ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
KHOA NGÔN NGỮ HỌC
TRẦN THỊ THU HƯƠNG MẠCH LẠC DIỄN NGÔN HỘI THOẠI
TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM
VĂN HỌC HIỆN ĐẠI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
HÀ NỘI – 5/2009
HÀ NỘI – 5/2009
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngôn ngữ học văn bản là một lĩnh vực của ngôn ngữ học hiện đại.
Những vấn đề cơ bản của nó đã và đang được tập trung nghiên cứu, trong
đó có mạch lạc văn bản. Mạch lạc là điều kiện trọng yếu để một tập hợp
câu nào đó trở thành một văn bản. Lý thuyết về mạch lạc đã được ứng dụng
vào nghiên cứu, phân tích văn chương và giúp ích rất nhiều cho sự lĩnh hội
văn bản với tư cách là một chỉnh thể nghệ thuật. Tuy nhiên theo ý kiến của
nhiều nhà nghiên cứu, cho đến nay những giải thuyết về mạch lạc còn chưa
đi đến thống nhất bởi tính phức tạp trong nội tại khái niệm.
Trong những năm gần đây, mạch lạc đã và đang trở thành một vấn
đề thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà ngôn ngữ trong và ngoài nước
và đã thu được những kết quả bước đầu quan trọng. Có thể nói đây chính là
sự mở rộng của ngôn ngữ học trên nhiều phương diện như đối tượng
nghiên cứu, hệ thống khái niệm và phương pháp luận.
Trong những nghiên cứu về mạch lạc, mạch lạc trong lời nói chiếm
một vị trí khá quan trọng và là một vấn đề tương đối mới mẻ. Tuy vậy,
trong các tư liệu, công trình nghiên cứu từ trước đến nay, vấn đề mạch lạc
trong lời nói chưa được đề cao và đưa lên vị trí xứng tầm của nó. Mặc dù
các lời nói rất đa dạng, biến hoá muôn hình vạn vẻ nhưng không phải lúc
nào chúng ta cũng dễ dàng nắm bắt được cái “mạch” giữa chúng. Như vậy,
hiểu biết về mạch lạc để xác định, nắm bắt những biểu hiện cụ thể của
mạch lạc là hết sức quan trọng, không chỉ đối với người nghiên cứu ngôn
ngữ, người làm công tác phê bình văn học mà còn quan trọng với cả những
được tiếp nhận như là có mắc vào nhau, chứ không phải là một tập hợp các
câu nói không có liên quan với nhau. Pergram Press trong “Bách khoa thư
ngôn ngữ và ngôn ngữ học”, 1994, quan niệm mạch lạc là sự nối kết có
tính chất logic được trình bày trong quá trình triển khai một cốt truyện,
một truyện kể… lệ thuộc vào việc tạo ra những sự kiện được nối kết với
3
nhau, hơn là những dây liên hệ thuộc ngôn ngữ (như trong liên kết). D.
Togeby, 1994 cho rằng mạch lạc là cái đặc tính của sự tích hợp văn bản,
tức là cái đặc tính đảm bảo cho các yếu tố khác nhau trong văn bản được
khớp với nhau trong một tổng thể gắn kết. Còn Galperin hiểu mạch lạc
trong văn bản văn chương nói chung như sau: “Những phương tiện liệt kê
mạch lạc được xem là những phương tiện logic bởi vì chúng được sắp xếp
vào những khái niệm logic-triết học, những khái niệm về chuỗi liên tục, về
quan hệ thời gian, không gian, nhân-quả. Những phương tiện giải mã dễ
dàng bởi vậy không kìm giữ sự chú ý của người đọc, chỉ trừ những trường
hợp muốn hay không vẫn phát hiện ra sự tương ứng giữa các đại diện được
kết chuỗi với chính những phương tiện mạch lạc”.
Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu Diệp Quang Ban, Đinh Trọng Lạc,
Nguyễn Thiện Giáp… là những người đi đầu trong việc nghiên cứu các vấn
đề về mạch lạc nhưng cũng mới chỉ dừng lại ở việc giới thiệu những khái
niệm ban đầu chứ chưa đi sâu vào khảo sát nghiên cứu từng hiện tượng cụ
thể. Công trình nghiên cứu của Giáo sư Diệp Quang Ban với Văn bản và
liên kết trong tiếng Việt (1998) lần đầu tiên đã đề cập đến mạch lạc một
cách tổng thể và chi tiết. Sau đó, với Giao tiếp, văn bản, mạch lạc, liên kết,
đoạn văn (2003), Giáo sư đã giới thiệu “những nội dung có phân hoạch rõ
ràng hơn và chi tiết hơn, xứng đáng với vị trí thực hữu của mạch lạc trong
quá trình tạo lập và giải thích văn bản”. Đinh Trọng Lạc với Phong cách
tiếng Việt (2004), Đỗ Hữu Châu với Ngữ pháp văn bản (2004), Nguyễn
Thiện Giáp với Dụng học Việt ngữ (2000), Bùi Minh Toán với Tiếng Việt
- Truyện ngắn chọn lọc (NXB Hội Nhà văn – 1995)
- Truyện ngắn chọn lọc báo Văn nghệ trẻ 2002 (NXB Hội Nhà văn –
2003)
- Truyện ngắn hay và đoạt giải Tạp chí Văn nghệ Quân đội 2001-
2002 (NXB Văn học – 2003)
- Dương Hướng, Bến không chồng (NXB Hội Nhà văn)
- Nguyễn Quang Sáng, Con mèo của Foujitta (NXB Phụ nữ - 1996)
5
- Thạch Lam, Một đời người (NXB Văn học, 1987)
- Ma Văn Kháng, Mùa lá rụng trong vườn
- Đoàn Giỏi, Đất rừng phương Nam
- Trần Văn Tuấn, Ngõ hẻm bên cầu
- Nguyễn Dậu, Con thú bị ruồng bỏ
Có thể nói rằng, trong diễn ngôn, mạch lạc biểu hiện ở khả năng
dung hợp giữa các hành động nói. Hành động nói là hành động được thực
hiện trong khi nói như hành động hỏi, ra lệnh, hứa hẹn, chào, cảm ơn, xin
lỗi… Có những hành động nói thường phải đi đôi với nhau và cũng có
những hành động nói không thể ăn nhập với nhau. Khi các hành động nói
đi đôi với nhau thì bản thân chúng cũng tạo ra được mạch lạc cho những lời
trao đổi hoặc những chuỗi câu nối tiếp nhau. Chẳng hạn hành động hỏi
thường kéo theo hành động trả lời, hành động mời thường kéo theo hành
động chấp nhận hoặc từ chối lời mời, hành động chào thường kéo theo
hành động chào đáp lễ Tuy nhiên, trong phạm vi luận văn này, do sự giới
hạn về thời gian và tư liệu, chúng tôi chỉ xin đề cập đến vấn đề mạch lạc
trong các cặp thoại Hỏi – Đáp (cặp thoại có thể được xem là dạng tiêu biểu
nhất của diễn ngôn hội thoại), đặc biệt là các cặp thoại Hỏi – Đáp bao gồm
một lượt lời và hai lượt lời.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
tích miêu tả. Ngoài ra các phương pháp khác như thống kê, so sánh, đối
chiếu… cũng được chúng tôi vận dụng nhằm phục vụ hiệu quả cho mục
đích nghiên cứu của mình.
6. Kết cấu luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn của
chúng tôi được bố cục thành ba chương cụ thể như sau:
Chương 1: Một số cơ sở lí thuyết
Chương 2: Mạch lạc trong các cặp thoại Hỏi – Đáp tương hợp
Chương 3: Mạch lạc trong các cặp thoại Hỏi – Đáp không tương hợp
7
hoặc phát ngôn không có liên quan nhau”.
