BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
NGUYỄN TUẤN ANH
TÌM HIỂU CÁC YẾU TỐ NGÔN TỪ BIỂU HIỆN
SỰ KÌ THỊ GIỚI TÍNH TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM
VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
SƠN LA, NĂM 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo chủ nhiệm, các bạn sinh viên lớp K50
ĐHSP Văn – GDCD, đặc biệt là gia đình đã tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn
thành khóa luận này.
Sơn la, tháng 05 năm 2013
Tác giả Nguyễn Tuấn Anh
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT CÓ SỬ DỤNG TRONG KHÓA LUẬN KTGT: Kì thị giới tính MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 1
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 4
3.1. Đối tượng nghiên cứu 4
3.2. Phạm vi nghiên cứu 4
4. MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ VÀ Ý NGHĨA CỦA KHÓA LUẬN 4
4.1. Mục đích 4
CỦA NÓ VỚI PHẠM TRÙ GIỚI 15
1.3.1. Giống, việc dán nhãn giống và những hệ thống giống trong ngôn ngữ 15
1.3.2. Những vấn đề của phạm trù giống dưới góc độ bình đẳng nam nữ
trong ngôn ngữ 17
1.3.2.1. Tính võ đoán của những hệ thống giống ngữ pháp, đặc biệt là loại
hệ thống chỉ giới tính 17
1.4. ĐÁNH DẤU GIỐNG TRONG CÁC DANH TỪ TÁC NHÂN CHỈ NGƯỜI
19
1.4.1. Khoảng trống từ vựng 20
1.4.2. Sự thiếu cân đối về mặt hình thái học trong những danh từ tác nhân
chỉ nam giới và nữ giới 22
CHƯƠNG 2: TÌM HIỂU CÁC YẾU TỐ NGÔN TỪ BIỂU HIỆN SỰ KTGT
TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM 25
2.1. KTGT THỂ HIỆN Ở SỰ THIẾU CÂN ĐỐI VỀ MẶT NGỮ NGHĨA . 25
2.1.1 Người đàn bà – một thứ hàng hóa trong xã hội xưa 25
2.1.2. Người đàn bà gắn với tình dục, sắc dục – người đàn ông gắn với tài
năng 29
2.1.3. Người đàn bà gắn với liên tưởng tiêu cực – người đàn ông gắn với liên
tưởng tích cực 33
2.2. SỰ KÌ THỊ GIỚI TÍNH TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI QUA
NHỮNG CHUẨN MỰC XÃ HỘI CŨ 37
2.2.1. Quan niệm ‘‘trinh tiết’’ - trinh tiết của người phụ nữ trong văn học
trung đại 37
2.2.2. Người phụ nữ vượt qua những luật lệ hà khắc của lễ giáo phong
kiến 40
2.3. SỰ KÌ THỊ GIỚI TÍNH TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI THỂ HIỆN
Ở VẤN ĐỀ TÊN GỌI 42
2.3.1. Tên người thể hiện sự kì thị giới tính 43
2.3.2 Cách xưng hô đối với nam giới và nữ giới thể hiện sự kì thị giới
tính 45
tục ngữ mà đặc biệt hơn nữa sự kì thị đó còn được thể hiện qua các tác phẩm
văn học thời kì bấy giờ. Chính vì vậy mà chúng tôi lựa chọn đề tài: Tìm hiểu
các yếu tố ngôn từ biểu hiện sự kì thị giới tính trong một số tác phẩm văn
hoc trung đại Việt Nam để tiếp tục bổ sung và làm nên sự hoàn thiện hơn các
công trình nghiên cứu đã có từ trước. Qua đó khóa luận này cũng góp phần hữu
ích đối với mỗi người chúng ta trong việc giao tiếp với người khác giới, và cố
gắng tránh được sự kì thị giới tính trong hoạt động giao tiếp.
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Vấn đề phân biệt giới tính hay kì thị giới tính không phải là vấn đề mới
mẻ đối với các nhà nghiên cứu trong nước và quốc tế. Theo các nhà nữ quyền,
phân biệt gới hay phản ánh trên một số mặt sau: quyền bỏ phiếu cho phụ nữ, sự
bình đẳng về chính trị, bạo lực gia đình mà đối tượng là nữ giới, những chỉ trích
2
về quảng cáo có tính phân biệt giới, các chỉ trích về sự thể hiện vai trò của phụ
nữ trong khoa học và xóa bỏ các ngôn ngữ phân biệt giới.
