Biểu tượng về giới nữ qua mô hình không thời gian trong một số tác phẩm văn học trung đại việt nam (2018) - Pdf 50

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

======
TRẦN THỊ YÊN

BIỂU TƯỢNG VỀ GIỚI NỮ
QUA MÔ HÌNH KHÔNG - THỜI GIAN
TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM
VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lí luận văn học

HÀ NỘI, 2018


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

======
TRẦN THỊ YÊN

BIỂU TƯỢNG VỀ GIỚI NỮ
QUA MÔ HÌNH KHÔNG - THỜI GIAN
TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM
VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Người hướng dẫn khoa học



MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................ 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................ 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................ 3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu................................................................. 3
5. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 4
6. Dự kiến đóng góp của khóa luận................................................................... 4
7. Bố cục khóa luận ........................................................................................... 4
NỘI DUNG ....................................................................................................... 5
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ BIỂU TƯỢNG VÀ BIỂU TƯỢNG VĂN
HỌC................................................................................................................... 5
1.1. Khái niệm biểu tượng ................................................................................. 5
1.1.1. Nhìn từ góc độ Nhân- Triết học .............................................................. 5
1.1.2. Nhìn từ góc độ Kí hiệu học ..................................................................... 6
1.1.3. Nhìn từ góc độ Phân tâm học .................................................................. 6
1.1.4. Nhìn từ góc độ lí thuyết Tu từ học .......................................................... 7
1.1.5. Nhìn từ góc độ văn hóa ........................................................................... 7
1.1.6. Nhìn từ góc độ văn học ........................................................................... 8
1.2. Biểu tượng nghệ thuật trong tác phẩm văn học. ........................................ 8
1.3. Đặc trưng của biểu tượng ........................................................................... 9
1.3.1. Tính đa trị ................................................................................................ 9
1.3.2. Tính hai mặt .......................................................................................... 10


1.3.3. Tính lịch đại .......................................................................................... 11
1.3.4. Tính tái sinh........................................................................................... 11
1.4. Cơ chế xây dựng biểu tượng trong văn học ............................................. 12

Trong suối nguồn văn học, từ văn học dân gian đến văn học trung đại
và cả văn học hiện đại, hình ảnh về những người phụ nữ luôn có sức lay động
mạnh mẽ tới người đọc. Đặc biệt là những người phụ nữ trong văn học trung
đại. Họ là nạn nhân của chế độ phong kiến hà khắc, của những quan niệm cổ
hủ và những lễ giáo khắc nghiệt. Chính hệ tư tưởng Nho giáo đã đẩy người
phụ nữ rơi vào số phận bi kịch.
Mặt khác, mỗi nhân vật khi xuất hiện đều gắn liền với một không gian
và thời gian nhất định. Đó là môi trường, hoàn cảnh để nhân vật bộc lộ tính
cách. Đồng thời thông qua mô hình không - thời gian đó biểu trưng những ý
nghĩa nhất định về con người. Không gian và thời gian là hai yếu tố luôn tồn
tại song hành và có mối quan hệ mật thiết với nhau, không thể tách rời. Chính
vì vậy tìm hiểu giới nữ qua một số mô hình không - thời gian trong văn học
trung đại sẽ giúp cho người đọc có những cảm nhận cụ thể về hình tượng
người phụ nữ trong văn học trung đại. Đó chính là lí do, động lực khiến chúng
tôi lựa chọn đề tài: Biểu tượng về giới nữ qua mô hình không - thời gian
trong một số tác phẩm văn học trung đại Việt Nam.

