HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT NAM QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN HỌC TRUNG ĐẠI THUỘC CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN THCS. - Pdf 31

Chuyên đề Bồi dưỡng HSG Ngữ văn 9
GV:
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

CHUYÊN ĐỀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI NGỮ VĂN 9 :
HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT NAM QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM
VĂN HỌC TRUNG ĐẠI THUỘC CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN THCS.
PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU:
1/ Lý do chọn chuyên đề:
Văn học Việt Nam là nền văn học mang đậm tính nhân văn. Một trong những giá
trị độc đáo ấy là hình tượng người phụ nữ luôn được phản ánh sâu đậm và cao đẹp, đặc
biệt là trong văn học trung đại. Tuy nhiên trong thực tế, văn học trung đại vốn khó và có
phần xa cách về thời gian nên thường có nhiều hạn chế trong dạy và học. Vì mỗi thời kì
có một đặc trưng riêng biệt song vẫn có những giá trị mang tính truyền thống nên để
hiểu hôm nay không thể không quan tâm đến quá khứ. Việc nắm vững hình tượng người
phụ nữ trong văn học giai đoạn trung đại có ý nghĩa vô cùng quan trọng không chỉ với
giai đoạn văn học đó mà còn là cơ sở để nắm vững các giai đoạn trước và sau nó. Thời
kì từ TK X đến hết TK XIX là vô cùng quan trọng vì nó có nhiều biến động lịch sử
quyết định sự phát triển của dân tộc, vì thế văn học cũng vô cùng đa dạng, phong phú và
có ý nghĩa quan trọng trong tiến trình văn học dân tộc.
Thế nhưng trong chương trình Ngữ văn THCS được biên soạn theo đổi mới
phương pháp dạy học thì các tác phẩm văn học không học theo tiến trình lịch sử, không
có bài khái quát về văn học từng thời kì dẫn đến học sinh khó khăn trong trong việc xâu
chuỗi các vấn đề qua nhiều tác phẩm. Mặt khác, chương trình lại chỉ dành cho giai đoạn
này một lượng thời gian không nhiều và nội dung còn hạn hẹp, việc tìm hiểu sâu hơn
hoàn cảnh lịch sử, các vấn đề về người phụ nữ có phần quá sơ lược, thiếu cơ sở. Với các
em, nhất là với học sinh giỏi càng cần thiết phải nắm được hoàn cảnh xã hội, những đặc
trưng cơ bản...để tìm hiểu sâu sắc hơn giá trị cũng như nét đặc thù mỗi tác phẩm, trong
mỗi trào lưu; vì vậy chuyên đề này sẽ phần nào giúp các em, các thầy cô có kiến thức
đầy đủ toàn diện hơn về hình tượng người phụ nữ trong giai đoạn văn học quan trọng
này.

bộc lộ giá trị tư tưởng và phong cách nghệ thuật của mình . Mỗi nhà văn khi cầm bút
phải không ngừng sáng tạo tìm tòi để xây dựng hình tượng nhân vật tiêu biểu đặc sắc.
Không phải tác phẩm văn học nào cũng có hình tượng văn học. Không phải nhân vật
nào trong tác phẩm văn học đều trở thành hình tượng nhân vật văn học. Để trở thành
hình tượng văn học điều kiện tiên quyết là phải có tính điển hình. Trong văn học, hình
tượng nhân vật phải là: nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình. Nghĩa là nhân vật
văn học ấy phải có sức tập trung khái quát cao. Nhân vật ấy phải có những nét chung
nhất của tầng lớp, giai cấp... mà mình đại diện. Và bối cảnh xã hội mà nhân vật ấy xuất
hiện phải là bối cảnh điển hình của một vùng, một nơi vào một thời điểm lịch sử nhất
định. Như vậy: hình tượng nhân vật trong văn học là nhân vật điển hình trong tác phẩm
văn học, mang đậm nét khái quát của tầng lớp, giai cấp của nhân vật ấy, đồng thời là
nhân vật có những nét riêng đặc biệt, xuất hiện trong bối cảnh điển hình mà tác phẩm
văn học ấy thể hiện.
2. Hình tượng người phụ nữ trong văn học trung đại:
Trong giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII – nửa đầu thế kỉ XIX, ở nước ta do điều
kiện xã hội đặc biệt của nó mà trong văn học dân tộc ta hình thành một trào lưu nhân
đạo chủ nghĩa. Trong trào lưu văn học này, lần đầu tiên hình ảnh người phụ nữ được đề
cập đến một cách phổ biến trong nhiều tác phẩm của nhiều tác giả: Đặng Trần Côn và
Đoàn Thị Điểm có người chinh phụ trong Chinh phụ ngâm; Nguyễn Gia Thiều có người
cung nữ trong Cung oán ngâm khúc; Nguyễn Du có Thúy Kiều trong Truyện Kiều;
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------2