Vấn đề kì thị giới tính trong ngôn ngữ đã từ lâu là mối quan tâm của nhiều
học giả trên thế giới.
Theo Stanard (1977) thì điểm đáng chú ý về tổ chức “Lucy stone League”
có trụ sở đóng tại liên bang Maine (Hoa Kì) là sự vận động cho quyền của phụ
nữ được duy trì họ, tên của mình sau khi kết hôn. “Lucy Stone” chính là tên
riêng của một người phụ nữ kết hôn vào năm 1885 đã quyết định giữ nguyên họ
của mình thay vào việc phải mang họ chồng theo truyền thống. Tổ chức này cho
rằng việc phụ nữ phải từ bỏ họ của mình và mang họ chồng sau khi kết hôn và
việc trẻ em phải mang họ cha là một truyền thống thể hiện tính thiếu bình đẳng
nam - nữ, một truyền thống vẫn còn phổ biến trong văn hóa Hoa Kì cũng như
những nền văn hóa Anh - Mĩ khác. [21]
Theo những nghiên cứu của Kramarae và Treichler (1985) thì ngay từ năm
1908 đã có ý kiến phản đối việc sử dụng bao gộp đại từ “he” (đại từ ngôi thứ ba,
giống đực, số ít) và “man” (người đàn ông) và ngay từ năm 1941 đã xuất hiện
Ngoài ra còn có những công trình nghiên cứu của Morris (1982:89),
Yagello (1978), Push (1984), Brouwer (1991), công trình của Hampeas (1976),
Baron (1986), v.v…. Cũng quan tâm đến rất nhiều vấn đề giới trong ngôn ngữ.
Trong những thế kỉ trước và đầu thế kỉ XX những vấn đề liên quan đến lối
ứng xử trong ngôn ngữ đối với phụ nữ cũng như sự khắc họa chân dung người
phụ nữ trong ngôn ngữ nhiều khi đẵ trở thành đề tài tranh luận gay gắt trong đội
ngũ các nhà ngôn ngữ học và các nhà bảo vệ ngôn ngữ (language guardian).
Những nhà bảo hộ ngôn ngữ (language custodian) này luôn quan tâm đến việc
xác định vai trò của phụ nữ trong sự thay đổi ngôn ngữ: liệu phụ nữ có phải là
những người bảo vệ hình thức ngôn ngữ cũ và thuần khiết hay họ chỉ là những
tác nhân gây thoái hóa ngôn ngữ, họ cũng đã thể hiện mối quan tâm tương tự với
việc ấn định tư cách của phụ nữ trong ngôn ngữ thông qua cách biểu đạt bằng
ngôn ngữ. Tuy nhiên, mối quan tâm này không hẳn nhằm vào mục tiêu đấu tranh
cho phụ nữ, vì trong nhiều trường hợp, những nhà bảo hộ ngôn ngữ này còn để
lộ sự băn khoăn trước tình trạng thế trội của nam giới trong ngôn ngữ ngày càng
bị mai một trước sự hiện diện ngày một gia tăng của nữ giới trong ngôn ngữ.
Ở Việt Nam, đã có một vài công trình nghiên cứu bước đầu về ngôn ngữ và
giới tính và các nhà nghiên cứu cũng đã quan tâm tới vấn đề KTGT trong ngôn
ngữ tuy nhiên còn rất hạn chế. Các vấn đề về giới tính và ngôn ngữ nói chung
mặc dù đã có những quan tâm nhất định nhưng vẫn còn rải rác, chưa thành hệ
thống và chưa có những công trình lớn, tiêu biểu.
Trong cuốn ngôn ngữ học xã hội - những vấn đề cơ bản của Nguyễn Văn
Khang (1999) tác giả đã dành trọn cả 7 chương để nói về vấn đề ngôn ngữ và
giới tính. Trong bài sự bộc lộ giới tính trong giao tiếp ngôn ngữ, Nguyễn Văn
Khang (1996) cũng phân biệt hai góc độ chính để nhìn vấn đề giới tính trong
giao tiếp ngôn ngữ.
4
Ngoài ra còn một vài tác giả khác như: Bùi Minh Yến (1996), Nguyễn Thị
Thanh Bình (2000), Vũ Tiến Dũng (2002) cũng đã quan tâm và đề cập đến vấn
làm giảm thiểu sự kì thị giới tính ngôn ngữ và trong quan niệm của người dân
Việt Nam.
