TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
-----------
HOÀNG THỊ THU HẰNG
HÌNH TƯỢNG THÁNH MẪU LIỄU HẠNH
TỪ TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU
ĐẾN VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
HÀ NỘI, 2019
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
-----------
HOÀNG THỊ THU HẰNG
HÌNH TƯỢNG THÁNH MẪU LIỄU HẠNH
TỪ TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU
ĐẾN VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học
TS. Nguyễn Thị Việt Hằng
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài .....................................................................................................1
2. Lịch sử vấn đề .........................................................................................................2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ..........................................................................5
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu...........................................................................5
5. Phương pháp nghiên cứu.........................................................................................5
6. Cấu trúc khóa luận ..................................................................................................5
NỘI DUNG ................................................................................................................7
Chương 1. TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU TỪ CỘI NGUỒN VĂN HÓA ĐẾN
VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM ....................................................................7
1.1. Những vấn đề chung về tín ngưỡng thờ Mẫu và thờ Thánh mẫu Liễu Hạnh ở
Việt Nam .....................................................................................................................7
1.1.1. Nguồn gốc hình thành tín ngưỡng thờ Mẫu ......................................................7
1.1.2. Tín ngưỡng thờ Mẫu và tục thờ Thánh mẫu Liễu Hạnh trong văn hóa
Việt Nam .....................................................................................................................9
1.2. Tác giả và tác phẩm viết về Thánh mẫu Liễu Hạnh trong văn học trung đại
Việt Nam ...................................................................................................................17
1.2.1. Đoàn Thị Điểm với Vân Cát thần nữ .............................................................17
1.2.2. Nguyễn Công Trứ với Liễu Hạnh công chúa diễn âm ....................................19
1.2.3. Tác giả khuyết danh với Vân Cát thần nữ cổ lục diễn âm ..............................20
1.2.4. Kiều Oánh Mậu với Tiên phả dịch lục ............................................................20
Chương 2. HÌNH TƯỢNG THÁNH MẪU LIỄU HẠNH TRONG VĂN HỌC
TRUNG ĐẠI VIỆT NAM .......................................................................................21
2.1. Những tương đồng trong tín ngưỡng thờ Mẫu và văn học trung đại Việt Nam .....21
2.2. Những sáng tạo của tác giả văn học trung đại Việt Nam ...................................27
Chương 3. NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG HÌNH TƯỢNG THÁNH MẪU
LIỄU HẠNH TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM ...........................37
3.1. Thể loại...............................................................................................................37
sắc màu của người dân vùng núi Tây Bắc. Ta thấy nhiều tục lệ hà khắc vẫn
còn tồn đọng: Tục cho vay nặng lãi, phạt vạ. Và cả những tục lệ cổ hủ, lạc
hậu vốn đã ăn sâu vào tiềm thức của những con người nơi đây: Tục cúng trình
ma, tục cướp vợ. Đôi khi người đọc còn thấy được tục chơi tết, chơi xuân của
bản người Mèo vô cùng rực rỡ và vui tươi được tái hiện trong tác phẩm…
Qua những ví dụ trên, có thể thấy văn học và văn hóa có sự gắn kết rất mật
thiết với nhau. Văn chương hoàn toàn có thể diễn lại câu chuyện về một hay
nhiều nét văn hóa đặc sắc. Văn học trung đại có khá nhiều tác phẩm viết về
Thánh mẫu Liễu Hạnh. Nhiều tác giả đã sưu tầm và san định các huyền thoại,
1
truyền thuyết về hình tượng nhân vật này. Cùng với sự hiểu biết nhất định của
cá nhân về tín ngưỡng thờ Mẫu, chúng tôi nhận thấy hình tượng nhân vật Liễu
Hạnh trong văn hóa và văn học có mối liên hệ mật thiết với nhau. Chính điều
ấy đã thôi thúc chúng tôi tìm đến đề tài.