Năm học: 2015-2016


Chuyên đề Bồi dưỡng HSG Ngữ văn 9
GV:
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Nguyễn Dữ có Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương ; trong những truyện

là người đầu tiên và có thể là duy nhất đưa vào văn học giai đoạn này không phải là cô
gái quý tộc mà đích thực là những cô gái bình dân. Bà tìm thấy vẻ đẹp thực sự của họ,
nêu bật vẻ đẹp bên trong, vẻ đẹp tâm hồn của họ (Bánh trôi nước, Con ốc nhồi, Quả
mít); ca ngợi tuổi trẻ tươi mát, trắng trong các cô gái đang xoan (Đề tranh tố nữ); đi vào
đến từng chi tiết của vẻ đẹp cơ thể (Thiếu nữ ngủ ngày)…
Tuy nhiên, trong quan niệm của dân tộc ta thời kì này thì người phụ nữ đẹp
thường gắn liền với số phận bất hạnh. Điểm lại gương mặt nhân vật nữ thời kì này ta
thấy một điểm chung ở họ là có một cuộc đời đầy sóng gió, bẽ bàng, không mấy người
có được hạnh phúc thật sự. Đặc điểm này phải chăng là do quan niệm “hồng nhan bạc
mệnh”.
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------3
Năm học: 2015-2016


Chuyên đề Bồi dưỡng HSG Ngữ văn 9
GV:
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

B/ NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ :
Phụ nữ là một đề tài lớn trong văn học Việt Nam. Từ trước thế kỉ XVI, nhân vật
phụ nữ đã thoáng hiện trong các tác phẩm văn xuôi tự sự cũng như trong thơ ca. Đó là
hình ảnh những vị anh hùng dân tộc, như Bà Trưng, Bà Triệu, sống đánh giặc, chết hoá
thành phúc thần tiếp tục giúp dân giúp nước; hoặc các nhân vật khác như Mị Châu, vì
ngây thơ mà bị kẻ thù lợi dụng để đến mất nước tan nhà; như công chúa Tiên Dung thích
ngao du sơn thuỷ, bất chấp luật lệnh của vua cha, tự ý kết duyên cùng chàng đánh cá
Chử Đồng Tử nghèo khó không một mảnh khố che thân; hay nàng quận chúa A Kim yêu
say đắm Hà Ô Lôi – một đứa vừa xấu vừa đen nhưng có giọng hát mê hồn… Trong lĩnh
vực thơ ca, ta cũng thấy có một số bài, hoặc ngâm vịnh về nhân vật lịch sử như các bài
Vịnh Mị Ê, Vịnh nàng Điêu Thuyền, Vịnh Chiêu Quân, hoặc các bài nói về nỗi buồn
thương của các thiếu phụ, kẻ thì bị tình duyên dang dở như bài Chức Nữ nhớ Ngưu

