VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ THẾ KỶ XVI ĐẾN GIỮA THẾ KỶ XIX - Pdf 26



VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN
TỪ THẾ KỶ XVI ĐẾN GIỮA THẾ KỶ XIX

MỞ ĐẦU
Trong tiến trình phát triển của văn học Việt Nam, văn học trung đại từ thế
kỉ XVI đến giữa thế kỉ XIX đã có những đóng góp không nhỏ. Giai đoạn văn học
này đã để lại một di sản vô cùng quý báu, đồ sộ về khối lượng, phong phú, đa
dạng về nội dung, đạt tới nhiều đỉnh cao về nghệ thuật. Qua việc nghiên cứu, tìm
hiểu di sản này, chúng ta càng thêm gắn bó với truyền thống cao đẹp của dân tộc.
Bởi lẽ “mỗi tác giả với thiên tài của mình và giới hạn của thời đại, phản ánh một
thời kì lịch sử, đánh dấu một bước tiến của văn học, làm giàu thêm cho tư tưởng,
tình cảm và tiếng nói Việt Nam” (Phạm Văn Đồng)
Ta cần và có thể tìm thấy trong di sản này những điều giúp ta ôn lại quá khứ
vinh quang nhưng không ít phần gian khó của dân tộc, để rồi từ đó có thể nhìn lại
hiện tại một cách thấu đáo hơn và hướng về tương lai một cách tin tưởng hơn.
Đối với nhà trường, di sản này đóng một vai trò rất quan trọng trong việc
giáo dục, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, đạo đức, quan điểm, lí tưởng thẩm mĩ
cho học sinh, thông qua những thành quả nổi bật của người xưa trong lĩnh vực
sáng tạo nghệ thuật ngôn từ, kết tinh trong các tác phẩm nghệ thuật tiêu biểu.
Chương trình Ngữ văn THCS có nhiều tiết học về các tác phẩm thuộc giai
đoạn từ thế kỉ XVI đến giữa thế kỉ XIX song việc tiếp nhận lại gặp nhiều rào cản
về văn tự, quan niệm thẩm mĩ, lối diễn đạt cổ xưa… Để vượt qua những khó khăn
đó và tiếp nhận được giá trị vô cùng đặc sắc của văn học giai đoạn này, thiết nghĩ
cần nghiên cứu một cách sâu rộng và dựa trên những vấn đề thi pháp.
NỘI DUNG
115

I. Khái quát về văn học Việt Nam giai đoạn từ thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ
XIX.

e. Các tác giả ,tác phẩm tiêu biểu
ST
T
Tác phẩm Tác giả Học
ở lớp
Số tiết Ghi chú
1 Truyền kỳ mạn lục Nguyễn Dữ 9 2
2 Truyện Kiều
- “Truyện Kiều” của Nguyễn
Du
- Các đoạn trích:
+ Cảnh ngày xuân
+ Chị em Thúy Kiều
+ Kiều ở lầu Ngưng Bích
+ Mã Giám Sinh mua Kiều
+ Thúy Kiều báo ân báo oán
Nguyễn Du 9
1
1
1
1
Đọc thêm
Đọc thêm
3 “Truyện cũ trong phủ chúa
Trịnh”
(trích “Vũ Trung tùy bút”)
Phạm Đình Hổ 9
4 Hoàng Lê nhất thống chí- hồi
14
Ngô gia văn phái 9 2

ngòi bút vào hiện thực. Bối cảnh đó chính là cơ sở sâu xa làm xuất hiện quan
niệm mới về nhân sinh, xã hội, con người. trong đó có trào lưu nhân đạo chủ
nghĩa với tư tưởng chống đối các thế lực phong kiến chà đạp con người, đề cao
con người, đòi giải phóng tình cảm cho con người. Nguyễn Du chính là một đại
diện xuất sắc nhất của trào lưu này.
* Về cảnh đời Nguyễn Du:
- Sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống văn học, có tư chất thông minh,
ham học (góp phần hun đúc nên tài năng văn học Nguyễn Du).
118

