ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG DẠI HỌC KHOA HỌC xñ HỘI vn NHÂN VĂN
• • • •
£)ầ TÀI
TÌM Hiếu Gltìo IV ĐHRCMH
V ỉ IỈỔN PHẬN ĐẠO nức NGƯỜI PHỤ NỮ nN ĐỘ
• • * •
ợun MỘT SỐ TÓC PHÀM VĂN HỌC nN ĐỘ Tiêu Biếu.
• • •
Mã số: QX. 98. 09
Người chủ trì: Phạm M inh Tâm
MỤC LỤC
% *
Trang
Lòi nói đầu. 4
Phần nội dung chính. *
Phẩn ịhứ_ nhất: M ột cái nhìn lổ n g Ihể về Ấ n Đ ộ . 7
Chương 1 : N hững cơ sở lịch sử và x ã hội. 8
1 . 1 .Tên nước. 8
1.2 .Đ iề u k iện tự nhiồn và địa lý khí hậu. 9
1 .3.Ch ủng tộc, ngôn ngữ, chữ viết. 15
1 .4 .Đ ẳ n g cấp, tôn giáo. 19
Chương 2 : K hái quát nền văn học Ấ n Đ ộ truyền Ihống. 23
Phấn thứ hai: Tìm hiổu khái n iệm giáo lý Đ h acm a. 28
C hương 1: N hững khái niệm chung về g iá o ỉý Đ h a cm . 28
1 .1. Đ h acm a xét v ề m ặl ngữ ngh ĩa. 28
1.2. R ita - khái niệm tiền Đ hacm a. 29
1.3. Đ h acm a - m ột g iá o lý của đ ạo H inđu. 33
1.4. N h ận d iện Đ hacm a từ góc độ N h o giáo . 4 0
1.5. B .Ghita diền g iả n g về Đ hacm a. 45
C hương 2 : G iáo lý Đ hacm a về bổn phân đạo đức
lâu, trong tâm trí m ọi ngư ời, là “xứ sở của m uôn điểu k ỳ d iệu ”, là quô
hương của nhữ ng pho thẩn thoại, cổ tích, truyền thuyếl h o an g đường
kỳ Ihú, là m ột Uong bốn nồi văn m inh đầu tiên của nhân loại.
2. M ỗi m ột dân lộc trên th ế giớ i đều có quyền tự h ào về nền văn
hoá của m ình và những nền văn h oá ấy đều m ang bản sắc truyền
thốn g dân tộc đ ộc đáo. Đ ố i với m ỗi quốc gia, m ỗ i dân tộ c, d iện m ạo
văn hoá được xcm như là tiêu chí để đánh giá sự tiến bộ, sự bền vữ ng,
trường tổn của qu ốc g ia và dân tộ c ấy. M ỗi q u ốc g ia hay m ỗi dân tộc
khác nhau ở lịch sử hình thành và phát triển, điều kiện đất đai, khí
hậu, dấu ấn m ỗi thời đại đi qua để lại trong cu ộ c đấu tranh sinh tồn
củ a co n người. M ỗi quốc gia hay m ỗi dân tộc đều tự hun đúc, chắt
lọ c và tiếp nhận những kinh nghiệm m ới làm phon g phú thêm g ia tài
vật chất và tinh thần củ a cả cộn g đ ồng, những giá trị ấy là văn hoá.
N ó luôn là đ iểm tựa, là định hướng cho toàn xã hội phát triển. N ó là
nền tảng, là cội rễ củ a m ộ t nền văn hoá, tạo nên diện m ạo và bản sắc
riêng k h ông trộn lẫn giữa cá c dân tộc tiên th ế giới.
3. N ền văn hoá Ân Đ ộ đã có lịch sử hình thành và phát triển
5 0 0 0 năm . Đ ó là m ộl q uãng ihời gian tương đối dài đủ để tạo nên
“m ộ t bản sắc Ấ n Đ ộ ”, “m ột tính cách Ấ n Đ ộ ”, “m ột tâm hồn Ấ n
Đ ộ ”, m à m ột Irong những cội rễ sâu xa làm nên cái h ồn, cái c ốt Ấn
Đ ộ rất riêng ấy chính là g iáo lý Đ h acm a về bổn phân đạo đức - m ộ l
g iáo lý quan trọng của đạo H indu.