GV:
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

I. HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ - HIỆN THÂN CỦA CÁI ĐẸP.
Đất nước Việt Nam - đất nước của những câu hát ru ngọt ngào, đất nước của cánh
cò trắng bay, đất nước của bàn tay mẹ tảo tần qua bao năm tháng… và từ trong cái
nguồn mạch dạt dào ấy, người phụ nữ là đề tài chưa bao giờ vơi cạn trong nguồn cảm
hứng của người nghệ sĩ, qua nhiều thời đại khác nhau.
Thần thoại Hi Lạp kể rằng: “Thượng đế đã lấy vẻ đầy đặn của mặt trăng, đường uốn
cong của loài dây leo, dáng run rẩy của các loài cỏ hoa, nét mềm mại của loài lau cói,
màu rực rỡ của nhị hoa, điệu nhẹ nhàng của chiếc lá, cảm giác tinh vi của vòi voi, cái
nhìn đăm chiêu của mắt hươu, cái xúm xít của đàn ong, ánh rực rỡ của mặt trời, nỗi xót
xa của tầng mây, luồng biên động của cơn gió, tính nhút nhát của con hươu rừng, sắc
lộng lẫy của con chim công, hình nhuần nhuyễn của con chim yểng, chất cứng rắn của
ngọc kim cương, vị ngon ngọt của đường mật, khí lạnh lẽo của băng tuyết đức trung
trinh của chim uyên ương đem mọi thứ ấy hỗn hợp lại, nặn thành người phụ nữ”. Có thể
nói, người phụ nữ là biểu tượng của cái đẹp.
Nhân vật phụ nữ, ở thể loại tự sự hay trữ tình trong văn học trung đại, thường đẹp
cả người lẫn nết, ít thấy có hiện tượng “xấu người đẹp nết” như trong văn học dân gian.
Chính vì thế, các nhân vật chính diện là những phụ nữ trong văn học từ thế kỉ XVI đến
đầu thế kỉ XIX hầu hết có sự hài hoà giữa cái đẹp về hình thức với cái đẹp về tâm hồn,
họ là hiện thân của cái đẹp: đẹp người và đẹp nết.
1. Cái đẹp hình thể:
Điều đặc biệt là: các cô gái khi đi vào văn học giai đoạn này đều là những giai
nhân tuyệt thế.
Hạnh Nguyên trong “Nhị độ mai” là một cô gái đẹp rực rỡ:
“Người đâu trong ngọc tráng ngà,
Mặt vành vạnh nguyệt, tóc rà rà mây”.
Chị em Thuý Vân và Thuý Kiều thì rõ ràng là khuôn mẫu của sắc đẹp:
“Vân xem trang trọng khác vời,

---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------6
Năm học: 2015-2016


Chuyên đề Bồi dưỡng HSG Ngữ văn 9
GV:
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

bộc lộ bản chất của cái đẹp: đẹp nết. Mỗi một thể loại văn học, mỗi một tác giả văn học
lại có cách biểu đạt riêng về cái đẹp của người phụ nữ.
Khi nói đến đẹp nết là ta đã đề cập tới phạm trù đạo đức. Trong văn học dân gian
người ta cho rằng:
“Tốt gỗ hơn tốt nước sơn
Xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người”.
Nhưng, như trên đã nói, trong văn học trung đại không có sự đối lập giữa hình
thức (xấu người) với nội dung (đẹp nết). Hình thức và nội dung thường có sự hoà quyện
sóng đôi. Vì thế, ở các truyện truyền kì cũng như truyện Nôm, trong bất cứ hoàn cảnh
nào, nhân vật phụ nữ luôn toát lên một phẩm chất cao đẹp: hiếu thảo, thủy chung, giàu
đức hi sinh và có tấm lòng vị tha nhân hậu.
Trước tai biến bất ngờ của gia đình, Thuý Kiều đã hi sinh thân mình, hi sinh tình
yêu của mình:
“Rẽ cho để thiếp bán mình chuộc cha”.
Rơi vào lầu xanh của Tú Bà, Kiều phải sống một cuộc đời nhơ nhớp. Có lần nàng
đã tự tử để mong thoát khỏi kiếp sống đoạ đày đó. Nhưng khi Thúc Sinh ngỏ lời cầu
hôn, Kiều không coi đấy là cơ may phải chớp lấy. Điều đầu tiên Kiều nghĩ đến là hạnh
phúc của Hoạn Thư, người vợ hiện tại của Thúc Sinh. Nếu như nàng lấy chàng Thúc,
một hiện thực không thể tránh khỏi cho Hoạn Thư là:
“Thêm người, người cũng bớt lòng riêng tây”.
Rõ ràng, người bị thiệt thòi trước hết là Hoạn Thư. Tình cảm vợ chồng của Hoạn
Thư sẽ bị chia sẻ. Kiều không đang tâm. Rồi khi được quan phủ và Thúc ông tác thành