- Tuy xuất thân từ một gia đình quý tộc nhưng rồi suy sút, bản thân Nguyễn Du
mồ côi sớm.
- Qua trải đời, vốn sống của nhà thơ rất phong phú (chất liệu cho sáng tác). Tiếp
xúc với bao cảnh đời bi thảm, trái tim nhà thơ cảm thông, yêu thương vô hạn với
con người.
Tóm lại: Với năng khiếu văn chương bẩm sinh, vốn sống vô cùng phong phú, trái
tim yêu thương vô hạn với con người, trong bối cảnh cụ thể của thời đại đã tạo
nên thiên tài Nguyễn Du.
B. Những đặc sắc trong sáng tác của Nguyễn Du.
B.1/ Nguyễn Du - “một trái tim lớn, một nghệ sĩ lớn”.
1. Cơ sở của vấn đề.
Sống trong một thời kì đen tối - chế độ phong kiến suy tàn, đưa đất nước, nhân
dân vào tấn thảm kịch, Nguyễn Du đã chứng kiến một hiện thực đau lòng.
Vốn có tấm lòng trong trẻo, trái tim nhân hậu, năng khiếu văn chương xuất sắc,
ông đã để lại cho đời những áng thơ văn đích thực, thấm đẫm những nỗi niềm
thương cảm, những yêu ghét rạch ròi.
Từ những sáng tác chữ Hán, chữ Nôm mà đỉnh cao là Truyện Kiều, ta thấy
đúng như Hoài Thanh nhận xét về đại thi hào, đó là “một trái tim lớn, một nghệ sĩ
lớn”.
2. “ Trái tim lớn”, “nghệ sĩ lớn” biểu hiện qua sáng tác của Nguyễn Du.

vang động đến đều có thể làm cho trái tim ấy rỉ máu. Ngòi bút của Nguyễn Du
chấm vào thứ máu ấy mà viết lên những trang thơ.
Trái tim mẫn cảm của Nguyễn Du giành phần thống thiết nhất cho thân phận
bi kịch của những con người tài hoa, nhất là những người phụ nữ tài sắc. Ông xót
thương cho Tiểu Thanh (Độc Tiểu Thanh kí), cho nàng KIều (Truyện Kiều). Niềm
120

cảm thông, thương xót của Nguyễn Du dành cho Thúy Kiều thật sâu sắc. Mười
lăm năm lưu lạc đời Kiều, Nguyễn Du lận đận theo nàng trên từng trang sách.
Ông bồi hồi trước mối tình đầu của nàng, ông đau đớn khi nàng ra đi dấn thân vào
quãng đường đời ô nhục , ông nhìn thấu cuộc đời đau khổ, số phận bèo bọt của
người con gái tài sắc ấy để rồi thốt lên đầy thương cảm:
“Thương thay cũng một kiếp người
Hại thay mang lấy sắc tài làm chi”
* Thương xót và căm phẫn, trái tim Nguyễn Du đã phẫn nộ trước những thế lực
chà đạp con người.
- Ngòi bút Nguyễn Du đã tố cáo bọn quan lại cường quyền độc ác, bỉ ổi, đê tiện
(Truyện Kiều, Phản chiêu hồn, Sở kiến hành).
- Ông căm ghét lên án thế lực đồng tiền hắc ám (Truyện Kiều).
Nguyễn Du là người đầu tiên trong lịch sử văn học Việt nam đã phác hoạ ra
một bức tranh xã hội toàn diện, lấy những đau khổ của những con người đương
thời để nêu lên thành những vấn đề chung, thành vấn đề của con người trong xã
hội có áp bức, bóc lột. Đó là một tinh thần nhân đạo bao quát của Nguyễn Du. Cái
thế giới làm cho ông cảm thương, xót xa là cái thế giới của tất cả những người bị
giày xéo, đoạ đày về thể xác cũng như tinh thần. Lời tố cáo của Nguyễn Du là lời
tố cáo đánh vào những kẻ, những chế độ chà đạp lên con người. Tinh thần nhân
đạo của Nguyễn Du đã vạch rõ ranh giới giữa yêu và ghét.
* Trái tim lớn chứa chan tinh thần nhân đạo của Nguyễn Du thể hiện ở tiếng nói
đề cao, trân trọng con người trong sáng tác của nhà thơ.
- Trong Truyện Kiều, ông hết lòng ngợi ca vẻ đẹp của con người qua việc xây