4
Từ buổi bình m inh của lịch sử loài ngư ời, trong cá i th ế g iớ i bao la
hùng v ĩ của thiên nh iên h oang sơ, khi dân tộc  n Đ ộ bắt đẩu biêl suy
ngảm vổ cu ộ c sô n g và cộ i nguồn của nó, giáo lý Đ h acm a đã c ó m ầm
m ố n g hình ihành từ những cảm nhận ban đầu về sự vận đ ộ n g luẩn
hoàn có quy luật của vũ trụ. N hững quy luật vận đ ộ n g n ày đ ư ợc phát
triển và m ở rộng ra thành những quy luật về nhân sin h quan trong đời
sống xã hội phức tạp của con người.
M ột cái nhìn tổng thể về Ân Độ.
Ấ n Đ ộ là đất nước có nền văn h iến lâu đời và là m ột trong bốn
nôi văn m inh đầu tiên củ a nhân loại. “N ế u có m ột nơi nào trên b ề m ặt
trái đất m à ở đó tất cả những giấ c m ơ của con người đã tìm được m ột
quô hương n gay từ ihời k ỳ nguyên sơ khi con người bát đầu m ơ ước
về sự tồn tại củ a m ình, Ihì đ ó là Ấ n Đ ộ ”(R om a in R o lland ). C ũ ng
chín h nơi đ ây từ lâu đã thu hút sự quan lâm đặc b iệt củ a th ế giớ i, nhất
là lẩng lớp trí thức và cá c nhà khoa h ọc. Đ ã và đa ng c ó rất n h iều cồ n g
trình n g h iên cứu, nhiều vấn đ ề, nhiều câu hỏi đ ược đặl ra để tìm hiổu,
đ ể khám phá, phát hiện cũng như đ ể k iểm chứng, đối ch iếu , so sánh
đ ố i với vùng đất này. Song, với bất cứ ai khi m uốn quan tâm tìm hiổu
m ộ l vấn đề n ào đó về đất nước, con ngư ời, n ền văn h oá và dân tộc Ấ n
Đ ộ , đ iều đầu tiên và cũng rất cần thiết là cần phải có m ột cái nhìn
tổng thể, cơ bản v ề đất nước này , n ghĩa là phải hiểu Ấ n Đ ộ dưới dạng
lổng quái ch u ng nhất về cá c m ặl tự nhiên , vãn h oá, xã h ội và các m ối
liên hệ biện chứng giữa ch úng đ ể rồi từ đó m ới c ó thổ đi sâu n g h iên
cứu m ộl vấn đề cụ thể nào đó m à la đang quan tâm . Đ ó cũ n g chính là
lý do giải ihích tại sa o chúng tồi dùn g m ộ t số trang đẩu tiên củ a đề tài
đ ể giớ i thiệu Ấ n Đ ộ dưới m ộ t cái nhìn tổng thể và khái q u ái nhấl
những cơ sử lịch sử, xã h ội và nền văn hoá Â n Đ ộ truyền thống trước
khi đi sâu v ào phần trọng lâm của đề tài là tìm h iểu g iáo lý Đ h aem a
về bổn phận đạo đức phụ nữ Ấ n qua m ột s ố tác phẩm văn h ọ c Ấ n Đ ộ
liêu biểu.
7
Chương 1. Những cơ sở lịch sử - xã hội.
7.7. Tên nước:
Trong lịch sử hình thành và phát triển, Ấ n Đ ộ đã từng có nhiều
lổn g ọi. Tôn gọi c ổ nhấl là Arya Varta (h oặc A rya ĐCsha) c ó n ghĩa là
vùng đất của người A ryan. Đ iều này khẳng định: tên g ọ i này của A n
Đ ộ c ó từ k hoản g thiên niên kỷ II trước C ôn g n gu y ê n , thời kỳ người
chặt chẽ với nhau. “Đ iể u kiện tự nhiên , m ô i trường tự nhiên của m ột
khu vực chắc chắn có m ột ảnh hưởng nhất định đến đời sốn g vãn hoá
cuả những con người sống trong khu vực đ ó ”(6 ,lr l5 ).