Các tác giả Việt ngữ học cũng đưa ra các cách nhìn nhận về mạch
lạc. Theo Nguyễn Thiện Giáp thì “văn bản mạch lạc là văn bản mà ở đó
9
người giải mã có thể cấu trúc lại sơ đồ của người nói một cách hợp lí
bằng cách suy luận những mối liên hệ giữa các câu và những mối liên hệ
riêng biệt của chúng với những mục đích thứ cấp khác nhau trong sơ đồ
giải thích, khiến cho sự khó hiểu trở nên dễ hiểu”. Theo quan điểm này,
mạch lạc không phụ thuộc vào những đặc trưng liên kết lẫn nhau mà phụ
thuộc vào qui mô mà người tạo ra văn bản cố gắng đạt được để cấu trúc
một sơ đồ hợp lí trong việc tạo ra văn bản. Cấu trúc một sơ đồ hợp lí
trong việc tạo ra văn bản lại phụ thuộc vào việc xem xét mỗi câu có phải
là sự thể hiện của một chân lí, một đóng góp cần thiết và thích hợp đối
với sơ đồ đó hay không.
Còn theo Diệp Quang Ban, “mạch lạc là một khái niệm phức tạp và
bao gồm nhiều yếu tố trừu tượng không dễ xác định”. Từ góc độ dụng học,
ông đã phát biểu rằng: “mạch lạc chính là sự áp dụng các qui tắc tạo hành
động và hiểu hành động nói”. Trong cuốn “Văn bản và liên kết trong tiếng
Việt” ông đã khái quát mạch lạc thành ba kiểu như sau.
1. Mạch lạc trong triển khai mệnh đề.
2. Mạch lạc trong hành động ngôn ngữ.
3. Mạch lạc theo nguyên tắc cộng tác.
Nếu đặt các cách hiểu mạch lạc này trong mối quan hệ với liên kết
và với văn bản/phi văn bản thì có thể thấy chính mạch lạc là yếu tố có tác
dụng làm cho một sản phẩm ngôn ngữ có tư cách là một văn bản.
Tác giả Nguyễn Hoà trong cuốn “Phân tích diễn ngôn - Một số vấn
đề lí luận và phương pháp” cũng đã nhận định rằng: “mạch lạc là một vấn
đề cốt yếu của lí luận phân tích diễn ngôn”. Trong chương 1, khi bàn về
vấn đề mạch lạc, ông cũng đã xem xét một vài khía cạnh tạo mạch lạc
thì ở đó có mạch lạc”. Trong trường hợp này liên kết hình thức chỉ là
phương tiện hiển ngôn hoá mạch lạc. Các câu trong một văn bản mạch lạc
có thể vẫn gắn bó với nhau mà không cần tới những dấu hiệu hình thức chỉ
ra quan hệ giữa các câu. Tuy nhiên ranh giới giữa mạch lạc và liên kết là
11
rất mong manh và chúng ta khó có thể phân biệt được chúng một cách rạch
ròi. Chúng ta có thể tạo ra những chuỗi câu có liên kết hình thức nhưng
không có mạch lạc, ví dụ:
Hồ Tây là hồ lớn nhất Hà Nội. Hà Nội là thủ đô nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam. Việt Nam là một quốc gia nằm ở khu vực Đông
Nam Á.
Hay như ví dụ tác giả Trần Ngọc Thêm đưa ra:
Cắm bơi một mình trong đêm. Đêm tối bưng không nhìn rõ mặt
đường. Trên con đường ấy, chiếc xe lăn bánh rất êm. Khung cửa xe phía cô
gái ngồi lồng đầy bóng trăng. Trăng bồng bềnh nổi lên qua dãy Pú Hồng.
Dãy núi này có ảnh hưởng quyết định đến gió mùa đông bắc ở miền Bắc
nước ta. Nước ta bây giờ của ta rồi, cuộc đời bắt đầu hửng sáng.