Hơn nữa, là sinh viên sư phạm, việc tìm hiểu đề tài này giúp chúng tôi
có cơ hội được tiếp cận nhiều phương pháp nghiên cứu văn học khác nhau
nhằm phục vụ tốt cho công việc giảng dạy sau này.
Với những lý do trên, chúng tôi đã chọn đề tài Hình tượng Thánh
mẫu Liễu Hạnh từ tín ngưỡng thờ Mẫu đến văn học trung đại Việt Nam
cho khóa luận tốt nghiệp để đóng góp một phần nhỏ những hiểu biết và
nghiên cứu của mình về hình tượng Thánh mẫu Liễu Hạnh từ góc nhìn văn
hóa và văn học.
2. Lịch sử vấn đề
Hiện nay có hai hướng nghiên cứu cơ bản về Thánh mẫu Liễu Hạnh, đó
là từ góc độ văn hóa và văn học. Những công trình nghiên cứu đầu tiên về
Thánh mẫu Liễu Hạnh từ góc độ tín ngưỡng được ra đời vào khoảng đầu thế
kỷ XX bởi các nhà nghiên cứu người Pháp, như: M. Durand, P. J. Simon, I.
Simond - Baouch, …
Hơn nữa, năm 1990 Hoàng Tuấn Phổ cho ra đời cuốn Bà Chúa Liễu và
năm 1991 Vũ Ngọc Khánh tiếp tục với công trình viết về Công chúa Liễu
Hạnh. Qua hai cuốn sách, các tác giả đều dùng bút pháp văn học để vẽ lại
chân dung của Thánh mẫu Liễu Hạnh, giúp người đọc nhìn nhận cụ thể, toàn
vẹn về nhân vật này đậm nét hơn so với các tác phẩm khác. Tuy nhiên, chất
thiêng trong thần tích về Thánh mẫu lại bị phai nhạt đáng kể.
GS. Ngô Đức Thịnh là một trong những nhà nghiên cứu về tín ngưỡng
thờ Mẫu hàng đầu của Việt Nam. Ông đã cho ra đời hàng loạt cuốn sách viết
về Thánh mẫu Liễu Hạnh. Năm 1992, với cuốn Hát văn, ông đã đưa ra những
nội dung cơ bản xoay quanh tín ngưỡng thờ Mẫu. Năm 2007, cuốn Lên đồng,
hành trình của thần linh và thân phận là một bước tiến dài trong việc tìm hiểu
sự tích hợp các giá trị văn hóa trong tục thờ Mẫu. Và cho tới năm 2009, cuốn
Đạo Mẫu Việt Nam ra đời, đây được coi là công trình nghiên cứu đầy đủ nhất
về tục thờ Mẫu và Thánh mẫu Liễu Hạnh của ông.
Ngoài góc nhìn từ tín ngưỡng, Thánh mẫu Liễu Hạnh còn được các nhà
nghiên cứu nhìn nhận ở góc độ văn học.
Năm 1990, Hoàn Tuấn Phổ xuất bản cuốn Bà chúa Liễu. “Cuốn sách
3
vừa mang tính tiểu thuyết về thần linh vừa mang tính nghiên cứu” [18, 17].
Bằng tưởng tượng và phóng tác, ông đã vẽ ra một Bà chúa Liễu khá sinh động
trong đời thường, mang những đặc điểm của nhân vật trong tiểu thuyết văn
học.
Năm 1992, với cuốn Tam tòa thánh Mẫu, Đặng Văn Lung “đã tiếp cận
hình tượng Liễu Hạnh từ góc độ văn học và cuộc đời như một áng sử thi
mang tính thần thoại” [18, 18].
Năm 1995, nữ tác giả Kim Seona với công trình Nhân vật phụ nữ trong
thể truyền kỳ qua các tác phẩm “Truyền kỳ mạn” lục và “Truyền kỳ tân phả”
đã cho người đọc thấy được nhân vật Giáng Tiên (tức Thánh mẫu Liễu Hạnh)
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích: Hoàn thành nghiên cứu về hình tượng Thánh mẫu Liễu
Hạnh trong việc đối sánh giữa tín ngưỡng thờ Mẫu và văn học trung đại Việt
Nam.