của Nguyễn Du.
1. Miêu tả ngoại hình:
122

(Qua các đoạn trích: “Chị em Thúy Kiều”, “Mã Giám Sinh mua Kiều”, “Kiều
gặp Kim Trọng”, “Kiều gặp Từ Hải”…).
Miêu tả ngoại hình độc đáo : sự dụng ước lệ, ẩn dụ, tượng trưng, so sánh…;
dùng từ “đắt”.
Qua nét vẽ ngoại hình hé lộ phẩm chất, tính cách và cả số phận nhân vật.
2. Miêu tả hành động, cử chỉ, ngôn ngữ nhân vật.
Miêu tả cụ thể hành động, lời nói của nhân vật (Mã Giám Sinh mua Kiều)
Dùng ngôn ngữ độc thoại nội tâm (Kiều ở lầu Ngưng Bích).
Dùng ngôn ngữ đối thoại ( Thúy Kiều báo ân báo oán).
 Khắc họa tính cách.
Đặt nhân vật vào những cảnh ngộ đặc biệt, dự báo về số phận.
3. Nghệ thuật miêu tả nội tâm, phân tích tâm lí.
Miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế (“Mã Giám Sinh mua Kiều”, “Kiều ở lầu
Ngưng Bích”, Kiều báo ân báo oán).
- Trực tiếp (Mã Giám Sinh mua Kiều).
- Gián tiếp - bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình (Kiều ở lầu Ngưng Bích).
 Khắc họa tính cách, số phận nhân vật
4. Xây dựng nhân vật theo hai tuyến với bút pháp riêng.
a. Tuyến nhân vật chính diện (Thúy Kiếu, Thúy Vân, Kim Trọng, Từ Hải).
- Xây dựng theo lối tưởng tượng hóa
- Miêu tả bằng bút pháp ước lệ tượng trưng.
- Ngôn ngữ chọn lọc trau chuốt.
- Với nhân vật chính diện Nguyễn Du dành cho họ những tình cảm yêu mến trân
trọng và cảm thông chia sẻ sâu sắc (thể hiện qua việc lựa chọn chi tiết hình ảnh
miêu tả và sử dụng ngôn ngữ).
b. Tuyến nhân vật phản diện (Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh, Hoạn Thư , Hồ