V ì vây m à khôn g Ihể k h ông n ói đến đ iều k iện tự n h iên v ề địa lý,
k h í hậu của Ấ n Đ ô trước khi đi sâu vào bấl cứ lĩnh vực nào của đời
sốn g văn hoá Ấ n Đ ộ .
Ấ n Đ ộ là m ột bán đảo lớn rộng m ênh m ôn g , gần như là m ộ t tiểu
lục địa, chiếm gần hết trung tâm khu vực N am Á , phía Bắc giáp
Trung Q uốc, N êpan, Butan; phía Đ ô n g giáp M ian m a, B ănglađét; phía
T ây giáp A p ganistan , Pakislan; phía N am đ ư ợc bao b ọc bởi biển Ân
Đ ộ Dương, biển Ảrập và vịnh B ăn ggan . Ấ n Đ ộ c ó diện tích hơn 3
triệu km vu ông (đứng hàn g Ihứ 7 trên th ế g iớ i), với s ố dân lính đốn
n g à y 11 - 5 - 2 0 0 0 là tròn 1 tỉ người (theo báo T h ể thao h àng ngày, 11
- 5 - 2 0 0 0 ), đứng thứ hai trên th ế giới sau Trung Q uốc.
N hìn Irên bản đồ th ế giới, Ấn Đ ộ c ó hình dáng như m ộ i tứ g iác
kh ôn g đ ều và d ố c dần vồ phía v ề phía đỉnh ở hướng N a m là m ũi
C ôm ari. Phía bắc là bức lường Ihành vành đai núi v ĩ đại H y m a la ya .
K éo dài lừ 8 độ 6 đến 3 7 độ 6 v ĩ đ ộ Bắc và trải rộng từ 6 8 đ ộ 7 đ ến
9
9 7 cjô 2 kinh độ Đ ô n g , Ấ n Đ ộ hầu như được bao b ọ c'b ở i núi c a o và
đại d ư ơng và chính điều kiện tự nhiên n ày cũng đã được J.Nôru nhận
x é l trong cuốn “Phát h iện  n Đ ộ ” của ông: “H ình ihái sồn g núi về
địa lý c ó m ột ảnh hưửng m ạnh m ẽ đến việc quyết định tính cách và
lịc h sử m ộ l đân lộc. Ấ n Đ ộ bị ngăn cá ch bởi rặng núi H ym alaya cao
ngất và biổn cả, việc đó đã sản sinh ra m ột ý ihức thống nhấl trong
lãnh thổ rộng lớn này và đồng thời n u ối dưỡng m ột tinh thần cách
biệt. Trên lãnh thổ m ênh m ôn g đ ó, m ộ t n ền văn m inh số n g đ ộn g và
thuần nhất đã xuất h iện và có phạm vi rộng rãi để bành trướng và phát
triển, tiếp tục duy trì m ột tính thống n h ấl m ạnh m ẽ v ề văn hoá. Tuy
n hiên , bên Irong sự Ihống nhất đ ó, địa lý cũng lại tạo ra sự đa
tồn ch o đ ến tận bây giờ . .
N h ờ bức tường thành H ym a laya, Ấ n Đ ộ tránh được ảnh hư ởng
khắc nghiệt của những luồn g k h í lạnh, v ù n g kh í hậu lục đ ịa p hía B ắc
thổi x u ố n g, lại đồng thời lận dụng được g ió m ù a từ đại dưưng Ihổi
vào trong m ùa hạ, bị núi chặn lại ihành những trận m ưa rào trong
lành mát m ỏ lưới đẫm vùng đ ồng bằng  n H àng rộng lớn phì n hiêu.
R ừ n g rậm vùn g chân núi ch iếm 4 /5 diện tích h ệ Ihống núi H y m alaya.