- Nhiệm vụ: Tập hợp các tài liệu dân gian: Thần tích, các bản văn chầu
để tìm hiểu về Thánh mẫu Liễu Hạnh từ góc độ tín ngưỡng. Đồng thời, so
sánh với một số tác phẩm văn học trung đại viết về hình tượng này để thấy
được các phương diện và cách thức mà các tác giả trung đại xây dựng nhân
vật.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Tín ngưỡng thờ Mẫu trong văn hóa Việt Nam và văn học
viết về nhân vật Thánh mẫu Liễu Hạnh. Ở đây, chúng tôi sử dụng cuốn Đạo
Mẫu Việt Nam của GS. Ngô Đức Thịnh (NXB Tôn giáo, 2009) làm tài liệu
nghiên cứu.
- Phạm vi: Hình tượng Thánh mẫu Liễu Hạnh
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp liên ngành
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp so sánh đối chiếu
6. Cấu trúc khóa luận
Mở đầu
Nội dung
Chương 1: Những vấn đề chung
Chương 2: Hình tượng Thánh mẫu Liễu Hạnh trong văn học trung đại
Việt Nam
Chương 3: Nghệ thuật xây dựng hình tượng Thánh mẫu Liễu Hạnh
5
cổ thụ, một rừng sâu, một vực sông, ngọn núi cao, một vũng nước giữa đồng,
một gốc cây âm u đều là cơ sở của thần linh, thần ở khắp cả, thấm nhuần khắp
cả, tất cả đều là thần” [24, 20]
Ngoài ra, tâm lý tình cảm cũng trở thành nguyên nhân ra đời của tín
ngưỡng. Xét về góc độ triết học, tâm lý tình cảm là một bộ phận của ý thức xã
hội và tôn giáo tín ngưỡng hình thành dựa trên cơ sở đó. Triết học cũng đã
thừa nhận hai chủ nghĩa duy vật và duy tâm luôn tồn tại song song. Con người
7
luôn đặt ra câu hỏi về nguồn gốc cũng như số phận của chính mình hay với
những vấn đề xảy ra trong cuộc sống mà đôi khi khoa học không thể giải
thích nổi. Khi ấy, họ trở nên bế tắc và khi bế tắc, con người thường tìm tới
tâm linh để giải quyết vấn đề tâm lý. Tuy tâm linh đưa ra những nhận định
không có căn cứ nhưng với những lý lẽ mang đậm tính huyền bí và hợp logic
khiến con người bị thuyết phục và từ đó hình thành nên niềm tin vào những
thế lực siêu nhiên, không có thực. Đây là nguyên nhân chính hình thành nên
tôn giáo và tín ngưỡng trong đời sống văn hóa của con người.
Cũng chính bởi tâm lý coi trọng người mẹ, con người luôn muốn tìm
cách báo đáp công ơn sinh thành và nuôi dưỡng của mẹ mà sinh ra thờ phụng.