124

- Tả nhân vật phản diện, Nguyễn Du sử dụng ngôn ngữ trực diện.
- Tả cảnh: ngôn ngữ chọn lọc tinh tế, giàu sức gợi .
- Tả cảnh ngụ tình: ngôn ngữ hàm súc, đa nghĩa.
 Sử dụng ngôn ngữ linh hoạt, phong phú, sáng tạo.
2.2/ Sử dụng từ ngữ chọn lọc, trau chuốt, tinh tế với các từ gợi thanh, gợi hình và
các biện pháp tu từ đặc sắc.
2.3/ Từ tiếng nói hằng ngày của nhân dân tiếp theo là của các nhà văn, nhà thơ lớn
của dân tộc ở các đời trước, Nguyễn Du tạo ra tiếng nói văn học dồi dào, giản dị
mà chính xác, uyển chuyển, đầy hình ảnh và âm điệu.
- Từ địa phương
- Thành ngữ, tục ngữ.
- Từ Hán Việt.
Hai thành phần ngôn ngữ - bình dân, bác học kết hợp với nhau, bổ sung cho
nhau tạo thành một thứ ngôn ngữ nghệ thuật thơ ca vừa hàm súc, trang nhã vừa
giản dị, văn vẻ, giàu hình ảnh và âm điệu, đạt tới đỉnh cao chói lọi có một không
hai trong lịch sử văn học Việt Nam.
3. Kết luận.
Như vậy, đến “Truyện Kiều” tiếng Việt đã đạt đến đỉnh cao của ngôn ngữ
nghệ thuật không chỉ có chức năng biểu đạt (phản ánh), biểu cảm (biểu hiện cảm
xúc) mà còn có chức năng thẩm mĩ (vẻ đẹp của nghệ thuật ngôn từ, âm điệu hình
tượng). Tiếng Việt trong Truyện Kiều hết sức giàu và đẹp.
Vấn đề thứ hai: Hình tượng người phụ nữ trong văn học Việt Nam từ giữa thế
kỉ XVI đến giữa thế kỉ XIX.
1. Đề tài người phụ nữ trong văn học trung đại.
Từ thế kỉ XVI, hình ảnh người phụ nữ đã đi vào văn học viết. đến thế kỉ
XVIII thì hình ảnh này đã trở thanhf đề tài lớn của văn học. Các thể loại của văn
125


- Chiến tranh phong kiến gieo bao nỗi bất hạnh cho họ. “Chinh phụ ngâm” của
Đoàn Thị Điểm là tiếng kêu xé lòng của người phụ nữ có chồng bị cuốn vào vòng
chiến tranh ấy.
- Người phụ nữ còn chịu biết bao đau khổ bởi những hủ tục, thành kiến bất công,
hẹp hòi: tư tưởng trọng nam khinh nữ, chế độ đa thê…
2.3/ Thái độ của các tác giả khi viết về người phụ nữ.
Các nhà văn, nhà thơ đã thể hiện lòng trân trọng đặc biệt với người phụ nữ
khi khắc họa, ngợi ca vẻ đẹp của họ.
Phản ánh những bi thảm của người phụ nữ, các tác giả không giấu nổi lòng
xót xa, đau đớn.
3. Ý nghĩa của vấn đề.
Qua hình tượng người phụ nữ, các tác giả văn học thế kỉ XVI – XIX đã góp
vào trào lưu nhân đao chủ nghĩa một nội dung hết sức phong phú, góp vào tiếng
nói đòi giải phóng con người, đặc biệt là người phụ nữ.
Vấn đề thứ ba: Giá trị nhân đạo của văn học Việt Nam
giai đoạn từ thế kỉ XVI đến giữa thế kỉ XIX.

1. Khái quát về nội dung nhân đạo trong văn học.
* Các khái niệm
- Nhân ái: lòng yêu thương con người.
127

- Nhân đạo: đạo người, lấy lòng nhân ái, thương người của mình để cư xử với
người khác; là lòng trân trọng, thương yêu con người, vì nhu cầu lợi ích cho con
nguời và niềm cảm thông với con người.
* Giá trị nhân đạo trong tác phẩm văn học thường có các nội dung biểu hiện sau:
- Thái độ cảm thông, tình cảm xót thương với những kiếp người bất hạnh
- Lên án những cái sấu xa trà đạp lên quyền sống của con người
- Trân trọng ngợi ca đề cao giá trị con người. đề cao ước vọng chân chính cao đẹp
của họ

+ Lễ giáo phong kiến hà khắc, định kiến bất công hẹp hòi (Chuyện người con gái
Nam Xương).
+ Tố cáo thế lực đồng tiền ( Truyện Kiều).
* Lòng xót thương, cảm thông với mọi kiếp người bất hạnh ( Chuyện người con
gái Nam Xương - Nguyễn Dữ, Truyện Kiều - Nguyễn Du).
* Đề cao ước mơ, khát vọng của con người.
+ Khát vọng về quyền sống, quyền hạnh phúc (Chuyện người con gái Nam
Xương, Chinh phụ ngâm).
+ Khát vọng về tình yêu tự do (Truyện Kiều).
+ Ước mong một xã hội tốt đẹp cho con người (nhân vật Từ Hải trong Truyện
Kiều là đại diện cho tự do, công lí trong xã hội).
III. Các dạng bài tập trong chuyên đề.
1. Phân tích, cảm thụ giá trị của tác phẩm hoặc đoạn trích.
2. Nghị luận về nhân vât, chi tiết, hình ảnh, tư tưởng chủ đề… trong một tác
phẩm.
129