R ừ n g lâ m n g u yên thủy bạt ngàn đã tạo nên thảm đ ộng thực vật vỏ
cùng p h ong phú và đa dạn g, lừ ngàn xưa đã ch iếm vị trí cực kỳ quan
trọng Irong đời sốn g kinh tế cũng như đời sốn g văn hoá, xã hội củ a cư
dân Ân Đ ộ .
1.2.2. V ùng đ ốn g bằn g Ẩ n - H ằn g: vùn g này được giới hạn từ
phía N am H y m alaya đ ến d ãy núi V in đ hya phía bắc c a o nguyên
Đ ô căn g . Đ ó là m ội trong những đổng bằng lớn nhất th ế giới với c h iều
rộng k hoản g 6 0 0 km và ch iều dài gần 3 .6 0 0 km , phẩn lớn dư ợ c lạo
nôn bởi phù sa m àu m ỡ của hai con sổn g lớn bắl n g u ồn lừ rặng
H y m alaya: sô n g Ấn và sôn g H ằng Đ ã c ó m ộ t thoi gian d ài, nưi đây
11
lừng là rừng rậm và đầm lầy, mãi đến gần thiốn niên kỷ I trước C ổng
n g u y ê n mới tạm hoàn ch ỉnh Ihành đồng bằng trù phú và ngày cà n g
m ở rộng thành d iện lích lớn như bây giờ, P h ong thổ vùng đất n ày với
khí hâu nhiệt đới g ió m ùa rất thuận lợi cho v iệc Lrong lúa nước. C hính
nơi đây là irung tâm kinh tế, văn hoá, chín h trị và đã chứng kiến m ọi
diễn biến thăng trầm của lịch sử phát triển Ấ n Đ ộ .
Sông Ấn: n guyên g ọ i là Inđus và tên sôn g cũn g là tên đất nước:
Inđia - Ấ n Đ ộ. Sông Ấn gắn liền với nền văn m inh Ấ n cổ xưa, sản
phẩm văn hoá của những cư dân đến Irú n gụ sớm nhất ử bán đảo  n
Đ ộ . Sổng Ấn dài khoản g 2 .9 0 0 km trải rộng phía T â y Ấ n với 5 nhánh
chảy qua vùng P enjap (phía nam ihun g lũ ng C asơ m ia), dịch ngh ĩa là
5 sổng, còn g ọ i là vùng N g ũ hà, rồi đ ổ 1'a biển Ảrập phía Tây A n.
H ằng là m ột trong 5 sông c ó lưu lượng nước lớn n h ấl th ế giớ i, cung
cấp nước cho cả m ột vùng châu thổ rộng hơn 2 triệu km vuông.
Bên bờ sông H ằng có thành cổ B ena res là nơi hành hương linh
thiêng của nhân dân Ấ n Đ ộ . H àng năm , h àng n gàn, hàng vạn người
lũ lượt chen nhau lặn lộ i k éo lên nơi ihượng n g u ồ n sô ng H à n g , đến
Benarcs dâng hương dù chỉ m ột lần trong đời, tắm gộ i lẩy trần, ỉấy
nước thánh ở Thánh ỉễ “A sva m eđ Y ajna” và điều cầu m on g hạnh
phúc nhất của m ỗi người là được ch ố i bên bờ sôn g H àn g h oặc ÍI ra
cũng phải dưựe gửi Lro xác x u ốn g d ò n g sô n g M ẹ linh ih iên g thì m ới
là loại nguyện.