Quan niệm con người sinh ra từ tự nhiên và được tự nhiên che chở, cho nên
“người mẹ đầu tiên của con người đó là Mẹ Cây” [24]. Mẹ Cây che mưa
nắng, đem lại cho con những trái thơm quả ngọt. Dần về sau, con người tránh
mưa nắng bằng việc ở trong các hang động, lúc này vai trò của Mẹ Cây đã
giảm xuống, thay vào đó họ tôn thờ mẹ rừng núi và gọi đó là Mẫu Thượng
Ngàn. Sau này, con người xuôi xuống vùng đồng bằng, lúc lênh đênh sông
nước họ lại mong chờ vào sự che chở của Mẹ Nước và coi mẹ là Mẫu Thoải
Phủ. Và cuối cùng, khi con người mở rộng khai hoang, họ lại tôn thờ thêm
Mẹ Đất và sau trở thành Mẫu Địa. Kể từ đây, tín ngưỡng thờ Mẫu đã dần
Về vấn đề tên gọi, một số nhà nghiên cứu sử dụng thuật ngữ “Đạo Mẫu”
thay vì “tín ngưỡng thờ Mẫu”. “Đạo” và “tín ngưỡng” là hai khái niệm rất quen
thuộc, có quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau. Điểm chung giữa đạo và tín
ngưỡng là đều hướng con người có niềm tin vào đạo hay tín ngưỡng đó truyền
bá, dạy con người làm việc thiện, tránh làm điều ác, hướng con người đến
những giá trị chân, thiện, mỹ…
Tuy nhiên, một đạo phải có đủ bốn yếu tố cấu thành, bao gồm: Giáo
chủ, giáo lý, giáo luật và tín đồ, trong khi thờ Mẫu chưa có đầy đủ bốn yếu tố
đó. Ngoài ra, các tín đồ theo đạo chỉ có thể theo một đạo, nhưng có thể được
sinh hoạt nhiều tín ngưỡng khác nhau. Chẳng hạn, một người theo Đạo Phật
không thể theo Đạo Thiên Chúa nhưng họ vẫn có thể theo tín ngưỡng thờ
cúng tổ tiên hoặc theo tín ngưỡng thờ Thành Hoàng. Phần lớn các đền, chùa ở
Việt Nam đều phối cả Phật và Mẫu, và người Việt Nam khi đi lễ chùa thường
quan niệm “tiền Phật hậu Mẫu”, nếu như thờ Mẫu được coi là một đạo thì ắt
người theo Đạo Phật không thể theo Đạo Mẫu và ngược lại. Từ những lập
luận trên, ta có thể khẳng định rằng, tục thờ Mẫu của người Việt mới chỉ dừng
lại ở “tín ngưỡng” chưa đủ điều kiện để coi là một tôn giáo (hay còn gọi là
Đạo).
Như đã phân tích ở trên, việc dùng thuật ngữ “tín ngưỡng” sẽ hợp lý
9
hơn thuật ngữ “Đạo”. Với tên gọi này, ta nên xem xét dưới hai góc độ rộng và
hẹp để hiểu rõ hơn bản chất của tín ngưỡng thờ Mẫu.
Hiểu theo khái niệm rộng, nền tảng của thờ Mẫu bắt nguồn từ tục thờ
Nữ thần, sau đó phát triển thành thờ Mẫu thần và cuối cùng là Mẫu Tam phủ Tứ phủ. Trên dải đất hình chữ S có hàng trăm, hàng nghìn đền - điện, song ở
mỗi vùng miền lại có những cách thức thờ Mẫu khác nhau.
Mẫu tam
phủ
Trước hết, ta tìm hiểu về hệ thống điện thần trong tín ngưỡng thờ Mẫu.