Có thể thấy hai câu trong mỗi đôi câu của ví dụ trên đều có liên kết
với nhau bằng phương thức nhắc lại (lặp) từ vựng và từng đôi câu ấy cũng
hình thành được một đề tài chung nào đấy. Nhưng nhìn toàn bộ từ câu đầu
đến câu cuối thì ta không thể biết đề tài - chủ đề của chuỗi câu này là gì,
tức là không có sự mạch lạc.
Một ví dụ phổ biến khác mà rất nhiều công trình đã sử dụng:
Anh ấy đã từng đi đánh trận ở nhiều nơi. Anh đã bị hai phát đạn.
Một phát ở đùi. Một phát ở Đèo Khế.
Sự vi phạm tính logic trong triển khai mệnh đề ở đây làm cho câu
cuối cùng không “ăn nhập” được với phần văn bản đi trước, tức là không
mạch lạc với phần văn bản đi trước, mặc dù ở đây tính thống nhất đề tài -
chủ đề vẫn được bảo toàn.
diễn đạt cho mình, tuy nhiên mạch lạc có thể không cần dùng đến phương
tiện liên kết, mà trái lại có dùng phương tiện liên kết chưa chắc đã tạo ra
được mạch lạc cho văn bản”. Ở Việt Nam, khái niệm mạch lạc đã được
một số nhà ngôn ngữ học diễn giải từ những góc độ khác nhau, bằng các
cách khác nhau. Đồng thời với việc tìm hiểu khái niệm mạch lạc, các tác
giả đều cố gắng phân biệt mạch lạc với liên kết – một khái niệm khá quen
13
thuộc trong giới ngôn ngữ học Việt Nam. Cũng theo ông thì: “Cách nhìn
chung nhất hiện nay là những từ ngữ trực tiếp diễn đạt các quan hệ kết nối
giữ các câu - phát ngôn làm thành các tiểu hệ thống (các phương tiện liên
kết) thì được xếp vào liên kết, còn những mối quan hệ kết nối nào thiết lập
được thông qua ý nghĩa giữa các câu thì thuộc về mạch lạc”. “Mọi văn bản
có mạch lạc tiềm ẩn đều có thể sử dụng phương tiện liên kết để hiển ngôn
hóa các kết nối mạch lạc, liên kết trong chừng mực đó là một thứ phương
tiện liên kết của mạch lạc ”
Đỗ Hữu Châu đã viết: “Một văn bản, một diễn ngôn là một lập luận
đơn hay phức hợp bất kể văn bản viết theo phong cách chức năng nào.
Tính lập luận là sợi chỉ đỏ đảm bảo tính mạch lạc về nội dung bên cạnh
tính liên kết về hình thức của văn bản, của diễn ngôn”.
Theo Bùi Minh Toán thì lại: “Trước đây, thuật ngữ liên kết được
dùng để chỉ chung cả phương diện liên kết nội dung lẫn liên kết hình thức
của văn bản. Gần đây, hai phương diện này được gọi bằng thuật ngữ khác
để phản ánh đúng đắn hơn bản chất của các vấn đề nghiên cứu. Vì thế,
phương diện liên kết nội dung nhận được tên gọi mới mạch lạc, trong khi
đó, phương diện liên kết hình thức vẫn được gọi chung là liên kết. Mạch
lạc trong văn bản được thể hiện cụ thể ra thành sự thống nhất về đề tài, sự
nhất quán về chủ đề và sự chặt chẽ về logic”.
Rõ ràng ở đây có sự phân biệt giữa mạch lạc và liên kết. Tuy mạch
lạc và liên kết không phải là những khái niệm đối lập nhau nhưng việc
nhau nhưng xét về khả năng dung hợp giữa các hành động nói thì rất mạch
lạc. Vì phát ngôn của người hỏi là một hành động hỏi và phát ngôn của
người trả lời là một hành động trả lời.
1.4. Mạch lạc trong các cặp thoại Hỏi – Đáp
* Cặp thoại Hỏi – Đáp
Cặp thoại Hỏi – Đáp có đầy đủ các tính chất và đặc điểm của một
cặp thoại thông thường và xảy ra khi người nói đưa ra lời trao là một câu
15
hỏi và người nghe có sự phản ứng lại. Cả hai làm thành một chu trình giao
tiếp khép kín.