1.2.3. VCintz cao nguyên Đ ê c ă n g : là v ù n g đất phía N am  n , có
hình lam giác và là vùng đ ấl c ổ nhất củ a bán đ ảo Ấ n Đ ộ , chiếm 1/2
diện tích và dân số Ấ n Đ ộ . Đ ất đai vốn cằn c ỏ i n g h èo nàn nên nền
kinh tế và văn hoá nưi đ ây nói ch u n g lạc h ậu, k ém phát triển, íl xáo
13
trộn hơn nhiều so với vùng B ắc Ấ n . C ó thể v í vùng này như nhà bảo
tàng g ìn g iữ nền văn hoá n g u y ên sơ với những tập lụ c c ổ hủ xa xưa
nhấl của ấn Đ ộ . N ơi đ ây hiện vẫn c ò n tồn tại những bộ lạc gẩn như
n g uyên thuỷ với những thổ ngữ cổ. Đ iều n ày có thể g iả i thích bửi vị
trí đ ịa lý tự nhicn của vùng đất này: nó được n găn cách b iệ t lạp với
xung quanh và tránh m ọi sự xâm nhập của th ế giới bên n goài bởi ba
bề là núi cao: dãy V in đ h ya chạy ngang qua án n gữ phia Bắc và hai
dãy núi Gát Đ ỏ n g và Gát T ây ch ạy d ọc v en b iển phía N a m , viền bao
quanh tiểu lụ c địa n ày như hình chữ V (G át tiếng Phạn cổ c ó n ghĩa là
bậc thang). V ù n g đất này k h ông có g iá trị tự nhiên v ề nông nghiệp ,
son g đưới lòng đất nó lại chứa những khoán g sản q u ý với trữ lượn g
lớn như: sắt, ihan đ á Bên cạnh đ ó lại có nhữn g loài thú quý h iếm
có giá trị kinh tế ca o như: v oi, hổ, tê g iá c
V ề khí hậu: Bởi Ấ n Đ ộ có địa hình rộng lớn và đa d ạng trải dài từ
vùng nhiệt đới tới tận vùng ôn đới, nghĩa là từ g ần xích đạo tới lân
1.3. Chủng tộc, ngôn ngữ, chữ viết.
V ào quãng những năm 3.0 0 0 trước C ôn g n gu y ê n , trên lưu vực
sôn g Inđ của lục địa  n Đ ộ đã có giố n g người thuộc chủ n g tộc
Sum erian và Đ raviđian sinh số ng (h ọ có vó c người n h ỏ, da đen - nũu,
ló c xoãn đen, m ặl nhỏ). T h eo sử liệu khảo cổ thì họ chính là chủ nhân
của nền văn m inh Ấn cổ M ôh en jô Đ arô và H arappa.
K hoảng năm 1.600 - 1.700 năm trước C ông n g uyên có m ột cu ộ c
thiên di lớn của g iốn g người A rian là dân du m ục lừ đ ồ n g cỏ Trung
Á , vùng núi C apca, tràn qua v ù n g A fga n istan và Iran n g ày nay ch ia
làm ba nhánh, m ột nhánh vượt qua c á c hẻm núi h iổm trử củ a dãy
H ym alaya m à vào Ấ n Đ ộ , m ột nhánh x ụ ốn g vùng thượng lưu sôn g
M ôz.ôpôlami và m ột nhánh x u ống vù n g Iran bây giờ . Tron g sá ch cổ,
tiếng Phạn gọi người A ryan là “người lừ phư ơng xa đếrì” và còn g ọ i là
“varvara” nghĩa là: kẻ Lhù, quân xâm lược.
15
G iố n g người Aryan (mà Ă n gghcn gọi là “dân du m ụ c liền liến ”)
da sáng, m át xanh, m ũi lliẳng, lóc ho c vàng, v ó c cao lớn đã xâm nlụip
và đ ổ n g hoá cư dân bản địa (gọi là tiền A ry an) định cư ử vù ng đ ồn g
bằn g ấn H àng màu m ỡ và dẩy lùi m ộl phần lớn số dân bản đ ịa xu ố n g
phía N am Ấ n. (N g à y nay dân cư N am Ấn còn lưu g iữ khá n hiều net
đ iển hình củ a giố n g người Đraviđian).
(Q uá trình người A ryan xâm nhập, đ ồn g hoá và định cư Irên đấl
Ấ n Đ ộ là quá trình hình thành nền văn h ọ c Ấ n Đ ộ c ổ đại cũng như
ngồn ngữ Ấn Đ ộ rất phức tạp và phong phú.)