1


2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Theo sự khảo sát của chúng tôi, vấn đề giới nữ trong văn học trung đại
Việt Nam đã được các nhà nghiên cứu quan tâm ở những mức độ khác nhau.
Tuy nhiên, các tác giả chủ yếu phản ánh hình tượng người phụ nữ trong văn
học trung đại, mà chưa có nhiều công trình nghiên cứu đề cập tới biểu trưng
về giới nữ qua mô hình không - thời gian trong một số tác phẩm văn học
trung đại cụ thể.
Phan Khôi được xem là cây bút mở đầu cho phê bình về giới và nữ
quyền. Trong bài viết Theo tục ngữ phong dao xét về sự sanh hoạt của người
phụ nữ nước ta của ông, tác giả nhìn thấy số phận bi kịch của người phụ nữ

cập đến ý nghĩa biểu trưng về người phụ nữ trong tác phẩm văn học trung đại.
Vì thế, kế thừa từ những gợi ý của các nhà nghiên cứu đi trước, đề tài chúng
tôi sẽ đi sâu tìm hiểu: Biểu trưng về giới nữ qua mô hình không - thời gian
trong một số tác phẩm văn học trung đại Việt Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài Biểu tượng về giới nữ qua mô hình không - thời gian
trong một số tác phẩm văn học trung đại Việt Nam, tác giả khóa luận mong
muốn làm rõ ý nghĩa biểu tượng về người phụ nữ qua một số mô hình không thời gian tiêu biểu.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Kế thừa những vấn đề chung về lí thuyết biểu tượng.
- Làm rõ ý nghĩa biểu tượng về giới nữ qua mô hình không - thời gian
trong một số tác phẩm văn học trung đại Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là Biểu tượng về giới nữ qua mô
hình không - thời gian trong một số tác phẩm văn học trung đại Việt Nam.

3


4.2. Phạm vi nghiên cứu
Triển khai đề tài khóa luận, tác giả tập trung khảo sát và tìm hiểu nhân
vật người phụ nữ trong tác phẩm văn xuôi tự sự Truyền kì mạn lục của
Nguyễn Dữ và một số truyện thơ Nôm tiêu biểu như: Chinh phụ ngâm, Cung
oán ngâm, Truyện Kiều, Mã Phụng - Xuân Hương, Lưu nữ tướng, Thoại
Khanh - Châu Tuấn...
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong khóa luận này, chúng tôi sử dụng kết hợp các phương pháp:
- Phương pháp hệ thống

con người xuất phát từ hiện thực khách quan của cuộc sống. Theo Từ điển
triết học: “Biểu tượng là hình ảnh trực quan – cảm tính, khái quát về các sự
vật hiện tượng của hiện thực, được giữ lại và tái tạo lại trong ý thức và không
có sự tác động trực tiếp của bản thân các sự vật và các hiện tượng đến giác
quan”[5, tr.98]
Như vây, nhìn từ góc độ Nhân – Triết học, biểu tượng là khái niệm chỉ
một giai đoạn, một hình thức của nhận thức cao hơn cảm giác và thuộc về giai
đoạn tiền ý thức. Nó có nguồn gốc từ cuộc sống và được dựng lại trong tư duy
của con người, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc sau khi tác
động của sự vật vào giác quan ta đã chấm dứt. Với cách hiểu như vậy thì biểu
tượng mang tính chủ quan của cá nhân mỗi người. Thế giới biểu tượng có
phong phú hay không phụ thuộc vào sự đa dạng trong tâm hồn con người.

5


1.1.2. Nhìn từ góc độ Kí hiệu học
Theo quan điểm của Iu. Lotman, biểu tượng cũng là một hình tượng
nghệ thuật. Khác với các hình tượng nghệ thuật thông thường, biểu tượng có
sự độc lập tương đối với hệ thống kí hiệu văn bản và có thể xuất hiện trong
nhiều văn bản khác nhau trong một nền văn hóa. Từ “biểu tượng” trong tiếng
Anh là “symbol” còn được dịch là kí hiệu, là một trong những từ nhiều nghĩa
nhất trong hệ thống các khoa học về kí hiệu. Cụm từ “ý nghĩa biểu tượng”
được sử dụng rộng rãi như là một từ đồng nghĩa với “tính kí hiệu”. Iu. Lotman
cũng nhấn mạnh cần phân biệt biểu tượng với “ý nghĩa biểu tượng”. Biểu
tượng là cái biểu đạt còn ý nghĩa biểu tượng là cái được biểu đạt, giữa chúng
có mối quan hệ gắn bó với nhau, tuy nhiên không thể đồng nhất chúng.
Iu. Lotman cho rằng, ở biểu tượng có hai hệ thống kí hiệu, nghĩa là một
biểu tượng vừa là cái được biểu đạt của hệ thống kí hiệu này, đồng thời vừa là
cái biểu đạt của hệ thống kí hiệu khác. Từ kí hiệu thành biểu tượng là một quá