5
4.2. Nhiệm vụ
Khóa luận đã bước đầu đi tìm hiểu về thuật ngữ và khái niệm kì thị giới
tính trong tiếng Việt, tiếng Anh, cũng như những biểu hiện của sự kì thị giới tính
trong ngôn ngữ. Để từ đó tìm ra những yếu tố ngôn từ biểu hiện sự kì thị giới
tính trong một số tác phẩm văn học trung đại Việt Nam và đi vào phân tích
những biểu hiện đó.
4.3. Ý nghĩa lí luận
Khóa luận góp phần trong việc nghiên cứu so sánh, đối chiếu ngôn ngữ với
những đặc trưng văn hóa đi kèm. Nhằm góp phần làm sáng tỏ vai trò của ngôn
ngữ trong xã hội loài người nói chung và trong xã hội Việt Nam nói riêng. Theo
đó, khóa luận góp phần đi sâu nghiên cứu một vài vấn đề cụ thể về các yếu tố
ngôn từ biểu hiện sự kì thị giới tình trong các một số tác phẩm văn học trung đại
Việt Nam.
4.4. Ý nghĩa thực tiễn
Nếu kết quả nghiên cứu của khóa luận được chấp thuận thì nó sẽ góp phần
nâng cao ý thức về tìm hiểu kì thị giới tính trong ngôn ngữ. Từ đó bước đầu định
hướng cho các cá nhân trong viêc lựa chon và sử dụng ngôn ngữ một cách thích
hợp để làm giảm thiểu và tiến tới loại trừ sự KTGT trong ngôn ngữ.
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN NGỮ LIỆU
5.1. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện khóa luận, để giải quyết được những công việc
đã đề ra, người viết đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
5.1.1. Phương pháp phân tích
Phương pháp này được người viết sử dụng trong quá trình tìm hiểu nghiên
cứu các tài liệu về sự KTGT, phân tích mổ xẻ vấn đề theo nhiều chiều hướng
khác nhau để thấy rõ được những biểu hiện của sự KTGT.
luận gồm 2 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Tìm hiểu các yếu tố ngôn từ biểu hiện sự kì thị giới tính trong
một số tác phẩm văn học trung đại Việt Nam 7
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. KHÁI NIỆM VỀ SỰ KTGT TRONG NGÔN NGỮ
1.1.1 Khái niệm kì thị
Theo UNIDS (Chương trình phối hợp của Liên Hợp Quốc về HIV/AIDS)
“kì thị là một quá trình làm giảm giá trị của một cá nhân dưới mắt người khác.
Những đặc điểm gây ra kì thị thường rất đa dạng, ví dụ: màu da, cách nói năng
hoặc sở thích tình dục. Trong một nền văn hóa hoặc một bối cảnh nào đó, một số
đặc tính nhất định bị người khác để ý và coi là đáng xấu hổ hoăc đáng bị coi
thường. Khi kì thị được thể hiện hành động thì đó là phân biệt đối xử… Phân
biệt đối xử bao gồm những hành động hoặc loại trừ do thái độ kì thị gây ra và
nhằm vào những cá nhân bị kì thị”. Theo “Từ điển tiếng Việt”, kì thị là sự phân biệt đối xử do thành kiến
[31,519]. Như vậy, sự KTGT trong ngôn ngữ là sự phân biệt đối xử do thành
kiến xã hội về giới tính trong ngôn ngữ. Chúng ta hiểu rằng sự phân biệt đối xử
không chỉ dành riêng cho nữ.
Trong tiếng Anh, khái niệm KTGT trong ngôn ngữ (sexism in language) có
các cách gọi khác: “Sexist language” (ngôn ngữ KTGT), “Sex - exclusive
language” (ngôn ngữ loại trừ giới tính), “Gender - biased language” (ngôn ngữ
mang tính thiên kiến về giống). Ví dụ: Every cook praises his own broth (Mỗi
người đầu bếp đều tán dương chính món nước xáo của anh ta), thì “his” được sử
dụng để thay cả cho “her”. Lối dùng từ “his” theo kiểu bao gộp như vậy thể hiện
xu hướng thiên về nam giới, coi nam giới là đại diện cho cả nữ giới.