T iếp sau sự xâm nhập A n Đ ộ của người A ryan là người Batư (Iran
cổ đại) vào khoản g th ế kỷ 6 trước C ôn g nguycn . N ă m 327 trước
C ồn g nguyên, A lê ch x ăng Đại đ ế là vua xứ M akêđo an nước H y lạp
đánh chiếm Ấ n Đ ô sau khi ch inh phục đ ế q u ố c Baiư. Đ ến th ế kỷ 6
sau C ồng nguycn , các bộ tộc H ung n ô E p lalit (còn g ọ i là ngưừi H ung
trắng) từ Trung Á - Iran tràn xuống xâm lược vùng Ấ n Đ ộ . Đ ến thế
này. A n Đ ộ là m ộ t trong s ố ít q u ốc gia trên th ế giới c ó nhiều ngôn
ngữ c ù n g tồn tại. T h eo số liệu Ihống k ê không đ ầ y đủ, tại Ấ n Đ ộ có
tới 1 .6 5 0 ngôn ngữ và thổ n gữ đang được sử d ụng, lại c ó tới k hoản g
60 thổ n g ữ chỉ có gần 100 người sử dụng. Đ ó là chưa k ể những ngôn
ngữ đã chết. Trên tờ g iấy 10 đồng R upi h iện nay c ó ghi tới 12 ngôn
ngữ khác nhau. Sơ qua như vậy đ ể ih ấy n g ô n ngữ ử Ấ n Đ ộ phức lạp
đốn như ờ ng nào. T ừ th ế kỷ 10 hệ thống n gôn n gữ Ấ n Đ ộ tạm ổn đ ịnh.
H iện n ay nhà nước Ấ n Đ ộ c ô n g nhận chính Ihức 15 n gồn n gữ và
chúng đang được đông đ ảo nhân dân  n Đ ộ sử d ụ n g, d ó là: H ind i,
A sam ain, B engali, Guljarati, K anara, K asm iri, M arati, M a laiam ,
£>AI HCC c u ố c GIA HA MỌI
TRUNGĨÂMTHÕNGTĨN THƯVĨN
17
ô r ig a , P enjabi, Sau skil, Sinđhi, Tam un, T elugu, Urdu. 15 ngôn ngữ
này đểu có n guồn g ố c từ tiến g Sanskrit cổ (cò n gọ i là tiếng Phạn).
T iếng Phạn là ngôn ngữ c ổ nhất của Ấ n Đ ộ c ó n g u ồ n g ố c lừ ngừ
1 a ’ ä ' »
hô A n - A u , có nhiều liên quan với cá c n g ôn ngữ ở Batư và Trung cận
Đ ồ n g . T iế n g Phạn đ ược dùng nhiều trong các sách kinh c ổ , trong các
buổi tố lỗ xa xưa và được coi là n gồn ngữ M ẹ, ngổn ngữ củ a llián
linh. Đ ỏ là “m ột n g ô n ngữ phong phú lạ lùn g, như m ang đủ hoa rực
rỡ, đủ các thứ lá xum xu ê, thế nhưng n ó chính xác và n g h iêm ngặt
nằm trong các khung ngữ pháp m à Panini đã đặt ra cách đ ây 2 .6 0 0
n ă m T iếng Phạn đầy những lừ k h ông chỉ c ó cái đẹp thơ m ộng m à
còn có ý n ghĩa sâu sắc, m ột loạt những ỷ n iệm liên kết m à không thổ
dịch ra liến g nước ngoài đúng tinh Ihần và cách nhìn. T hậm ch í ngữ
pháp của nó, tính triết h ọc của n ó c ó m ột nội dung m ang tính thơ
m ạn h m ẽ N ó thuộc về hình thức thơ c a ” .(61 ,T l,tr 3 5 9 ).
Từ năm 1965, tiếng H inđi được H iến pháp Ấ n Đ ộ qu y đ ịnh là
q u ốc ngừ (có khoản g 140 Iriộu người sử dụn g). C ùng với tiến g A nh,
cấp và phần lớn những cái k èm theo n ó là hoàn toàn k h ông phù hựp,
là phản đ ộ n g, là kìm hãm , là những hàng là o ngăn cản sự tiến b ộ ” .