khoa học, tôn giáo…”. Như vậy, một nền văn hóa được tạo nên từ nhiều biểu
tượng khác nhau tạo thành một hệ thống, mà đầu tiên là các biểu tượng thuộc
về ngôn ngữ. Ngoài ngôn ngữ, các phương diện văn hóa khác cũng mang
trong mình cả một hệ thống các biểu tượng. Điều đó tạo nên sự đa dạng của
các biểu tượng về văn hóa.
Tuy nhiên, mỗi nền văn hóa khác nhau lại có hệ thống biểu tượng khác
nhau, các biểu tượng này mang tính tương đối ổn định và lâu dài. Mặt khác,
một “mẫu gốc” có thể sản sinh ra nhiều biểu tượng khác nhau mà chúng ta
thường thấy trên nhiều lĩnh vực văn hóa như nghệ thuật, phong tục tập quán,
sinh hoạt của mỗi đất nước. Như vậy, các biểu tượng sẽ tạo nên bản sắc văn
hóa của mỗi dân tộc, mang đậm dấu ấn, hơi thở của dân tộc đó.

7


1.1.6. Nhìn từ góc độ văn học
Văn học có chức năng phản ánh hiện thực cuộc sống con người thông
qua các hình ảnh biểu tượng. Tuy nhiên các biểu tượng cũng hiện lên đầy tính
ước lệ.
Theo nghĩa hẹp, biểu tượng là một phương thức chuyển nghĩa của lời nói
hoặc một loại hình tượng nghệ thuật đặc biệt có khả năng truyền cảm lớn, vừa
khái quát được bản chất của một hiện tượng nào đấy, vừa thể hiện một quan
niệm, một tư tưởng hay một triết lí sâu xa về con người và cuộc đời.
Theo nghĩa rộng, biểu tượng là đặc trưng phản ánh cuộc sống bằng hình
tượng của văn học nghệ thuật.
Như vậy, biểu tượng trong văn học chính là sự mã hóa các kí hiệu ngôn
từ của tác giả nhằm thể hiện những tư tưởng tình cảm của mình về con người
và cuộc sống. Đồng thời biểu tượng cũng mang trong mình tính đa nghĩa,
khơi gợi sự sáng tạo nơi người đọc, thể hiện sự gắn kết giữa cuộc đời – nhà
văn – tác phẩm và cuộc đời.

chúng ta thêm phong phú và đa dạng.
1.3. Đặc trưng của biểu tượng
Phân tích khái niệm biểu tượng, có thể thấy, biểu tượng luôn tồn tại một
số đặc trưng cụ thể sau:
1.3.1. Tính đa trị
Nếu như các kí hiệu thông thường chỉ mang tính đơn trị thì biểu tượng
lại mang tính đa trị, nhiều nghĩa. Mối quan hệ giữa hai mặt của biểu tượng,
giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt luôn có sự đa dạng, chuyển động, không
hề có sự rút gọn hay ổn định. Nếu ba màu của tín hiệu đèn giao thông chỉ có
một cách hiểu, màu vàng là biểu tượng của giảm tốc độ, màu xanh là biểu
tượng của sự được đi còn màu đỏ là biểu tượng của sự dừng lại thì màu vàng
trong văn học là biểu tượng cho nỗi buồn trong tác phẩm của Huy Cận,….