Non vàng chưa dễ đền bồi tấm thương.
Nghìn vàng gọi chút lễ thường,
Mà lòng Phiếu mẫu mấy vàng cho cân!”.
Ngay ở nhân vật Thúy Vân- người em vườn Thúy ( theo tác giả Nguyễn Thị Sâm
trong " Bình giảng Truyện Kiều- NXB văn học) đã khẳng định một vẻ đẹp đáng nể
trọng không chỉ về hình thể mà cả vẻ đẹp tâm hồn. Điều mà nhiều chúng ta hay quên khi
mải ca tụng Thúy Kiều!
Vân đẹp, một vẻ đẹp cổ kính mà thùy mị, phúc hậu:
Hoa cười ngọc thốt đoan trang
Mây thua nước tóc, thuyết nhường màu da.
Một vẻ đẹp thô sơ mà vĩnh cửu! Đẹp như chiếc áo tứ thân miền Bắc, chiếc áo cụt
miền Trung hay chiếc áo bà ba miền " mưa nắng hai mùa".
Không chỉ đẹp ở nhan sắc, Thúy Vân còn có một tâm hồn cao cả. Giống như tất
cả mọi người con gái, Vân có tình cảm riêng tư cá nhân chứ, nhưng khi vì gia đình, vì để
giữ vẹn ân toàn nghĩa của chị với chàng Kim nàng chấp nhận sống bên cạnh Kim Trọng
như một cái bóng bên người chồng hờ ( Kim Trọng có phút giây nào nghĩ đến Thúy Vân
đâu?) mà nàng chưa bao giờ than phiền gì .
Rồi đến phần tái hợp Kim- Kiều, bao tầm mắt hướng về cô em gái. Không phụ
lòng mong mỏi, đoán trước ý muốn của người thân:
Đứng lên Vân mới giãi bày...
Rằng trong tác hợp cơ trời,
Hai bên gặp gỡ một lời kết giao.
Gặp cơn binh địa ba đào,
Vậy đem duyên chị buộc vào cho em.
Cũng là phận cải duyên kim,
Cũng là máu chảy ruột mềm có sao?
Những là nay ước mai ao,
Mười lăm năm ấy biết bao là tình.
Bây giờ gương vỡ lại lành,
Khôn thiêng lừa lọc đã đành có nơi.