3. Nghị luận tổng hợp (kiến thức, kĩ năng) về các vấn đề xuyên suốt các tác phẩm
trong một giai đoạn văn học.
4. Nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học trung đại.
5. Phân tích đặc sắc ngôn ngữ trong tác phẩm.
6. So sánh văn học.
IV. Phương pháp giải bài tập.
1. Sưu tầm, đọc tài liệu.
2. Phương pháp nghiên cứu: phân tích, chứng minh, giải thích, bình buận, so sánh,
đối chiếu để các vấn đề về tác giả, tác phẩm trở nên sáng tỏ và sâu sắc.
3. Phương pháp khái quát hóa kiến thức.
4. Thực hành vận dụng các kĩ năng:
Tìm hiểu đề.
Xây dựng luận điểm, tìm luận cứ.

- Nguyn Du nh húa thõn vo Thỳy Kiu to dng cnh ng, tõm trng ca
nng
- Cnh thiờn nhiờn ni lu Ngng Bớch cú nỳi xa trng gn nhng c ba chiu
u gi v hoang vng, xa l, cỏch bit. Nú tụ m cnh ng cụ n gúp phn bc
l tõm trng cụ n bun ti ca Thỳy Kiu. Cnh vt cng rng ln bỏt ngỏt thỡ
con ngi Kiu õy cng nh nhoi, cụ n, cng bun ti, ngn ngang B
bng vỡ bun ti bi ch cú mõy lm bn sm v ốn trong lm bn ờm khuya
ô B bng mõy sm ốn khuya ằ lm tm lũng Kiu nh b ct ra au n.
- Tm lũng thi s nh thu hiu ni nh nim thng ca Kiu. Trong tõm trng
cụ n, Kiu ngh v quỏ kh, ngi thõn ú l Kim Trng, ú l cha m nhng
cng ngh , cng nh thỡ cng au xút. Nh chng Kim thỡ ô Vng trng vng
131

vặc song song » rồi quay lại mình « Tấm son gột rửa bao giờ cho phai » càng
thêm đau đớn nhớ cha mẹ thì « Xót người tựa cửa gốc tử đã vừa người ôm »
Cực tả nỗi nhớ niềm thương, Nguyễn Du thêm một lần đề cao vẻ đẹp đức
hạnh của Kiều. Trái tim Nguyễn Du xúc động đau đớn, thấu hiểu cảm thông lạ
lùng với Kiều mới có thể hiểu hết những tình cảm xót xa, tội nghiệp của người
con gái xa nhà thương cha mẹ, tình yêu tan vỡ, mới viết được dòng thơ miêu tả
tâm trạng đặc sắc ấy.
Tâm trạng cô đơn trước cửa biển chiều hôm. Đây chính là bức tranh tâm
trạng đăc sắc nhất, chỉ với câu lục bát chia thành bốn cặp, những câu lục bát được
diễn đạt bắt đầu bằng « Buồn trông ». Bốn lần buồn trông từ xa tới gần, từ cao
xuống thấp từ hình ảnh , màu sắc đến âm thanh tạo nên sự điệp nhịp, như nỗi
buồn đang dâng lên lớp lớp. Đoạn thơ đã diễn tả được diễn biến tâm trạng nàng
Kiều từ nhìn đơn côi - cánh buồm xa xa, nhìn băn khoăn - hoa trôi man mác biết
là về đâu, nhìn nhòa nhạt - không thấy người đi, không thấy hy vọng gì chỉ một
màu xanh xanh. Nhìn biển - nhìn nước - nhìn cỏ - nhìn gió vẫn là một kiểu « buồn
trông ». Nhưng đến lần thứ tư, tiếng sóng biển đã ập vào tâm trạng nàng, bao bọc
lấy nàng bằng tiếng kêu dữ dội « ầm ầm tiếng sóng »