Mặc dù ở từng địa phương lại có những nét riêng, song hệ thống điện thần vẫn
tuân thủ theo các hàng bậc. Đứng đầu là Phật Bà Quan Âm, kế tiếp là Vua cha
Ngọc Hoàng. Hàng thứ ba thờ tam tòa Thánh mẫu (Mẫu Thượng Thiên, Mẫu
Thượng Ngàn, Mẫu Thoải Phủ). Hàng thứ tư thờ ngũ vị tôn quan (từ quan Đệ
Nhất đến quan Đệ Ngũ. Sau hàng quan là tứ phủ Chầu bà (từ Chầu Đệ Nhất
đến Chầu Mười, riêng Chầu cuối cùng được gọi là Chầu Bé). Kế tiếp thờ thập
vị quan Hoàng (từ Hoàng Cả đến Hoàng Mười). Sau các ông Hoàng là thập nhị
Tiên Cô (từ Cô Cả đến Cô Mười, riêng cô mười một được gọi là Cô Bé, cô
mười hai là Cô Bản Đền). Cuối cùng là thờ tứ phủ Thánh cậu (từ Cậu Cả đến
Cậu Mười, riêng cậu mười một được gọi là Cậu Bé, cậu mười hai là Cậu Bản
Đền). Thờ hạ ban có Ngũ Hổ và Ông Lốt (ông rắn)
Các vị Thánh trong tín ngưỡng thờ Mẫu không chỉ phân thành hàng mà
còn được phân thành các phủ. Khái niệm phủ tương ứng với các miền khác
nhau trong vũ trụ: Thiên phủ (miền trời), Nhạc phủ (miền rừng núi), Thoải
phủ (miền sông nước), Địa phủ (miền đất đai). Đứng đầu các phủ là các
Thánh mẫu: Mẫu Thượng Thiên (đồng nhất với Mẫu Liễu Hạnh) cai quản
Thiên Phủ; Mẫu Thượng Ngàn cai quản Nhạc phủ; Mẫu Thoải cai quản Thoải
phủ; Mẫu Địa cai quản Địa phủ. Giúp việc cho Thánh mẫu là các vị Quan lớn,
Chầu bà, ông Hoàng, Cô, Cậu như đã nói ở trên và cũng được phân theo phủ
như các Mẫu.
Trong điện thờ Mẫu, nhân dân ta còn phối thờ với Đức Thánh Trần một vị anh hùng có công lao to lớn trong việc chống giặc ngoại xâm. Trong
tâm thức dân gian, ông được đồng nhất với Vua cha, ngày giỗ của ông cũng
đồng nhất với ngày giỗ Cha Bát Hải Động Đình (một trong tứ vị Vua cha
11
trong tín ngưỡng thờ Mẫu) “Tháng tám giỗ Cha, tháng ba giỗ Mẹ”. Cùng với
Đức Thánh Trần, hai Vương cô và các vị tướng của ông cũng được thờ
12
giáo. Từ xa xưa, người Việt vốn sùng bái phù phép, ma thuật, … họ tin rằng
các pháp thuật có thể trừ tà chữa bệnh. Vì thế, Đạo giáo phù thủy thâm nhập
vào nước ta, hòa quyện vào tín ngưỡng tới mức không còn ranh giới, điều này
được thể hiện qua các phép: Thần phù, trị bệnh trong thờ Mẫu. Không chỉ có
vậy, Tín ngưỡng thờ Mẫu với sự phối thờ với thờ Đức Thánh Trần cũng là
một điểm tương đồng với Đạo giáo. Tương truyền, Trần Hưng Đạo là người
rất giỏi trong việc trừ tà ma, chính vì thế mà ông được nhân dân tôn thờ như
một vị Thánh. Trong buổi lên đồng, người ta thường thỉnh Đức Thánh Trần
về làm phép từ tà sát quỷ đó là: “Xiên lình” (dùng thanh sắt nhọn xuyên từ má
bên này qua má bên kia); “Lên đai thượng” (cầm dải lụa đỏ thắt cổ) hay “lấy
dấu mặn” (dùng con dao hay vật nhọn rạch vào lưỡi người hầu để lấy máu)
sau đó phun ra tờ giấy hoặc rượu… Những hình thức này đều ảnh hưởng từ
Đạo giáo Trung Hoa.