9


Như vậy, các kí hiệu thông thường thì tỉ lệ giữa chúng là 1:1, tức là một
cái biểu đạt chỉ thể hiện một ý nghĩa, hành động, còn biểu tượng trong văn
học thì tỉ lệ là 1: n, nghĩa là một biểu tượng có nhiều cách hiểu khác nhau, tùy
thuộc vào sự nhận thức, tiếp nhận của người đọc.
Như vậy, tính đa trị của biểu tượng văn học là một đặc trưng đầu tiên
dễ nhận thấy khi ta cảm thụ tác phẩm văn chương. Tính đa trị của biểu tượng
thể hiện sự nhận thức cũng như cách thức sáng tạo, tài năng của nhà văn trong
việc phản ánh cuộc sống và con người.
1.3.2. Tính hai mặt
Trên thực tế, bất kì một vấn đề nào đó cũng đều mang tính hai mặt của
nó. Không nằm ngoài quy luật ấy, biểu tượng cũng mang trong mình tính tất
yếu giữa hai mặt, đó là cái biểu trưng và cái được biểu trưng, hay còn gọi là
hình thức và nội dung. Giữa hai mặt của biểu tượng luôn “mang tính có lí do,
tính tất yếu”. Khi lựa chọn biểu tượng trong tác phẩm văn học, mỗi nhà văn

không gian đến với những sáng tác khác ở thời hậu thế và mang một ý nghĩa
phát triển hơn như là sự sản sinh của các biểu tượng văn học.
1.3.4. Tính tái sinh
Tính tái sinh của biểu tượng văn học được thể hiện ở chỗ là từ một mẫu
gốc có thể sản sinh ra các biến thể loại hình. Theo TS. Nguyễn Thị Ngân Hoa:
“Biểu tượng khác cơ bản với các dấu hiệu, kí hiệu khác (kể cả tín hiệu ngôn
ngữ tự nhiên) ở chỗ, ngoài chức năng thay thế, chức năng biểu hiện, chức
năng giao tiếp, chức năng quan trọng nhất của biểu tượng là chức năng thẩm
mĩ, sản sinh ra các hình tượng nghệ thuật”[3. tr.17]. Văn học là nghệ thuật
ngôn từ nên cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Vì vậy, khám phá các biểu
tượng văn học, ngoài việc tìm hiểu nghĩa từ mẫu gốc của nó, người đọc cần
xem xét tới những cái cụ thể như ngôn từ sử dụng, các biện pháp nghệ thuật,
hình ảnh…để tìm ra các tầng ý nghĩa mà biểu tượng ngôn từ thể hiện, góp

11


phần mang lại sự trong sáng, thăng hoa, hứng thú trong tiếp cận tác phẩm văn
học của người đọc.
1.4. Cơ chế xây dựng biểu tượng trong văn học
Văn học là sự mô phỏng hiện thực khách quan, tuyệt nhiên không phải
là sự bê nguyên hiện thực cuộc sống vào trong tác phẩm. Thế giới nghệ thuật
trong tác phẩm văn học là thế giới đã được chuyển hóa, giống thật nhưng
không phải thật. Để tạo nên một thế giới nghệ thuật như vậy, bắt buộc nhà
văn phải sử dụng hệ thống các hình ảnh biểu tượng để mã hóa cảm xúc tư
tưởng của mình nhằm truyền tải ý đồ nghệ thuật đến người đọc. Tuy nhiên,
không phải cứ lấy một biểu tượng nào trong đời sống đưa vào tác phẩm là lập
tức trở thành biểu tượng nghệ thuật. Biểu tượng là những hình ảnh sự vật cụ
thể cảm tính bao hàm trong đó nhiều ý nghĩa gây được ấn tượng mạnh đối với
người tiếp nhận. Nó được coi là những kí hiệu thẩm mĩ đa nghĩa bao gồm cái