+ Cảm nhận được về các nhân vật Thuý Vân, Thuý Kiều, Mã Giám Sinh.
+ Phân tích, bình giá được nghệ thuật miêu tả nhân vật của Nguyễn Du.
Cách hai : kết hợp giải quyết cả hai ý ( trong khi phát biểu cảm nghĩ về
nhân vật có thể kết hợp trình bày luôn về nghệ thuật miêu tả nhân vật ) .
(Ở đây hướng dẫn theo cách thứ hai).
II/ Yêu cầu cụ thể
1/ Cảm nhận về các nhân vật.
Cần thể hiện được cảm nhận của mình thông qua việc chọn dẫn những chi
tiết, tiêu biểu làm dẫn chứng , phân tích, bình luận làm nổi bật những ý chính sau:
133

1.1/ Thuý Vân : Vẻ đẹp đoan trang, phúc hậu, sang trọng, tươi tắn. Vẻ đẹp
như báo trước số phận yên ổn, may mắn của nàng .
1.2/ Thuý Kiều : Vẻ đẹp “ sắc sảo, mặn mà” không chỉ đẹp mà Kiều còn
có tài : tài làm thơ, tài vẽ tranh, tài ca hát, tài đánh đàn, tài nào cũng đến mức điêu
luyện, thành “nghề”. Ngoài vẻ đẹp hình thức của thiếu nữ “ nghiêng nước,
nghiêng thành”, nàng là một người đa cảm, mang vẻ đẹp nội tâm sâu sắc, phong
phú : dám hy sinh mối tình riêng tư đẹp đẽ của mình để cứu nạn cho cả gia đình,
chung tình với Kim Trọng, luôn vươn lên vượt qua hoản cảnh để hướng thiện;
mặc dù thân phận bị đày đoạ, nhưng phẩm hạnh và sắc đẹp của nàng đã khiến cho
Từ Hải say mê “ Tấm lòng nhi nữ cũng siêu anh hùng”.
1.3/ Mã Giám Sinh: Hiện thân của một nho sĩ giả danh ( mập mờ về tên họ,
dối trá trong cách xưng danh “Mã Giám Sinh”, tung tích không rõ ràng Lâm Tri
hay Lâm Thanh …); một kẻ lưu manh ( đi với đầy tớ thì ồn ào, láo nháo, vào nhà
thì xấc xược vô lễ “ ghế trên ngồi tót sỗ sàng”…), và điều quan trọng nhất: y là gã
buôn người ( Đi hỏi vợ, lấy vợ mà như là đi mua bán: cò kè, đắn đo, chi li, “ cân
sắc, cân tài” ), lạnh lùng, vô cảm trước nỗi đau của người khác “ép cung cầm
nguyệt thử bài qua thơ”
2/ Phân tích, bình giá được nghệ thuật miêu tả nhân vật của Nguyễn Du.
- Nguyễn Du sử dụng bút pháp ước lệ trong thơ cổ, kết hơp với việc chọn

- Học sinh phải xác định đúng đây là kiểu bài nghị luận văn học ( giải thích +
chứng minh).
- Nội dung nghị luận: Nhận định của Hoài Thanh về tài năng sử dụng ngôn ngữ
của Nguyễn Du trong “Truyện Kiều”.
- Phạm vi dẫn chứng: “Truyện Kiều”.
b. Nội dung:
Về cơ bản học sinh phải đáp ứng được những yêu cầu sau:
135