Từ hệ thống điện thần của tín ngưỡng thờ Mẫu có thể thấy, mặc dù
Mẫu là thần chủ nhưng trên Thánh mẫu còn có chư Phật - đại diện là hình ảnh
Phật Bà Quan Âm. Đây là biểu hiện của quá trình giao thoa giữa tín ngưỡng
bản địa với các tôn giáo từ bên ngoài du nhập vào nước ta, cụ thể ở đây là
Phật giáo. Không chỉ có Phật đi vào hệ thống điện thần thờ Mẫu, mà còn có
đường ngược lại. Hầu hết các ngôi chùa hiện nay đều có điện thờ Mẫu, phổ
biến nhất là dạng “tiền Phật hậu Mẫu”. Bên cạnh đó, các Phật thường có xu
hướng “nữ thần hóa”, Phật Quan Âm theo quan niệm của Ấn Độ vốn là Phật
nam, nhưng sang tới Việt Nam, ảnh hưởng từ văn hóa bản địa đã trở thành
Phật Bà Quan Âm từ bi, đức độ. Mặc dù đối tượng thờ phụng khác nhau
nhưng cả Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu đều hướng con người đến sự từ bi,
khuyên con người ăn ở có đức, năng làm việc thiện, tránh làm việc ác…
Thiên Chúa giáo được du nhập từ phương Tây vào nước ta ít nhiều
cũng có nét chung với tín ngưỡng thờ Mẫu. Hình tượng Mẫu của người Việt
đến với Mẫu đều bằng cái tâm, mong muốn được ba phước lành, tài lộc và sự
bình an trong tâm hồn.
1.1.2.2. Tục thờ Thánh mẫu Liễu Hạnh
Theo cảm quan huyền thoại, Liễu Hạnh công chúa (Thánh mẫu Liễu
Hạnh) vốn là Đệ Nhị Quỳnh Hoa công chúa trên thiên cung, ba lần giáng sinh
trần thế và được nhân dân suy tôn làm Thánh mẫu. Trong hệ thống điện thần
tín ngưỡng thờ Mẫu, Thánh mẫu Liễu Hạnh được đồng nhất với Mẫu Thượng
Thiên, mặc trang phục màu đỏ, ngồi chính giữa, hai bên là Mẫu Thượng Ngàn
(bên phải) và Mẫu Thoải (bên trái). Nơi thờ chính của bà ở Phủ Dầy (Nam
14
Định), ngoài ra còn có đền Sòng Sơn (Thanh Hóa) là nơi bà hiển thánh; Phủ
Tây Hồ (Hà Nội) là nơi Mẫu gặp gỡ và đàm đạo văn thơ với Phùng Khắc
Khoan cùng cử nhân họ Ngô, tú tài họ Lý. Ngoài những nơi thờ chính, bà còn
được thờ vọng ở khắp nơi, trong Nam, ngoài Bắc. Trong phạm vi nghiên cứu,
chúng tôi tìm hiểu về tục thờ Mẫu và lễ hội tại Phủ Dầy (Nam Định).
Phủ Dầy được coi là trung tâm của Tín ngưỡng thờ Mẫu. Lúc đầu có ba
nơi thờ chính, đó là Phủ Thiên Hương (quê chồng Đào lang), Phủ Vân Cát
(nơi Mẫu giáng sinh lần thứ hai) và Lăng Mẫu, sau đó lan rộng ra một số điện
thần khác. Ngày nay, Phủ Dầy được coi là một “siêu điện thần” với trên 20 di
tích thờ phụng Thánh Mẫu Liễu Hạnh.
Lễ hội Phủ Dày được tổ chức vào tháng 3 hàng năm theo quan niệm
dân gian “Tháng tám tiệc Cha, tháng ba tiệc Mẫu” và tháng 3 cũng là khoảng
thời gian tạ thế của Mẫu khi giáng trần lần thứ hai. Xưa kia, lễ hội kéo dài
khoảng 10 ngày, bắt đầu từ ngày 30 tháng 2 âm lịch. Ngày mở hội bao giờ
cũng là nghi thức cúng tế, ngày cuối hội rước Thánh Mẫu.