(6 1 ,T 2,tr80).
Từ sự phân b iệl m àu da ban dầu, xã hội Ấ n Đ ộ cổ đại dẩn phíìn
chia thành 4 đẳng cấp chính:
Brahm an (còn g ọ i là B à lam ôn).
C ơsat-ria.
V a isia. *
Sụđra.
- Brahman: lúc đầu chỉ là m ột n hóm người chăm lo v iệ c cúng tế,
Irông nom đền chùa, sau mứi phát triổn lliành m ộl d ẳng cấp c ó q u y ền
19
hành c a o nhất và được hưởng nhiều quyền lợi nhất Lrong xã h ội. H ọ là
nhừ ng ngưừi nắm giữ đời sốn g linh ihần trong c á c làn g x ã , g ồ m
nhữ n g tu sĩ, giá o chủ, lăng lữ, đ ạo sĩ, những nhà tư tưửng hướng dẫn
chính sách, bảo vê và duy trì những lý tưởng của đân tộc.
- Cơsat-ria: là vua quan, quân lính, võ sĩ.
- V aisia: ch iếm đa phẩn trong xã hội, g ồ m những dân cày , thợ thủ
cô n g, thương nhân.
- Suđra: là thành phần tiện dân, tôi tớ chuyên phục vụ người khác,
làm những viộc k h ông có kỹ thuật hay những nghề như: đ ào huyệt,
q u él rác
G iữa bốn đẳng cấp lại c ó sự phân biệt khắt k h e, đặc biệt là giữa
ba đẳng cấp trên với đẳng cấp cuối cùn g, nhấl là trong quan hệ giao
tiếp, h ôn nhân, ăn u ố ng
N goà i bốn đẳng cấp Irên cò n có hai loại người ih u ộ c d iện n goài
đẳn g cấp là Paria (người cù n g khổ, cùng đinh, ăn xin ) và H arijan (co n
h oang, sinh ra từ những cuộ c hôn nhân trái luật lệ ). Cả hai loại này
liến g Phạn g ọ i là “chanđala - nghĩa là: n g oài đẳng cấp, bị xã hội
khinh rẻ cách biệt.
đ ều nổi bật lên m ột cốt lõi chung, m ột tiếng n ói ch u ng, dưa đến sự
thống nhất - m ột sự Ihống nhấl trong đa d ạng. C hính đặc đ iểm này là
m ột trong những y ếu tố cơ bản hun đúc n ên m ộ t lâm h ồn Ấ n Đ ộ , m ộl
tinh thẩn Ấ n Đ ộ truyền Ihống, m ang bản sắ c riêng biệt.
N hìn chung, tôn g iá o Ấ n Đ ộ cũng thấm dẫm m ột tư tưởng cư bản
m an g ý n g h ĩa tích cự c, đặc biệt về d ạo đức, lối sống con ngườ i. Đ ỏ là
tình thương yêu đ ổn g loại, là tư tưởng h oà bình, hoà hợp, bình đản g,
bác ái, là chữ T H IỆN viết hoa. C hính điều này là c ộ i rễ, là nền tảng
c ơ bản hun đ ú c nên “linh thần Ấn Đ ộ ”, “bản sắ c Ấ n Đ ộ ” . Bản sắc ấy
m ãi Loả sáng như năm n g u y cn tắc chung số n g h oà bình “ panch si la”
21
nổi liế n g của phon g Irào không liên k ế l d o c ố ihủ iướng G . N ôru sán g
lập (1 9 5 4 ).