Miller & Swift (1972) đưa ra định nghĩa: sự KTGT trong ngôn ngữ hay
ngôn ngữ mang tính KTGT là bất kì cách diễn đạt nào thể hiện thái độ và sự
trông mong về giới hoặc bất kì cách diễn đạt nào thể hiện tính trội cố hữu của
giới này so với giới kia.
Các định nghĩa nói trên đều thể hiện một điểm chung. Mấu chốt của KTGT
trong ngôn ngữ là ở sự khắc họa hình ảnh của nam giới và nữ giới bằng ngôn
ngữ. Với những biểu đạt này thể hiện sự đánh giá cao giới này hoặc sự đánh giá
thấp giới kia.
1.2. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU KTGT TRONG NGÔN
NGỮ VỚI NHỮNG QUAN ĐIỂM KHÁC NHAU
Như chúng ta đã biết, KTGT là một hiện tượng có thực đã và đang tồn tại
trong xã hội loài người. Sự KTGT trong ngôn ngữ có tồn tại hay không là tùy
thuộc vào quan niện về mối liên hệ giữa ngôn ngữ và tư duy hay thực tế xã hội.
Chính vì vậy cần có sự can thiệp có chủ ý của con người vào ngôn ngữ với mục
đích cuối cùng là gián tiếp tác động làm thay đổi thực tế KTGT trong xã hội nói
chung và trong ngôn ngữ nói riêng. Dưới đây là một số quan điểm. 9
1.2.1. Những quan điểm khác nhau về mối liên hệ giữa ngôn ngữ và
thực tế xã hội
1.2.1.1. Quan điểm cho rằng không hề có một mối quan hệ đặc biệt nào
trong xã hội”. [6]
10
Theo toàn bộ những quan điểm nêu trên thì chúng ta có thể thấy rằng: ngôn
ngữ chính là một nguồn lực có khẳ năng cải tạo thiện đời sống xã hội.Tuy nhiên,
nếu xét ở một khía cạnh nào đó cụ thể và chi tiết hơn thì những quan điểm trên
vẫn bộc lộ một số điểm khác biệt.
1.2.2. Những quan điểm khác nhau về sự cần thiết phải có sự tác động
vào ngôn ngữ
Một trong những đặc trưng của ngôn ngữ là biến đổi. Sự thay đổi đó có thể
do nhiều nguyên nhân khác nhau hoặc có thể do con người chủ động tạo nên.
Đây chính là vấn đề “thay đổi ngôn ngữ có chủ ý” (intended language change).
Song, liệu con người có nên chủ động thay đổi ngôn ngữ hay không là một trong
những vấn đề còn nhiều tranh cãi. Quan niệm về việc cần thiết phải có sự tác
động vào ngôn ngữ xuất phát từ các quan điểm khác nhau về bản chất của mối
quan hệ giữa ngôn ngữ và thực tế. Điều này dẫn đến quan niệm về vấn đề này
cũng rất khác nhau.
1.2.2.1. Những quan điểm phản đối việc tác động vào ngôn ngữ
a. Quan điểm phủ nhận mối liên hệ giữa ngôn ngữ và thực tế
Theo quan điểm phủ nhận mối quan hệ mối quan hệ giữa ngôn ngữ và thực
tế xã hội thì mặc dù trong thực tế xã hội có hiện tượng KTGT nhưng trong ngôn
ngữ không hề có hiện tượng đó và vì thế không cần phải tác động vào ngôn ngữ
hay cải cách ngôn ngữ.
b. Quan điểm “ngôn ngữ phản ánh thưc tế xã hội”
Quan điểm cho rằng ngôn ngữ chỉ thuần túy phản ánh thực tế thường được
vận dụng để phản đối cải cách ngôn ngữ. Những người theo quan điểm này
thường có thiên hướng ít ủng hộ việc tác động vào ngôn ngữ hay cải cách ngôn
ngữ vì họ không tin vào khả năng của ngôn ngữ có thể tạo ra được những thay
đổi trong xã hội như mong muốn (loại bỏ sự KTGT trong xã hội). Đại diện tiêu
biểu cho quan điểm này là Robin Lakoff (1975: 470 - Giáo sư Ngôn ngữ học
Trong số những tác giả ủng hộ cho quan điểm này đáng chú ý nhất là hai
nhà nghiên cứu người Mỹ: Casey Miller và Kate Swift (1980, 1991), kế đó là
nhà ngôn ngữ học người Mỹ, Bobbye Sorrels (1983). Các tác giả này đều cho
rằng ngôn ngữ mang tính KTGT cần phải được cải cách để phù hợp với xã hội
hiện tại.
b. Quan điểm cho rằng ngôn ngữ mang tính KTGT là nguyên nhân gây nên
sự áp bức phụ nữ
Quan điểm “quyết định luận ngôn ngữ” về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và
thực tế đã xem ngôn ngữ là một sức mạnh áp đảo, nếu không muốn nói là một
sức mạnh trung tâm trong việc tạo nên cũng như duy trì sự KTGT trong xã hội.
