩm Văn học trung
đại Việt Nam, tập Một, nhà xuất bản Giáo Dục, Hà Nội.

125. Bùi Duy Tân (2005), Theo dòng khảo luận Văn học trung đại Việt Nam, nhà
xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

126. Văn Tân- Nguyễn Hồng Phong (1963), Lịch sử văn học Việt Nam sơ giản (in

137. Khổng Tử (2007), Kinh Thi, quyển I (Tạ Quang Phát dịch), nhà xuất bản Văn
học, Hà Nội.

138. Trần Thị Băng Thanh (1999), Những nghĩ suy từ văn học trung đại, nhà xuất
bản Khoa học Xã hội, Hà Nội.

139. Trần Thị Băng Thanh (2009), “Cảm nghĩ về thơ Trần Nhân Tông”, Tạp chí
Hán Nôm (5), tr.3-14.

140. Vũ Thanh (1994), “Những biến đổi của yếu tố “kì” và “thực” trong truyện
ngắn truyền kì Việt Nam”, Tạp chí Văn học (6), tr.25-30.

141. Kiều Chấn Thanh (1994), Lí luận văn học, nghệ thuật cổ điển Trung Quốc
(100 điều), nhà xuất bản Giáo Dục, Hà Nội.

142. Quang Thảo (2007), Chân dung con người trong thơ Thiền Lí- Trần, nhà xuất
bản Tôn giáo, Thành phố Hồ Chí Minh.

143. Lê Mạnh Thát (2005), Nghiên cứu Thiền uyển tập anh, nhà xuất bản Phương Đông, Hà
Nội.


144. Mật Thể (1944), Việt Nam Phật giáo sử lược, nhà xuất bản Tân Việt, Hà Nội.
145. Đặng Đức Thi (1996), Sự phát triển của sử học Việt Nam từ Đại Việt sử kí
của Lê Văn Hưu đến Đại Việt sử kí toàn thư của Ngô Sĩ Liên, Luận án Tiến sĩ
lịch sử, Thành phố Hồ Chí Minh.

146. Tư Mã Thiên (2007), Sử Ký (Phan Ngọc dịch), nhà xuất bản Văn học, Hà
Nội.


Triết học (2), tr.15-23.

158. Hoàng Bá Thịnh (2008), Giáo trình xã hội học về giới, nhà xuất bản Đại học


Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

159. Ngô Đức Thọ, Nguyễn Thúy Nga (dịch và giới thiệu,1990), Thiền uyển tập
anh, nhà xuất bản Văn học, Hà Nội.

160. Nguyễn Đăng Thục (1966), Thiền học Việt Nam, nhà xuất bản Thuận Hoá.
161. Đỗ Lai Thuý (2005), Văn hoá Việt Nam nhìn từ mẫu người văn hoá, nhà xuất
bản Văn Hoá Thông Tin, Hà Nội.

162. Nguyễn Trãi (1969), Nguyễn Trãi toàn tập, nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà
Nội.

163. Tạ Chí Đại Trường (2010), Sử Việt đọc vài quyển, nhà xuất bản Văn Mới.
164. Đoàn Thị Thu Vân (1995), Khảo sát một số đặc trưng nghệ thuật của thơ
thiền Việt Nam thế kỉ XI- XIV, Luận án, Thành Phố Hồ Chí Minh.

165. Lê Trí Viễn (1996), Đặc trưng Văn học trung đại Việt Nam, nhà xuất bản Đại
học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

166. Phạm Tuấn Vũ (2005), Tìm hiểu Văn học trung đại Việt Nam, nhà xuất bản
Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

167. Trần Ngọc Vương (1995), Loại hình học tác giả văn học: Nhà nho tài tử và
văn học Việt Nam, nhà xuất bản Giáo Dục, Hà Nội.



178. Viet Chung (1984), La Culture Dai Viet. Etudes Vietnamiennes, No77
179. Nguyễn Khắc Viện et Hữu Ngọc (2000), Mille ans de littérature Vietnamienne.
Esditions Picquier.

180. Chuong Thau et Phan Dai Doan (1979), Deux figures typiques: Nguyen Trai
et Nguyen Binh Khiem. Etudes Vietnamiennes, No 56

181.

Beauvoir, Simone de (2004), Le Dexième sexe 1. Paris: H.champion

182.

Beauvor, Simone de (2004), Le Dexième sexe 2. Paris: H.champion.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status