Về cơ bản, hỏi là tìm kiếm thông tin, khi chưa biết một vấn đề X
nào đó thì chúng ta đặt câu hỏi về X và mong muốn được cung cấp thông
tin về X. Thông tin về X đó có thể được xác định ngay trong cấu trúc câu
hỏi bởi các tiểu từ hỏi như ai, cái gì, ở đâu… X cũng có thể được xác định
thông qua các cấu trúc ngữ pháp như “Có X hay không?”, khi đó câu trả
lời có thể là “có X” hoặc “không có X”.
Như vậy, dạng chính thức của một cặp thoại Hỏi – Đáp là:
Hỏi: tìm thông tin về X
Đáp: cung cấp thông tin về X
Tuy nhiên cần phải hiểu ý nghĩa cụm từ “cung cấp thông tin về X” ở
đây theo nghĩa rộng. Trong thực tế không phải lúc nào chúng ta cũng có thể
nhận được một câu trả lời truyền đạt trọn vẹn thông tin về sự thật, sự tình X
nào đó mà ta đã đề cập trong câu hỏi. Nhiều lúc lời đáp có thể chỉ là những
phát ngôn được người nói phát ra để phản ứng lại những phát ngôn trước
đó. Nguyên nhân của những phản ứng này rất đa dạng, người hỏi không
đúng với cương vị câu hỏi được đặt ra, người hỏi có thái độ không thích
hợp trong hành vi hỏi, câu hỏi đặt ra nhưng lại sai về tiền giả định… Thậm
chí ở một số trường hợp, lời đáp dường như không có sự “ăn khớp” với câu
hỏi song người nghe vẫn có thể hiểu, tiếp nhận và đáp trả lại để duy trì
thứ hai, chúng tôi cũng xin được quy ước gọi là các cặp thoại Hỏi – Đáp
không tương hợp. Trong thực tế cuộc sống, những cặp thoại này xuất hiện
rất nhiều, rất đa dạng, phong phú. Trong một số trường hợp phát ngôn hỏi
và phát ngôn đáp dường như không hề có sự ăn nhập với nhau, giữa chúng
thiếu vắng hoàn toàn các phương tiện liên kết hiển ngôn song lời đáp vẫn
chính là câu trả lời xác đáng, cần thiết cho câu hỏi. Khi đó, sự mạch lạc
giữa các phát ngôn trong cặp thoại không dễ dàng tìm được bởi các phương
tiện ngôn ngữ hiển ngôn nữa mà như nằm sâu ở một tầng ngầm ẩn, một nấc
17
nghĩa nào đó mà phải vận dụng các kiến thức ngôn ngữ về tiền giả định, về
hàm ý… chúng ta mới có thể phát hiện ra được.
Như trên đã trình bày, tác giả Diệp Quang Ban trong công trình
nghiên cứu “Văn bản và liên kết trong tiếng Việt” đã khái quát mạch lạc
thành ba kiểu: mạch lạc trong triển khai mệnh đề, mạch lạc trong hành
động ngôn ngữ và mạch lạc theo nguyên tắc cộng tác. Trong phạm vi luận
văn này, chúng tôi sử dụng cách phân chia mạch lạc của Diệp Quang Ban
như kim chỉ nam, như phương pháp phân tích khi nghiên cứu mạch lạc ở
các cặp thoại Hỏi – Đáp. Tuy nhiên, theo quan niệm của Diệp Quang Ban
thì mạch lạc trong triển khai mệnh đề bao gồm có mạch lạc thể hiện trong
tính thống nhất đề tài - chủ đề, mạch lạc thể hiện trong tính hợp lý logic của
sự triển khai mệnh đề, mạch lạc thể hiện trong trình tự hợp lý giữa các câu
(mệnh đề). Theo ông, tính thống nhất đề tài - chủ đề có tầm quan trọng nhất
định đối với việc tạo lập và giải quyết văn bản. Tính thống nhất đề tài - chủ
đề chính là kết quả của mạch lạc, sự vi phạm tính thống nhất này được cụ
thể hoá thành sự vi phạm tính hợp lý của sự triển khai mệnh đề.