Đây chính là việc áp dụng phiên bản mạnh của giả thuyết Sapir - Whorf. Do đó
ngôn ngữ sẽ nắm giữ vai trò then chốt trong việc giải phóng phụ nữ trong xã hội.
Tác giả tiêu biểu cho quan điểm này là nhà ngôn ngữ học người Anh: Dale
Spender (1980:3). 12
c. Quan điểm cho rằng cần phải có một vị trí cho phụ nữ trong ngôn ngữ
Quan điểm này được xây dựng dựa trên quan niệm cho rằng: do đặc điểm
khác nam giới về mặt sinh vật học nên nữ giới đã không có một vị trí bình đẳng
với nam giới trong ngôn ngữ. Vì thế cần phải thay đổi ngôn ngữ để mang lại cho
nữ giới vị trí đó.
Ngôn ngữ đóng vai trò trung tâm trong việc gây ra sự đối xử bất công đối
với nữ giới và sự lệ thuộc của nữ giới. Đây là quan điểm của những học giả chịu
ảnh hưởng của phương pháp tiếp cận hậu cận đại đối với ngôn ngữ, đó là phân
tích luận tâm lí học và phân tích luận văn học và triết học. Tiêu biểu là các học giả
người Pháp: Hélène Cixous, Julia Kristeva và Luce Irigaray, những người chịu
nhiều ảnh hưởng từ tư tưởng phân tâm học của Lacan. Nhìn chung quan điểm của
trường phái ngôn ngữ này vẫn là một cách nhìn của “quyết định luận ngôn ngữ”.
Tiếp thu những tư tưởng của Sigmuna Freud, Lancan đã tin tưởng tuyệt đối vào
Bởi vì cơ quan sinh dục nữ không có dương vật nên nữ giới được xem là cực âm
của cặp nhị phân “nam - nữ”. Hơn nữa, vị trí ngoài lề này của nữ giới trong trình
tự tượng trưng còn có nghĩa là nữ giới đã bị lấy mất đi một loại ngôn ngữ có thể
diễn đạt tình cảm, kinh nghiệm và cái tôi của chính mình. Như vậy, theo Lacan
thì ngôn ngữ không thuộc về nữ giới. Nói cách khác, nữ giới không có vị trí
trong ngôn ngữ và đó là một thực tế cố hữu do sự khác biệt của nữ giới về mặt
sinh vật học. Nói tóm lại, theo Lacan, sự KTGT trong ngôn ngữ là tất yếu và
điều đó là không hề thay đổi.
Tuy nhiên, Heslene Cixous, Julia Kristeva và Luce Irigaray lại không hoàn
toàn nhất trí với Lacan về mối liên hệ giữa giới tính và ngôn ngữ. Tuy nhất trí
với Lacan về sự hiện hữu của sự KTGT trong ngôn ngữ nhưng những tác giả
này lại cho rằng: thay đổi ngôn ngữ có tính khả thi cao. Do đó họ còn chủ
trương một số hình thức tác động vào ngôn ngữ mà theo họ sẽ có tác dụng tốt
hơn đối với nữ giới.
Các học giả này cho rằng vị trí mà trẻ chiếm lĩnh trong trình tự tượng trưng
không chỉ được quyết định bởi cơ quan sinh dục mà còn bởi sự tương đồng với
bố hoặc mẹ của trẻ. Nói cách khác, con gái không nhất thiết phải giống mẹ và
con trai không nhất thiết phải giống bố. Do đó không nên có sự cào bằng giữa
“nữ” (famale) và “cái” (faminine), giữa “nam” (male) và “đực” (masculine).
Nam giới có thể chiếm một vị trí của giống cái và nữ giới có thể có một vị trí
của giống đực trong trật tự tượng trưng.