thế giới trong từng thời kì lịch sử nhất định.
Biểu tượng không chỉ đơn thuần là mã hóa những tư tưởng cảm xúc của
nhà văn, mang cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ mà đó còn là kết tinh của
những giá trị văn hóa, những suy nghĩ, quan niệm của một dân tộc, mang hơi
thở của thời đại. Những tác phẩm sử dụng nhiều biểu tượng thể hiện sự từ
chối cách viết trực tiếp giãi bày những tâm tư tình cảm của tác giả.
Như đã nói ở phần trước, biểu tượng luôn có xu hướng tái sinh. Ở những
thời điểm nhất định, trong những tác phẩm cụ thể, biểu tượng mang dấu ấn cá
nhân của nhà văn, ghi dấu hơi thở của thời đại. Nhà văn có thể tái sinh các
biểu tượng trong những môi trường, hoàn cảnh khác nhau, cấp cho nó những
mối quan hệ mới, để có thể mang thêm nhiều lớp nghĩa mới, phong phú hơn,
đa dạng hơn. Mỗi thời kì, mỗi khuynh hướng, mỗi nhà văn lại có những cách
khám phá hình tượng riêng. Khám phá thế giới biểu tượng góp phần chiếm
lĩnh tác phẩm văn học một cách trọn vẹn nhất.

13


Cuộc sống muôn hình vạn trạng, đòi hỏi nhà văn phải sử dụng hệ thống
các biểu tượng để ẩn dụ cho cảm xúc, tư tưởng của mình. Cho nên khi tiếp
nhận, đòi hỏi người đọc cần có một trình độ nhất định, phải yêu thích văn
chương, phải thực sự toàn tâm toàn ý khi tiếp nhận nó. Chỉ có vậy biểu tượng
mới thực sự sống động và tồn tại lâu dài. Người đọc là kẻ đồng sáng tạo với
nhà văn. Tác phẩm văn học chỉ thực sự sống dậy khi ở đó có sự đọc của người
tiếp nhận. Tiếp nhận biểu tượng nghệ thuật không chỉ đơn thuần là xem xét nó
trong môi trường tác phẩm, mà cần đặt nó trong môi trường rộng lớn hơn là
thời đại, thời điểm mà nó ra đời.
Nhìn chung, khi tiếp nhận biểu tượng nói riêng và tác phẩm nghệ thuật
nói chung, người đọc cần vận dụng toàn bộ khả năng tư duy và tình cảm của
mình để đọc hiểu ý nghĩa. Nhà văn khi sáng tạo các biểu tượng, bao giờ cũng

mã hóa của các biểu tượng. Bởi lẽ, biểu tượng thường hàm ẩn nhiều tầng ý
nghĩa, nó vận động và phát triển không ngừng, cái được biểu đạt bao giờ cũng
phong phú hơn cái biểu đạt.
Có thể nói, biểu tượng là những hình ảnh, sự vật chứa đầy ý nghĩa và
càng trở nên sinh động hấp dẫn trong đời sống cộng đồng, trong sự tiếp nhận
của người đọc. Mặt khác, biểu tượng mang tính tái sinh về mặt ý nghĩa không
chỉ trong quá trình sáng tác mà còn cả trong quá trình tiếp nhận. Hình thức có
thể vẫn được giữa nguyên, nhưng cái được biểu đạt đã có ít nhiều thay đổi,
ngoài việc giữ vững nét nghĩa cũ thì biểu tượng còn hàm ẩn nhiều lớp nghĩa
mới được bổ sung, góp phần làm nên sự phong phú cho nghĩa của biểu tượng.
Tuy nhiên điều này cũng cần phụ thuộc vào trình độ tư duy và tiếp nhận từ
người đọc.
Thời đại sản sinh ra biểu tượng, cho dù thời đại ấy có lùi sâu vào quá
khứ thì biểu tượng đó vẫn còn tồn tại và không bao giờ bị mất đi trong môi
trường tác phẩm. Nó vẫn hiện diện sống động với những lớp nghĩa trước đó,
thậm chí đến hiện tại còn được phát triển thêm nhiều lớp nghĩa bổ sung. Tuy