Nghi lễ tiêu biểu trong hội Phủ Dầy là nghi lễ rước Mẫu từ Phủ Thiên
Hương lên chùa Gôi vào ngày mồng 6. Nghi thức này phản ánh sự giao thoa
giữa Tín ngưỡng thờ Mẫu với Phật giáo. Trong huyền thoại, Mẫu Liễu bại
chức hội làng quy định, nhưng thường là “Mẫu nghi thiên hạ” hay “Thiên hạ
thái bình”…[18, 142]
Nói về tục thờ Thánh mẫu Liễu Hạnh, người ta thường nhắc đến nghi lễ
lên đồng, một hình thức sinh hoạt văn hóa tiêu biểu trong tín ngưỡng thờ
Mẫu. Nghi thức này thường được diễn ra ở phủ, đền hay điện thờ. Không gian
lên đồng trong phủ, đền hay điện nhuốm màu tâm linh, uy nghi, lộng lẫy.
Người ta thường lên đồng ở ban chính giữa (tức ban công đồng), phía dưới
ban đặt một tấm gỗ lớn, hoặc xây một mặt phẳng lớn cao hơn so với mặt đất
khoảng 20 đến 30cm, với diện tích chỉ đủ bằng một manh chiếu được gọi là
sập công đồng. Trên sập đồng, ta thường thấy một chiếc bàn có gắn gương
được chạm khắc rất đẹp mắt, đó là bàn loan. Người lên đồng sẽ ngồi trước
bàn loan, người phụ đồng lên khăn sẽ ngồi bên phải, phụ đồng lên hương sẽ
ngồi bên trái.
16
Âm nhạc là thứ không thể thiếu trong nghi thức lên đồng. Chầu văn,
còn gọi là hát văn là loại hình nghệ thuật không thể thiếu cho một buổi lên
đồng. Hát văn có xuất xứ ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Thời kỳ thịnh vượng
nhất của hát văn là cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX. Một dàn nhạc hát văn bao
gồm một đàn nguyệt, một đàn nhị, một sáo, một trống lớn, bốn trống nhỏ, một
cảnh đôi, một phách…
Yếu tố quan trọng tạo nên một buổi lên đồng thành công không thể
thiếu được là khăn áo và đạo cụ. Trước hết, người lên đồng phải có những
trang phục thứ yếu: Một bộ lót hầu màu trắng, một đôi tất trắng, áo bản mệnh,
khăn phủ diện và khăn tấu hương. Với mỗi giá đồng, người lên đồng sẽ được
hai phụ đồng mặc cho mình những trang phục tương ứng. Người ta không hầu
Thánh mẫu Liễu Hạnh mà chỉ hầu tráng mạn (hình thức giáng đồng trùm
khăn). Trang phục của Mẫu là áo dài đỏ thêu phượng, đầu đội khăn xếp có
Nguyễn Kiều. Cưới nhau được một tháng, Nguyễn Kiều phải đi sứ ba năm.
Trong khoảng thời gian đó, bà đã dịch Chinh phụ ngâm bày tỏ nỗi lòng, sự
cảm thông với những người phụ nữ có chồng đi chinh chiến. Năm 1748, Đoàn
Thị Điểm theo chồng vào Nghệ An, tuy nhiên trên đường đi bà đã nhuốm
bệnh và qua đời.
Về sự nghiệp sáng tác, Đoàn Thị Điểm viết nhiều nhưng thất lạc cũng
nhiều, hậu thế chỉ còn biết đến Chinh phụ ngâm - bản diễn Nôm tác phẩm
Chinh phụ ngâm khúc bằng chữ Hán của Đặng Trần Côn. Bản dịch gồm 408
câu được viết theo thể song thất lục bát diễn tả nỗi nhớ nhung khắc khoải của
người phụ nữ có chồng đi chinh chiến. Đây có lẽ cũng là tâm trạng của bà khi
ông Nguyễn Kiều đi sứ Trung Quốc. Tuy là bản dịch nhưng nó đem lại giá trị
nội dung và thuật sâu sắc, trở thành một trong những tác phẩm ưu tú nhất của
nền thi văn trung đại Việt Nam.