Trên cơ sở quan niệm như vậy, các học giả này xem việc tác động vào
ngôn ngữ là một bước quan trọng tiến tới việc giải phóng nữ giới ra khỏi trật tự
tượng trưng vốn hiện đang nghiêng về nam giới và mang tính áp bức của giống
đực. Các tác giả này còn chủ chương nữ giới nên có một loại ngôn ngữ riêng
khác với loại ngôn ngữ thiên về nam giới như hiện tại nhằm mục đích tạo và
đánh giá nghĩa theo cách riêng của nữ giới, tách khỏi sự phụ thuộc vào nam giới
về mặt ngôn ngữ như hiện trạng.
d. Quan điểm cho rằng tác động vào ngôn ngữ là một bộ phận cấu thành
của cuộc đấu tranh giải phóng phụ nữ
ngữ luôn đi kèm với lý thuyết về sự cần thiết và tính khả thi của biện pháp khắc
phục và sự tác động của con người vào ngôn ngữ. Bên cạnh một vài quan điểm
phản đối việc tác động vào ngôn ngữ là những quan điểm ủng hộ việc tác động
vào ngôn ngữ mang tính thuyết phục hơn như những quan điểm “cho rằng ngôn
ngữ tụt hậu so với những biến đổi xã hội”, quan điểm”quyết định luận ngôn
ngữ”, quan điểm “cho rằng cần có một vị trí bình đẳng cho nữ giới trong ngôn
ngữ”, quan điểm “tương tác về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và thực tế xã hội” 15
1.3. GIỐNG, PHẠM TRÙ GIỐNG TRONG NGỮ PHÁP VÀ QUAN HỆ
CỦA NÓ VỚI PHẠM TRÙ GIỚI
Vị trí của vấn đề giống trong ngôn ngữ, Corbett (1991:1) cho rằng giống là
một phạm trù phức tạp nhất trong tất cả các phạm trù ngữ pháp. Đó là một chủ
đề gây quan tâm không chỉ đối với người hoạt động trong lĩnh vực ngôn ngữ mà
còn đối với những người ở ngoài lĩnh vực ngôn ngữ… Trong một số ngôn ngữ,
giống đóng vai trò quan tâm và xuyên suốt, ngược lại trong nhiều ngôn ngữ
cũng không xuất hiện phạm trù này.
Cho dù có chuyên về ngôn ngữ học hay không chuyên về ngôn ngữ học thì
các tác giả không quan tâm nghiên cứu về sự KTGT trong ngôn ngữ đều hết sức
chú ý tới phạm trù giống trong việc khảo sát và phân tích sự khắc họa về giới
trong ngôn ngữ. Các tác giả này đã rất quan tâm tới phạm trù giống (thuộc ngôn
ngữ) và phạm trù giới (thuộc xã hội), và điều này đã nói nên mối quan hệ giữa
phạm trù giống trong ngữ pháp và phạm trù giới nằm ngoài ngôn ngữ. Việc
nghiên cứu vấn đề giống trong ngữ pháp và sự KTGT trong ngôn ngữ đã tạo nên
khá nhiều sự tranh cãi trong những nhà nghiên cứu ngôn ngữ chuyên, không
chuyên, trong những nhà phê bình ngôn ngữ có tư tưởng bình đẳng nam nữ cũng
như những nhà phê bình không có tư tưởng đó
1.3.1. Giống, việc dán nhãn giống và những hệ thống giống trong ngôn ngữ
Giống là một phạm trù ngữ pháp có ảnh hưởng đến danh từ. Giống được xem
Trong nhiều ngôn ngữ như vậy, những giống có nhãn hiệu như “đực” và
“cái” đều có quan hệ với phạm trù giới nằm ngoài ngôn ngữ trong việc phân loại
nam và nữ giới. Một điều thú vị là trong hệ thống giống lấy ngữ nghĩa làm cơ sở
thì nam và nữ giới chắc chắn được đưa vào lớp từ khác nhau ngay cả khi những
danh từ này không được dán nhãn “đực” và “cái”.
