Tư tưởng tự do trong truyền thống văn học trung đại việt nam - Pdf 24

Tư tưởng tự do trong truyền thống văn học trung
đại Việt Nam
Nghiên cứu bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam, người ta thường
nói tới các giá trị tinh thần quan trọng như yêu nước, nhân ái, đoàn
kết, cần cù, chịu thương chịu khó,… Quả đúng là các truyền thống
tinh thần ấy đã đóng một vai trò vô cùng to lớn trong lịch sử hình
thành và tồn tại của dân tộc Việt Nam, đất nước Việt Nam, nhà nước
Việt Nam. Nhưng truyền thống văn hoá Việt Nam còn nhiều mặt
khác, thể hiện trong quan niệm về cuộc sống, về con người, về thiên
nhiên… mà nhà nghiên cứu thường chưa đề cập đến. Một trong
những truyền thống quan trọng đó là tư tưởng về tự do, thể hiện
xuyên suốt trong trường kỳ văn học dân tộc, một truyền thống có thể
giúp ta hiểu biết và góp phần xây dựng nhân cách con người Việt
Nam hiện đại hôm nay.
Trong Bút ký triết học, V.I. Lênin có trích yếu một tư tưởng quan
trọng của Hégel như sau : “Lịch sử thế giới chẳng gì khác hơn là lịch
sử phát triển của khái niệm tự do”
([1])
. Tư tưởng đó có thể vận dụng
vào lịch sử văn học và lịch sử văn hoá dân tộc. Nhưng cho đến nay
khía cạnh này vẫn chưa được chú ý thích đáng.
Chúng tôi đồng tình với nhà khoa học Hunggari, hiểu bản sắc văn
hoá là tổng số những thông tin di truyền không theo bộ mã gen sinh
học mà là được tích luỹ, được gìn giữ và lưu truyền bởi các tập thể
khác nhau của xã hội con người qua các phương tiện văn hoá
([2])
. Văn
học là môi trường lý tưởng cho việc gìn giữ và lưu truyền các bản sắc
văn hoá, bởi văn học là hoạt động tinh thần không thể thiếu của con
người, văn học có hệ thống ngôn ngữ, biểu trưng bền vững, văn học
gắn bó với con người từ thuở ấu thơ cho đến tuổi già, những lúc thành

hành vi nhân vật. Truyện Hà Ô Lôi cũng cung cấp một hình tượng về
tự do cá nhân. Hà Ô Lôi, con trai thần Mala đã trả lời Lã Động Tân :
“Đương lúc thiên hạ thái bình, quốc gia vô sự, coi phú quý như phù
vân chỉ ham muốn thanh sắc để làm vui tai đẹp mắt mà thôi”. Ô Lôi
chỉ muốn được thoả mãn về cảm giác cơ thể.
Tác phẩm đã miêu tả Ô Lôi như một sức mạnh chinh phục không ai
cưỡng lại được. Sau cuộc tình phiêu lưu với Quận Chúa, Ô Lôi phải
đền mạng, nhưng trước khi chết, chàng đã kịp đọc một bản tuyên
ngôn về tự do cá nhân, một quan niệm anh hào độc đáo :
Sinh tử do trời có quản bao
Nam nhi miễn đã được anh hào
Chết về thanh sắc cam là chết
Chết việc ốm đau cơm gạo nào !
Quan niệm này cho trời có thể quy định việc sống chết, còn cuộc sống
cá nhân, con người được tự do lựa chọn theo sở nguyện. Một trong
những tập sách cổ nhất Việt Nam đã có những truyện tuyệt đẹp thể
hiện sắc nét truyền thống văn hoá yêu chuộng tự do cá nhân của con
người.
Truyền kỳ mạn lục là một cái mốc mới trong quan niệm về tự do
cá nhân
([5])
. Nhiều nhân vật trong tập truyện này hầu như đã được tự
do trong bể dục, tình dục. “Dục”, nhất là tình dục được xuất hiện như
là một phạm trù thuộc về cá nhân, được hiểu thành một phẩm chất
phản diện và là đối tượng của sự cấm dục. Khuynh hướng của tác giả
là khuyến thiện, trừng ác, đề cao công đức, lên án vật dục, tình dục,
theo tư tưởng Tống Nho : diệt nhân dục, tồn thiên lý. Nhưng mặt
khác, cái “dục” của cá nhân tự do trong tình yêu nam nữ, tuy không
được thừa nhận trong các lời bình, nhưng lại được miêu tả như những
cuộc tình kỳ ngộ lãng mạn đáng nhớ. Cuộc gặp gỡ của Trung Ngộ với