khắc khoải nhớ chồng của mình: “Nhìn trăng soi thành cũ, lại sửa soạn áo rét, gửi người
ải xa, trông liễu rủ bãi hoang, lại thổn thức tâm tình, thương người đất thú! Dù có thư tín
nghìn hàng, cũng sợ không có cánh hồng bay bổng”. Đúng là lời nói, cách nói của một
người vợ hết mực thùy mị, dịu dàng. Trái tim ấy giàu lòng yêu thương, biết chịu đựng
những thử thách, biết đợi chờ để yên lòng người đi xa, thật đáng trân trọng biết bao! Khi
xa chồng, Vũ Nương ngày ngày đợi chờ, ngóng trông đến thổn thức “Giữ trọn tấm lòng
thủy chung, son sắt”, “tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng, ngõ liêu tường hoa chưa hề
bén gót”. Nỗi nhớ thương dài theo năm tháng “Mỗi khi thấy bướm lượn đầy vườn, mây
che kín núi, thì nỗi buồn góc bể chân trời không thể nào ngăn được”. Nàng vừa thương
chồng, vừa nhớ chồng, vừa thương xót cho chính mình đêm ngày phải đối mặt với nỗi
cô đơn vò võ. Thể hiện tâm trạng ấy, Nguyễn Dữ vừa cảm thông với nỗi đau khổ của Vũ
Nương, vừa ca ngợi tấm lòng thủy chung, thương nhớ đợi chờ chồng của nàng. Khi hạnh
phúc gia đình có nguy cơ tan vỡ: Vũ Nương ra sức cứu vãn, hàn gắn. Khi người chồng
trút cơn ghen bóng gió lên đầu, Vũ Nương đã ra sức thanh minh, phân trần. Nàng đã
viện đến cả thân phận và tấm lòng của mình để thuyết phục chồng “Thiếp vốn con kẻ
khó được nương tựa nhà giàu.....cách biệt ba năm giữ gìn một tiết.....” Những lời nói
nhún nhường tha thiết đó cho thấy thái độ trân trọng chồng, trân trọng gia đình nhà
chồng, niềm tha thiết gìn giữ gia đình nhất mực của Vũ Nương. Rồi những năm tháng
sống ở chốn làng mây cung nước sung sướng nàng vẫn không nguôi nỗi thương nhớ
chồng con. Vừa gặp lại Phan lang, nghe Lang kể về tình cảnh gia đình nàng đã
ứa nước mắt xót thương. Mặc dù đã nặng lời thề sống chết với Linh Phi nhưng nàng
vẫn tìm cách trở về với chồng con trong giây lát để nói lời đa tạ tấm lòng chồng. Rõ
ràng trong trái tim người phụ nữ ấy, không vẩn chút thù hận, chỉ có sự yêu thương và
lòng vị tha.
Vũ Nương còn là người con dâu hiếu thảo với mẹ chồng, một người mẹ hiền
đầy tình yêu thương con. Trong ba năm chồng đi chiến trận, một mình nàng vừa làm
con vừa làm cha vừa làm mẹ để chăm sóc phụng dưỡng mẹ chồng, nuôi dạy con thơ.
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------9
Năm học: 2015-2016


Gẫm câu báo đức thù công,
Lấy chi cho phỉ tấm lòng cùng ngươi".
Cách xưng hô của nàng vừa trân trọng, vừa khiêm nhường; nói năng dịu dàng,
mực thước; trình bày rõ ràng, khúc chiết, vừa đáp ứng đầy đủ những điều thăm hỏi ân
cần của Lục Vân Tiên, vừa thể hiện niềm cảm kích chân thành đối với ân nhân cứu
mạng. Nguyệt Nga là người chịu ơn. Lục Vân Tiên không chỉ cứu mạng, mà còn cứu cả
cuộc đời trong trắng của nàng. Mà đối với người con gái, điều đó còn quý hơn tính
mạng:
Lâm nguy chẳng gặp giải nguy,
Tiết trăm năm cũng bỏ đi một hồi.
Nàng băn khoăn tìm cách trả ơn chàng, dù hiểu rằng đền đáp bao nhiêu cũng là
không đủ:
Gẫm câu báo đức thù công,
Lấy chi cho phỉ tấm lòng cùng ngươi.
Bởi thế, nàng đã tự nguyện gắn bó cuộc đời với chàng trai khảng khái, hào hiệp
và sau này dám liều mình quyên sinh để giữ trọn ân nghĩa thuỷ chung.
Nhân vật Kiều Nguyệt Nga đã chinh phục được tình cảm yêu mến của nhân dân,
những con người luôn đặt ân nghĩa lên hàng đầu, coi ân nghĩa là gốc rễ của đạo đức.
II. HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ - HIỆN THÂN CỦA NHỮNG
SỐ PHẬN BI THƯƠNG.
Những người phụ nữ đẹp là thế, vậy mà đáng tiếc thay họ lại sống trong một xả
hội phong kiến thối nát với bộ máy quan lại mục ruỗng, chế độ trọng nam khinh nữ vùi
dập số phận họ. Càng xinh đẹp họ lại càng đau khổ, lại càng phải chịu nhiều sự chèn ép,
bất công. Như một quy luật khắc nghiệt của thời bấy giờ "hồng nhan bạc phận".
1. Trước hết, họ là nạn nhân của những hủ tục, lễ giáo phong kiến khắc
nghiệt:
a, Chế độ đa thê:
Dưới chế độ phong kiến, mọi thế lực xã hội, kể cả gia đình, đều có thể chà đạp lên
thân phận người phụ nữ.
Đứng đầu các thế lực xã hội thời bấy giờ là vua chúa. Để phục vụ cho việc ăn

Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng
Chém cha cái kiếp lấy chồng chung.
Năm thì mười họa hay chăng chớ,
Một tháng đôi lần có cũng không.
Cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm,
Cầm bằng làm mướn, mướn không công.
(Làm lẽ)
Ở xã hội xưa, trai năm thê bảy thiếp là thường, còn người phụ nữ không cho phép
được như vậy. Họ đâu có quyền làm chủ đời mình.
b, Chế độ nam quyền:
Đối với người phụ nữ, gia đình là tất cả, vì gia đình là tổ ấm, là chốn nương thân,
là nơi có thể tìm thấy niềm vui, sự an ủi. Nhưng biết bao kiếp người phụ nữ đã gặp cảnh
gia đình ngang trái, nhất là khi lấy phải người chồng chẳng ra gì. Bài thơ “Khóc tổng
Cóc” của Hồ Xuân Hương như tiếng thở dài của người vợ khi đã trút được gánh nặng về
ông chồng:
“Chàng Cóc ơi! Chàng Cóc ơi!
Thiếp bén duyên chàng có thế thôi.
Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé,
Ngàn vàng xin chuộc dấu bôi vôi!”
Có lẽ tiêu biểu hơn cả cho những số phận cay đắng do người chồng gây ra là nhân
vật Vũ Thị Thiết trong truyện " Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ.
Đớn đau thay số phận của nàng Vũ Nương! Chỉ vì muốn con vui, muốn bớt buồn, giải
khuây khi sống cô đơn vò võ nuôi con nên nàng đã lấy cái bóng của mình, nói với con
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------12
Năm học: 2015-2016


Chuyên đề Bồi dưỡng HSG Ngữ văn 9
GV:
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Giật mình, mình lại thương mình xót xa.
Khi sao phong gấm rủ là,
Giờ sao tan tác như hoa giữa đường.
Mặt sao dày gió dạn sương,
Thân sao bướm chán ong ong chường bấy thân!”.
Được Thúc Sinh cứu khỏi lầu xanh của Tú Bà, Thuý Kiều lại bị Bạc Bà, Bạc
Hạnh đẩy vào lầu xanh lần thứ hai.
Tài sắc lẽ ra phải được nâng niu trân trọng. Song, dưới chế độ phong kiến, ngược
lại, tài sắc trở thành nguyên nhân để nhân phẩm bị chà đạp. Thoạt tiên, tài sắc của Thuý
Kiều bị biến thành món hàng trong tay những “phường bán thịt”, “quân buôn người”:
“Đắn đo cân sắc cân tài,
Ép cung cầm nguyệt, thử bài quạt thơ”.
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------13
Năm học: 2015-2016


Chuyên đề Bồi dưỡng HSG Ngữ văn 9
GV:
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Sau này, Hoạn Thư đem tài đàn của Kiều ra để hành hạ nàng, bắt nàng hầu đàn
Thúc Sinh. Và cuối cùng, Hồ Tôn Hiến cũng dùng tiếng đàn của Kiều để nhục mạ nàng.
Như chúng ta đã biết, trong đời Kiều, Từ Hải là người duy nhất giúp nàng ngẩng cao
đầu “cả cười” và “ân oán rạch ròi”. Đối với Kiều, Từ Hải là ân nhân (cứu Kiều ra khỏi
lầu xanh, giúp nàng đền ơn báo oán, đưa Kiều từ thân phận gái lầu xanh lên bậc mệnh
phụ phu nhân…), là người tri kỉ, là chồng,… Từ Hải là tất cả cuộc đời Kiều. Vậy mà, vì
mắc lừa Hồ Tôn Hiến – quan trọng thần, đại diện triều đình – Kiều đã khuyên Từ Hải ra
hàng để dẫn đến cái chết của Từ. Đời Kiều rất nhiều nỗi đớn đau, nhưng nỗi đớn đau lớn
nhất vẫn là là việc Từ Hải chết. Kiều đã khóc, khóc suốt 15 năm, nhưng chưa bao giờ
nàng khóc nhiều như khi Từ Hải chết. Nàng khóc cho chồng, khóc cho mình, khóc cho