H àng m ấy ngàn năm qua, lôn giá o  n Đ ộ đã lổn tại và trỏ lliành
m ột thứ không thể thiếu như hơi thử, nước u ống trong đừi số n g lùm
linh con người Ấ n Đ ộ. N ó đã được nâng lên thành đức tin thiêng
liông thấm sâu trong m áu thịt của hơn 1 tỉ người dân  n Đ ộ . S ong
đ iề u m à không ai có thể phủ nhận là: Lồn g iá o Ấ n Đ ộ lại như m ột
chấl thuốc giảm đau, như liều thuốc an thần, như m ột thứ thuốc mô
đối với người đờ i. M ác cũn g đã gọi đó là m ột thứ Ihuốc p hiện . N ó an
ủi, x oa dịu nỗi đau trần th ế bàng đạo lý Đ h a cm a, n ó độn g v iên , k hích
lô con người vượt qua m ọi é o lc, khổ hạnh Irong c u ộ c sốn g bàng quan
niệm ngh iộp báo - luân hồi, nó m ang lại cho con ngư ời n iềm tin
tưởng, hy vọn g ở kiếp sau bằng khái niệm giải Ihoát vĩnh hàng.
N hững g iá o lý những quan niệm ấy iheo thời gian đã dần Lạo nên bản
chất cam chịu, chấp nhận, nhân nhụ c, không đấu tranh, thái đ ộ thụ
đ ộn g , lầm lì, phục tùng và qụy lụ y ở co n ngư ờ i. Đ ó cũng ch ín h là m ột
yếu Lố cơ bản trong quá trình hình thành bản chấl, tính cá ch dân tộc
Ấn Đ ộ nó i ch u n g và phụ nữ Ấ n Đ ộ nói riêng
22
ở ch ưưng 1 của đề tài), và đ iều đó đư ợc in dấu khá rõ n él và sâu đâm
Irong hẩu h ếl các tác phấm văn họ c An Đ ộ .
T heo quá trình phát triổn lịch sử Ấ n Đ ộ , văn h ọc Ấ n Đ ồ lạm chia
hai Lhời kỳ lớn với nội d ung và đặc đidm khác nhau m à cái m ố c giữa
là sự xâm nhâp của thực dân A nh. Ở thời kỳ đầu , nền văn h ọ c Ấ n Đ ộ
cổ trung đại m ang tính thần ca, nghĩa là cá c nhân vật Irong c ác tác
phẩm đều là thần hoặc bán thẩn. T ác phẩm nổi bật đáng lưu ý là bộ
K inh Vêđ a (nhất là bộ R ig V êđa), hai bản trường ca - sử thi
M ahabharata và R am ayana và kịch thơ Sơkuntơla của K aliđasa.
R ig V êđ a là “ những thổ lộ đầu tiên của trí ó c con n gười, sự rực
rỡ của thơ ca, sự sa y m ê trước vẻ đẹp và tính h u y ền bí củ a ihiên
n h iên Từ đây, A n Đ ộ băl đâu m ộ t c u ộ c tìm k iếm m à nó ch ưa bao
g iờ ngừng theo đ u ổi”.(6 1 ,T l,liT 5 7 ). T ác phẩm R ig V ê đ a đ ổy sức
sống và sự khẳng định c u ộc sống ấy là đặc trưng cho “m ộ i dân tộc
với sức sáng tạo m ạnh m ẽ và chất phác ở n g a y buổi bình m inh của
nền văn m inh đã có được ý thức lý giải cá c bí ẩn vô tận ẩn tàng trong
c u ộ c số n g ” (6 1 ,T l,tiT 5 8 ).
K inh V êđa (n ghĩa tiến g Phạn là: h iểu b iế l) ra đời k h o ả n g nửa sau
thiên n iên k ỷ 2 trước C ôn g ngu y ên và về sau được gh i lại bằng tiên g
Phan cổ, gồm 4 bộ:
R ig V ê đ a.
Iajur V êđa.
Sôm a V êđa.
A t harva V êđa.
C ó Ihể nói K inh V êđa là khởi đẩu của m ọi quan niệm về vũ trụ,
của m ọi h ệ Ihống tư tưởng triết h ọc (gồm 6 ư ường phái) và tôn g iáo
Ấ n Đ ộ . Bao gồm trong 1028 sukta (bài Ihư), lập 1 R ig V êd a đã phản
24
ánh “thời đại ấu trĩ m ột đi không trở lại củ a xã hội loài ngư ừi”(C.
M ác) với những khát vọng chinh phục và h oà đổn g với thiên n h iên.