15


nhiên, không thể phủ nhận vai trò của mẫu gốc, của những lớp nghĩa cơ bản
bởi đó là nền tảng, là cơ sở để phát triển cho nghĩa hiện tại. Chính nó đã mang
lại những giá trị độc đáo cho biểu tượng nghệ thuật, đó là giá trị truyền thống,
giá trị lịch sử, giá trị của những quan niệm về con người một thời đã qua.
Song hành với những quan niệm truyền thống luôn có những cách tân
hiện đại. Biểu tượng ngoài các nghĩa gốc, luôn có xu hướng phát sinh ra nghĩa
mới, hoặc những biểu tượng hoàn toàn mới. Như vậy thì biểu tượng nghệ
thuật luôn có sự đan cài giữa cổ điển và hiện đại, giữa quá khứ và hiện tại,
tương lai. Chính điều đó khiến cho biểu tượng nghệ thuật vừa làm sống dậy
những giá trị truyền thống tốt đẹp đồng thời cũng mang đến những cảm thức

Văn học ngoài những tác phẩm thể hiện các bậc anh tài thì cũng dành một
dung lượng lớn cho một nửa còn lại của thế giới. Ngay từ văn học dân gian,
người phụ nữ đã xuất hiện với vai trò là nhân vật trung tâm trong tác phẩm, từ
những bài ca dao:
“Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ giữa chợ, biết vào tay ai?”
Cho đến những câu chuyện cổ tích như Tấm Cám,… nhân vật nữ xuất hiện
khá nhiều. Họ là người trực tiếp bày tỏ những tâm sự thầm kín, những trạng
thái cảm xúc khác nhau, những lo lắng về tương lai mà qua đó người đọc thấy
được thân phận của những cô gái trong cuộc sống xa xưa, những bất công của
cuộc đời mà họ phải gánh chịu.
Theo tiến trình lịch sử văn học dân tộc, văn học trung đại cũng được
khơi nguồn cảm hứng từ văn học dân gian. Sự xuất hiện của những người phụ
nữ mang đến cho người đọc những cảm nhận khác nhau về các phận đời. Từ
người cung nữ trong Cung oán ngâm đến người chinh phụ trong Chinh phụ
ngâm đến các nhân vật nữ thuộc mọi tầng lớp trong các sáng tác của Hồ Xuân
Hương… đều thể hiện một cách sâu sắc và thấm thía về số phận của những
người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Họ là người con được sinh ra trong

17


chế độ trọng nam khinh nữ, từ những quan niệm hà khắc đầy rẫy những bất
công, vì vậy mà họ có nhiều nỗi niềm, họ muốn tâm sự, muốn trải lòng với tất
cả. Và có lẽ, văn chương chính là nơi nói hộ những tâm sự từ sâu thẳm trong
trái tim của những người phụ nữ có thân phận hẩm hiu.
Đến văn học hiện đại, cũng không nằm ngoài quy luật của văn chương,
phái nữ cũng chiếm một vị trí quan trọng trong các tác phẩm. Khác với văn
chương dân gian hay văn chương trung đại, thơ văn hiện đại thể hiện những
người phụ nữ theo một cách khác. Đó là tâm sự trong tình yêu của những cô

gian trong tác phẩm văn học. Trong phạm vi khóa luận, người viết khảo sát
được một số mô hình không - thời gian sau:
1. Không gian gia đình - thời gian trì đọng
2. Không gian xã hội - thời gian cắt chia, lưu lạc
3. Không gian chiến trận - thời gian vội vã, gấp gáp
Dưới đây, người viết sẽ tập trung phân tích nhằm làm sáng tỏ ý nghĩa
biểu tượng về người phụ nữ thông qua các mô hình không - thời gian đó.
2.1. Không gian gia đình - thời gian trì đọng
Có thể nói, đây là mô hình không - thời gian nổi bật trong văn học trung
đại Việt Nam. Đặc biệt ở giai đoạn văn học thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ
XIX thì vấn đề dân tộc không còn là yêu cầu bức thiết nữa. Vấn đề chính lúc

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status