Mạch lạc trong tính hợp lý logic của sự triển khai mệnh đề: sự vi
phạm tính logic trong triển khai mệnh đề ở đây làm cho câu (mệnh đề cuối
cùng) không “ăn nhập” được với phần văn bản đi trước, tức là không mạch
lạc với phần văn bản đi trước.
Quang Ban: “trong những cặp thoại dạng này thì nội dung từ ngữ của câu
không giữ vai trò đáng kể trong việc xem xét mạch lạc mà sự dung hợp
giữa các hành động nói mới là vấn đề quan tâm”. Người nói và người nghe
có thể không trực tiếp đề cập đến cùng một đề tài nhưng các hành động nói
có sự dung hợp, chấp nhận nhau thì cặp thoại vẫn có mạch lạc.
2. Vấn đề hội thoại
2.1. Lý thuyết hành vi ngôn ngữ
Theo Austin, có ba loại hành vi ngôn ngữ trong một phát ngôn là
hành vi tạo lời, hành vi tại lời và hành vi mượn lời.
19
Hành vi tạo lời: là hành vi sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ như ngữ
âm, từ, các kiểu kết hợp từ tạo thành câu… để tạo ra một phát ngôn về hình
thức và nội dung. Theo Austin có ba phương diện khác nhau của hành vi
này. Quan sát một phát ngôn, trước hết người ta thấy có hành vi ngữ âm để
tạo ra chuỗi âm thanh làm nên phát ngôn đó. Tất cả mọi cách thức âm
thanh để thực hiện một âm tố, một từ thuộc một lớp từ vựng hay ngữ pháp
nào đó với những kiểu nhấn giọng, ngữ điệu xác định được gọi là hành vi
đưa giọng. Một cách tổng quát, hành vi thực hiện một câu hay những thành
tố của nó với những “nghĩa” đã xác định nào đó cũng như “sự qui chiếu”
xác định được gọi là hành vi tạo vật. Như vậy, mỗi hành vi tạo lời đã tạo ra
nội dung mệnh đề và do đó đã có một ý nghĩa xác định.
Hành vi tại lời: là những hành vi người nói thực hiện ngay khi nói
năng. Hiệu quả của chúng là những hiệu quả thuộc ngôn ngữ, nghĩa là
chúng gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng ở người nhận.
Ví dụ về hành vi tại lời: hỏi, yêu cầu, ra lệnh, mời, hứa hẹn, khuyên bảo…
Khi chúng ta hỏi một ai về điều gì đó thì người được hỏi có nhiệm vụ phải
trả lời chúng ta, cho dù trả lời không biết. Không trả lời, không đáp lại,
người nghe bị xem là không lịch sự. Hành vi tại lời có ý định qui ước và có
Bày tỏ: bao gồm những hành vi dùng để trình bày các quan niệm,
dẫn dắt các lập luận, giải thích từ ngữ, bảo đảm sự qui dẫn. Như: khẳng
định, phủ định, bác bỏ, trả lời, đưa ví dụ, giải thích, minh hoạ…
Trong bảng phân loại trên, chính Austin cũng nhận thấy còn những
điều không thoả đáng: có chỗ chồng chéo, có chỗ còn mơ hồ. Tuy nhiên
cho đến ngày hôm nay, những quan niệm của Austin cũng như lý thuyết
hành vi ngôn ngữ và các bảng phân loại của ông vẫn được các nhà nghiên
cứu coi trọng và xem là kim chỉ nam cho các nghiên cứu về ngữ dụng học.