Người ta không chỉ biết đến Đoàn Thị Điểm qua Chinh phụ ngâm mà
còn biết đến bà là tác giả của Truyền kỳ tân phả. Tập truyện này là tập hợp
những câu chuyện kỳ lạ được lưu truyền trong dân gian được bà san định lại.
Đây là bước phát triển mới về thể loại truyền kỳ mà trước đó tác giả Nguyễn
Dữ cũng đã từng san định qua Truyền kỳ mạn lục.
Tác phẩm Vân Cát thần nữ được coi là công trình san định đầu tiên về
Thánh mẫu Liễu Hạnh trong nền văn học Việt Nam, được trích trong tập
truyện Truyền kỳ tân phả của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm. Tác phẩm thuộc thể loại
truyện truyền kỳ với nội dung xoay quanh về thân thế và cuộc đời của Thánh
18
mẫu Liễu Hạnh.
1.2.2. Nguyễn Công Trứ với Liễu Hạnh công chúa diễn âm
Nguyễn Công Trứ (1778-1858) tự Tồn Chất, hiệu Ngộ Trai, biệt hiệu
Hi Văn. Ông là một nhà thơ, nhà chính trị, quân sự tài ba thời nhà Nguyễn.
quốc âm ca khúc, ký hiệu AB 146 và ghi rõ Hoàng triều Thượng thư Nguyễn
Công Trứ soạn. Sách chia làm nhiều tập, gồm 230 trang, chép nhiều bài ca
trù, thơ, phú được xem là của Nguyễn Công Trứ. Thật ra, người sao chép đã
để lẫn lộn vào đây nhiều bài mà chúng ta biết là của tác giả khác (như những
bài văn sách của Lê Qúy Đôn, bản dịch Tỳ bà hành của Phan Huy Thực, cùng
nhiều thơ văn). Sách cũng chép vở chèo Lưu Bình Dương Lễ, vở tuồng Hán
Sở tranh hùng… Do đó, có thể xem đây đều là tác phẩm của Nguyễn Công
Trứ. Ở tập 2 của cuốn sách có bài Liễu Hạnh công chúa diễn âm với dung
lượng trên 200 câu, được viết theo thể song thất lục bát, song hình như chưa
hết vì chưa có câu kết. Tuy nhiên, không thể khẳng định tác phẩm này của
Nguyễn Công Trứ, nhưng hiện tại chưa có bằng chứng bác bỏ. Chúng ta có
thể coi đây là một tư liệu tham khảo viết về Thánh mẫu Liễu Hạnh.” [19, 41]
1.2.3. Tác giả khuyết danh với Vân Cát thần nữ cổ lục diễn âm
Vân Cát thần nữ cổ lục diễn âm là một bản Nôm chép tay được lưu trữ
tại Thư viện Khoa học xã hội, không có tên tác giả và không ghi chú năm
tháng. Nội dung tác phẩm viết về Thánh mẫu Liễu Hạnh với dung lượng 732
câu, được viết theo thể song thất lục bát. “Tác phẩm gần như bám rất sát với
bản chữ Hán trong Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm, có thêm bớt một
vài chi tiết. Tác giả khuyết danh có lẽ là một nhà Nho, sính chữ nghĩa” [19,
49]. Tác phẩm này được lưu truyền trong dân gian, chữ viết chưa rõ ràng, lời
văn khó hiểu, nhiều câu thơ viết bằng chữ Hán. Có lẽ vì thế mà từ trước đến
nay, giới nghiên cứu văn học nước ta chưa nhắc đến tác phẩm này.
1.2.4. Kiều Oánh Mậu với Tiên phả dịch lục
Kiều Oánh Mậu (1854-1911) hiệu Giá Sơn. Ông là một học giả nổi
tiếng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, sinh ra tại làng Đông Sàng, tổng Cam
Giá, huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây, nay là xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây,
Hà Nội.
Sinh ra trong một gia đình có truyền thống khoa bảng, nhiều đời làm