Những nghiên cứu đã cho rằng hệ thống giống trong tiếng Anh hiện đại chủ
yếu là một hệ thống giống tự nhiên có cơ sở là đặc điểm về giới cố hữu của danh
từ. Những danh từ chỉ nam giới và động vật giống đực được xếp vào giống đực,
những danh từ chỉ nữ giới và động vật giống cái được xếp vào giống cái trong
khi những đồ vật và những loài động vật khác được xếp vào giống trung. Tuy
nhiên cũng có một số trường hợp “bất quy tắc”, trong lớp từ chỉ lớp động vật có
khi một vật hay khái niệm cũng được xếp vào giống đực hay giống cái. Chẳng
hạn ”skis” (giày trượt tuyết), “shoes” (giày), “coffee” (cà phê), “car” (xe hơi),
“chocolate” (sôcôla), “pepper” (hồ tiêu) v.v… thuộc về giống đực và “boat”
(thuyền), “country” (đất nước, quê hương), “tea” (chè), “boots” (giày ủng),
“skates” (giày trượt băng) v.v… thuộc về giống cái. Như vậy việc quy về giống
đực hay giống cái dựa trên một sự ám chỉ ẩn dụ nào đó về “tính đực” hay “tính
cái”. Đây là hiện tượng mà người ta thường gọi là “giống ẩn dụ”. Mặc dù nét
đặc trưng là giới quan trọng trong nhiều hệ thống giống tự nhiên tuy vậy không
phải lúc nào cũng vậy.
Trong hệ thống giống hình thái học thì cơ sở của viêc quy giống cho danh
từ là đặc điểm về hình thái học. Theo Corbett (1991: 1) thì các hệ thống giống
thuần túy hình thái học là không có; các hệ thống này luôn có một hạt nhân ngữ
17
nghĩa và những hệ thống đó thường đan xen với các quy luật ngữ nghĩa. Nói
cách khác, việc phân lọai giống cho danh từ chẳng mấy khi chỉ dựa vào hình
thái, mà luôn dựa vào các đặc trưng hoặc các tiêu chuẩn ngữ nghĩa.
Trong hệ thống giống hình thái học thì việc quy giống cho danh từ dựa trên
hình thái đơn. Ví dụ, trong tiếng Pháp, các danh từ tận cùng là /m/ chủ yếu là
18
The teacher is responsible for his students.
(Giáo viên chịu trách nhiệm đối với học sinh của anh ta)
Từ “teacher” (giáo viên) là từ chỉ chung về giới (có thể chỉ nam hoặc nữ)
nhưng đại từ sở hữu tương ứng với nó lại là “his” (giống đực) chứ không phải là
“her” (giống cái). Hoặc:
If a friend wishes to become a member, please ask him to write for
information.
(Nếu một người bạn muốn trở thành hội viên thì hãy bảo ta viết thư tìm
hiểu thông tin).
Từ “friend” (bạn) cũng là từ chỉ chung về giới nhưng đại từ nhân xưng cho
nó lại là “him” (giống đực) chứ không phải là “her” (giống cái). Ngay cả trong
những trường hợp giống của danh từ được đánh dấu, như “actor” (nam diễn
viên), “actress” (nữ diễn viên) thì danh từ giống đực thường được dùng là danh
từ bao gộp (chỉ chung).
Trong tiếng Việt, ở khu vực giáo dục, một ví dụ tương tự là cách sử dụng
từ “thầy” với tư cách là một chức danh chỉ sự tôn xưng và là một từ nhân xưng.
Ngày nay để chỉ những người làm công tác giảng dạy người ta dùng cụm từ:
thầy cô giáo. Nhưng chỉ quan hệ nói chung giữa người dạy và người học, người
ta thường chỉ dùng cách nói quan hệ “thầy - trò” chứ không dùng cách nói quan
hệ “cô - trò”. Như thế từ thầy đã được dùng để chỉ cả cô trong trường hợp này.
Nói cách khác từ thầy vốn là một từ chỉ giống đực nay đã được dùng như một
danh từ bao gộp chỉ chung về giới (cả nam và nữ).
Trong khi chuyển dịch các văn bản, tài liệu học tập từ tiếng nước ngoài
sang tiếng Việt người ta cũng khó tránh khỏi việc dùng đại từ nhân xưng ngôi
thứ 2 “anh” - đại từ bao gộp chỉ cả nam và nữ giới. Nguyễn Lai (1997: 62) đã
viết: “Và khi xuất hiện thì ngôn ngữ ấy là của tôi và của anh, ngôn ngữ ấy cho
tôi và cả cho anh…” [12].
Trong hoạt động tôn giáo cũng có những trường hợp tương tự. Đó là việc