2.2. Các quan niệm về hội thoại
Giao tiếp là một nhu cầu thiết yếu của con người. Qua giao tiếp con
người nắm bắt được thông tin, tích lũy được các tri thức, kinh nghiệm, hiểu
biết khoa học… Con người muốn phát triển hay hoà nhập vào một cộng
21
đồng, xã hội nào đó phải có khả năng giao tiếp tốt, mà muốn giao tiếp tốt
thì phải có năng lực sử dụng ngôn ngữ. Như vậy, ngôn ngữ đóng vai trò
chính và là yếu tố quyết định thành công của hoạt động giao tiếp.
Hoạt động giao tiếp thông thường là hội thoại, là sự trao đổi thông
tin giữa hai người với nhau. Qua hội thoại các yếu tố ngôn ngữ bộc lộ khả
năng vận hành và phát huy tác dụng cao nhất. Có thể nói giao tiếp hội
thoại là hoạt động cơ bản và là hình thức giao tiếp thường xuyên phổ biến
của con người.
Cho đến nay chưa có một định nghĩa hoàn toàn chính xác về hội
thoại. Các nhà nghiên cứu ở Việt Nam và trên thế giới tuy đã có rất nhiều
công trình về hội thoại song họ cũng chỉ đưa ra những quan niệm khác
nhau về vấn đề này chứ đó chưa được coi là một định nghĩa hoàn chỉnh.
Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê (1992) định nghĩa: “Hội thoại là
sử dụng ngôn ngữ để nói chuyện với nhau”.
Sách Tiếng Việt 12 do Đỗ Hữu Châu và Cao Xuân Hạo chủ biên cho
rằng: “Hội thoại là hoạt động giao tiếp bằng lời (bằng miệng) giữa các
Các nhà nghiên cứu đều thống nhất hội thoại có ba bậc lớn:
- Cuộc thoại (talk)
- Đoạn thoại (sequence)
- Cặp thoại (adjacency)
Cuộc thoại là một lần nói chuyện trao đổi giữa cá nhân, ít nhất là hai
câu, trong một cộng đồng, xã hội. Cuộc thoại ngắn nhất chỉ gồm một cặp
câu như chào – chào, hỏi – đáp… Cuộc thoại dài có thể là một cuộc thương
lượng mua bán, một buổi nói chuyện về ngôn ngữ học…
Cấu trúc của cuộc thoại:
Mở thoại – Thân thoại - Kết thoại
Đoạn thoại là tập hợp các lượt lời trao đổi về một vấn đề. Một cuộc
thoại có thể có hơn một đoạn thoại. Mỗi đoạn thoại lại bao gồm nhiều lời
trao đổi chứ không thể chỉ có một lời nói. Các đoạn thoại được liên kết với
nhau cả về hình thức và ý nghĩa. Tuy nhiên cách chuyển từ đoạn thoại này
23
sang đoạn thoại khác dựa trên nghĩa hay logic ngữ nghĩa nhiều hơn. Đoạn
thoại cũng có cấu trúc như của một cuộc thoại, nghĩa là bao gồm mở thoại,
thân thoại và kết thoại.
2.4. Lý thuyết cặp thoại
Lý thuyết các hành vi ngôn ngữ của Austin chỉ xem xét các hành vi
một cách riêng rẽ, độc lập với những hành vi khác. Trong hội thoại, mỗi
phát ngôn đều có quan hệ trực tiếp đến những phát ngôn đi trước nó hoặc
định hướng cho những phát ngôn tiếp sau. Vậy là có những hành vi ngôn
ngữ đã gây ra những hành vi ngôn ngữ. Các hành vi ngôn ngữ không đứng
biệt lập, hành vi này kéo theo hành vi kia, lượt lời này kéo theo lượt lời kia.
Vì thế hình thành khái niệm “cặp thoại”.
Đơn vị quan trọng nhất để tạo được đoạn thoại hay cuộc thoại chính
là cặp thoại. Theo Nguyễn Đức Dân: “trong một lượt lời liên kết có thể gồm
nhiều phát ngôn với những chức năng và mục đích khác nhau, có liên kết