áo xiêm ràng buộc lấy nhau
Vào luồn ra cúi công hầu mà chi
Sao bằng riêng một biên thuỳ
Sức này đã dễ làm gì được nhau
Chọc trời khuấy nước mặc dầu
Dọc ngang nào biết trên đầu có ai !
Đó là cách diễn đạt khát vọng tự do thoát khỏi sự gò bó, trói buộc
của thể chế xã hội. Trong chế độ phong kiến không thể có cách diễn
đạt nào khác hơn một lý tưởng kiểu vô chính phủ như vậy.
Một phương diện khác của lý tưởng tự do là khát vọng nhàn tản.
Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm là những người khá tiêu biểu cho
tư tưởng này trong văn học cổ Việt Nam. “Nhàn” là trạng thái tinh
thần tự do thoát khỏi danh, lợi và các sự vụ của chính trường, là tôn
trọng trạng thái tự nhiên, tự tại của con người. Nguyễn Trãi là nhà
văn lớn, nhà tư tưởng lớn của dân tộc Việt Nam, là người tích cực
tham gia cuộc kháng chiến chống quân Minh, giải phóng đất nước.
Nhưng ông luôn mong ước được sống nhàn tản với thiên nhiên và
ông đánh giá cao cái nhàn của đời người, xem đó là một dấu hiệu của
hạnh phúc để nghỉ ngơi thân xác, thanh thản tâm hồn :
Một phút thanh nhàn trong buổi ấy
Nghìn vàng ước đổi được hay chăng ?
(Tự thán − VII)
Có một thời người ta ngại chữ “nhàn”, phê phán chữ “nhàn”, xem
đó là biểu hiện của “yếm thế”, “tiêu cực”, “quay lưng” lại với đời sống
xã hội. Thực ra “thanh nhàn” là tự do thoát tục, rũ sạch bụi trần, một
lý tưởng làm người rất đáng trân trọng. Chữ “nhàn” có một nội hàm
văn hoá rất phong phú. Nhàn là vui chơi sơn thuỷ, hoà điệu với thiên
nhiên vũ trụ như trong Côn Sơn ca :
Côn Sơn có khe
Tiếng nước chảy rì rầm

vậy, ông vẫn xác lập cho mình một thế giới tự do để vẫy vùng ngang
dọc :
Vòng trời đất dọc ngang ngang dọc
Nợ tang bồng vay trả trả vay
Chí làm trai nam bắc đông tây
Cho phỉ chí vẫy vùng trong bốn bể.
(Chí khí anh hùng)
Cái chủ yếu của Nguyễn Công Trứ là cái cảm giác tự do nội tại của
kẻ dám làm, dám chịu, dám chơi, làm cho ông có khả năng đứng trên
tình thế, đứng ngoài trần ai :
Vũ trụ nội mạc phi phận sự,
Ông Hy Văn tài bộ đã vào lồng.
Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông,
Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng.
Lúc bình Tây, cầm cờ đại tướng,
Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên.
Đô môn giải tổ chi niên,
Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng.
Kìa núi nọ phau phau mây trắng,
Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi.
Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì,
Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng !
Được mất, dương dương người thái thượng,
Khen chê phơi phới ngọn đông phong.
Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng,
Không Phật, không tiên, không vướng tục…
(Bài ca ngất ngưởng)
Cái thú ở đây không phải là Phật, không tu Phật, không tu tiên,
mà lại không vướng tục, chẳng kém gì tiên, Phật, người đời tìm đạo tu
tiên, tu Phật để nhằm thoát tục, mà Nguyễn Công Trứ không vướng

khía cạnh giải thoát của nó. Chúng tôi nhận thấy tiếng cười của Tú
Xương có mấy đặc tính mới như sau : 1. Không mang tính chất thuần
tuý đạo đức, ý thức hệ, mà mang tính chất hài hước, sinh hoạt, cười
vui ; 2. Có tính chất phổ biến, vừa cười người, vừa cười mình, không
tự đặt mình ra ngoài đối tượng của tiếng cười ; 3. Có tính chất lưỡng
tính : vừa phủ nhận, vừa khẳng định. Chẳng hạn như bài Tự cười
mình, nhà thơ tự giễu mình, vẽ ra toàn là tật xấu của mình : nịnh vợ,
khinh đời, bài bạc, rượu chè, trai gái, không học hành. Nhưng đồng
thời xét trên một ý nghĩa nào đó, đấy không phải là các tật hoàn toàn
xấu cả, hoặc thậm chí không lấy gì làm xấu, như nịnh vợ, khinh đời.
Bài bạc, rượu chè, trai gái đã hẳn là không hay, nhưng đó lại là cuộc
sống ngoài quyền môn, không danh lợi, không luồn cúi, tự do. Nụ
cười tự trào tạo cho tác giả cái thế đứng ngoài thế tục.
Nói tới tư tưởng tự do thời trung cận đại người ta không thể không
nhắc tới biểu hiện mà đời thường gọi là “ngông, cuồng”. Ngông,
cuồng là trạng thái mà con người tự đặt mình ra ngoài lẽ phải thông
thường được mọi người thừa nhận, dám làm cái đời không ai làm,
dám nói điều mà đời không ai nói. Lễ giáo phong kiến dạy người ta
trung dung, an phận, những người ngông thì đi theo lối cực đoan, đòi
hỏi tự do cá tính, tự do tư tưởng, khinh thường lễ giáo. Xưa Khổng Tử
có lần đánh giá cao người có tính ngông cuồng, phóng túng. Trong
thiên Tử Lộ ông nói : “Nếu không làm bạn được với những người
trung dung thì hẵng chơi với bọn ngông cuồng, bởi bọn chúng có ý
chí cao xa, có khả năng giữ gìn tiết tháo”. Trung Quốc có những
người ngông nổi tiếng như Trang Tử, Lý Chất, Kim Thánh Thán. ở
Việt Nam có thể thấy thơ Hồ Xuân Hương làm ví dụ. Bà dám miêu tả
cái tục mà mọi người kiêng nói, bà khinh thường sự nghiệp nam nhi
của Sầm Nghi Đống, bà giễu ông sư, khẳng định người chửa hoang.
Hầu hết nhà nho có bản lĩnh đều có lúc xem thường lẽ phải thông
thường, hành sự theo tín niệm sâu xa, khinh bỉ kẻ xu phụ, a dua thói


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status