- Hiểu được ý nghĩa của nhà phê bình văn học Hoài Thanh.
- Ý kiến đó tập trung đánh giá tài sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Du trong
“Truyện Kiều”.
- Lý giải được một số nguyên nhân để Nguyễn Du đạt được trình độ ngôn ngữ thơ
như vậy.
- Học sinh phải biết vận dụng kết hợp kiểu bài phân tích và chứng minh văn học.
Biết lựa chọn, phân tích những dẫn chứng tiêu biểu thể hiện năng lực cảm thụ văn
học.
2. Yêu cầu cụ thể:
a. Giải thích ý kiến của Hoài Thanh:
+ Giải thích các hình ảnh so sánh:
- “Như hòn ngọc quý cơ hồ không thể thêm bớt”, tức là ngôn ngữ trong “Truyện
Kiều” được dũa gọt đến mức điêu luyện hoàn thiện.
- Như tiếng đàn lạ gần như không một lần lỡ nhịp ngang cung”, tức là ngôn ngữ
“Truyện Kiều” phong phú, chính xác, sáng tạo, đầy biến hóa.
 Hoài Thanh đánh giá rất cao về ngôn ngữ trong “Truyện Kiều”, về tài
năng Nguyễn Du qua cách diễn đạt giàu hình ảnh bằng nghệ thuật so
sánh, chứng tỏ Nguyễn Du là bậc thầy trong ngôn ngữ thơ ca.
b. Chứng minh tài năng ngôn ngữ của Nuyễn Du trong “Truyện Kiều”.
b.1/“ Truyện Kiều” có nhiều con người, nhiều sự kiện, nhiều cảnh vật, nhiều tâm
trạng khác nhau, thậm chí còn đối lập nhau nhưng Nguyễn Du có đầy đủ vốn

- Sử dụng nhiều ca dao.
VD câu thơ : “ Vầng trăng ai sẻ làm đôi
Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường”.
Lấy từ một câu ca dao
137

“ Vầng trăng ai sẻ làm đôi
Đường trần ai vẽ ngược xuôi hỡi chàng.”
- Sử dụng thành ngữ: “ Phen này kẻ cắp bà già gặp nhau”
+ Sử dụng ngôn ngữ bác học:
- Dùng nhiều điển tích, điển cố.
- Sử dụng những khái niệm, thuật ngữ của Lão Trang, Phật , Nho
“ Tu là cõi phúc, tình là dây oan.”
« Bắt phong trần phải phong trần
Cho thanh cao mới được phần thanh cao »
- Sử dụng nhiều từ Hán - Việt.
- Sử dụng nhịp điệu để tao hiệu quả cho câu thơ.
c. Lý giải nguyên nhân thành công khi sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Du
+ Hoàn cảnh gia đình : Xuất thân trong một gia đình có nhiều người theo nho
học, đỗ đạt cao → Nguyễn Du có ảnh hưởng
+ Hoàn cảnh xã hội : Nguyễn Du có điều kiện đi nhiều nơi (đi sứ sang Trung
Quốc) và nhiều năm sống ở nhiều vùng đất đã cho Nguyễn Du vốn sống, vốn
ngôn ngữ phong phú.
+ Bản thân Nuyễn Du là người thông minh, nhạy cảm. Nhà thơ đã sử dụng ngôn
ngữ biến hóa tài tình. Chỉ một chữ « hoa » trong Truyện Kiều mà Nguyễn Du đã
diễn đạt được bao nhiêu sự việc, bao nhiêu tâm trạng…
+ Là người thông minh, dù tiếp thu từ truyền thống hay vay mượn nước ngoài thì
Nguyễn Du luôn có tính sáng tạo, độc đáo.
Tài năng ngôn ngữ của Nguyễn Du qua quá trình học tập và trau dồi đã
cho ta thấy Nguyễn Du xứng đáng vị trí bậc thầy trong ngôn ngữ thơ ca cổ điển.

mọi nỗi khổ của người phụ nữ bị xô đẩy xuống đáy xã hội. Đang sống trong cảnh
êm ấm, Kiều phải bán mình cho kẻ buôn người Mã Giám Sinh, trải qua 15 năm
139


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status