Năm học: 2015-2016


Chuyên đề Bồi dưỡng HSG Ngữ văn 9
GV:
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

chiến tranh trong Chinh-phụ ngâm khúc là nói về cuộc binh biến kéo dài ở nước ta, trong
giai đoạn xã hội rối loạn, giặc giã triền miên vào thời các chúa Trịnh Giang và Trịnh
Doanh, khoảng giữa thế kỉ XVIII.
Và cuộc chiến tranh ấy cũng là một trong những tai hoạ giáng xuống đầu người
phụ nữ. “Chinh phụ ngâm khúc” chính là tiếng kêu khắc khoải của người vợ trẻ có
chồng bị cuốn vào cuộc chiến tranh phi nghĩa. Người chồng ra trận đối mặt với cái chết.
Người vợ ở nhà thì mòn mỏi chờ mong, lo âu phấp phỏng: lo cho chồng nơi chiến địa, lo
cho tuổi xuân của mình lặng lẽ trôi qua:
“Thiếp rầu thiếp, lại rầu chàng chẳng quên”.
Nỗi cô đơn gặm nhấm dần tuổi trẻ, người chinh phụ không khỏi lo lắng cho sự tàn
tạ của mình:
“Gái tơ mấy chốc xảy ra nạ dòng”.
Nàng khao khát được gặp lại chồng dù chỉ một lần thôi, song chiến tranh đẩy họ
xa nhau, mỗi người một phương biền biệt:
“Thiếp trong cánh cửa, chàng ngoài chân mây”.
Sầu chia li giày vò, người chinh phụ chỉ còn biết tìm chút hạnh phúc trong mộng
mị:
“Duy còn hồn mộng được gần,
Đêm đêm thường tới giang tân tìm người,…”.
Nhưng mộng rồi phải tỉnh, và khi tỉnh dậy càng thấy buồn khổ hơn:
“Giận thân thiếp lại không bằng mộng
Được gần chàng bến Lũng thành Quan,

Du.
Dàn ý chi tiết:
I – Mở bài:
- Giới thiệu được vấn đề cần nghị luận ( Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam qua hai tác
phẩm).
II – Thân bài:
* Giới thiệu những nét chung về nội dung của các tác phẩm văn học viết về người
phụ nữ trong xã hội phong kiến: đó là những người phụ nữ có tài, có sắc hoặc có vẻ đẹp
tâm hồn nhưng lại phải sống cuộc đời bất hạnh, khổ đau, gặp nhiều bi kịch -> Khi viết
về họ, các tác giả thường thể hiện tấm lòng nhân đạo của mình.
* Phân tích cụ thể:
1. Hình tượng người phụ nữ Việt Nam là hiện thân của cái đẹp:
a. Vẻ đẹp hình thức:
- Vũ Nương: vẻ đẹp dịu dàng, thuần hậu ( “tư dung tốt đẹp”).
- Thúy Kiều: Kiều đẹp”sắc sảo, mặn mà”. ( dẫn chứng trong bài “Chị em Thúy Kiều ).
b. Vẻ đẹp tài năng, phẩm chất:
- Vũ Nương: tính tình thùy mị nết na, yêu thương và chung thủy với chồng, hiếu thảo
với mẹ chồng, thương con, hết lòng lo cho hạnh phúc gia đình… ( Dẫn chứng )
- Thúy Kiều:
+ Không chỉ đẹp, Kiều còn là người phụ nữ toàn tài. Cầm kỳ, thi, họa-tài nào nàng cũng
giỏi nhưng nổi trội nhất vẫn là tài đàn. Đặc tả cái tài của Kiều cũng là để ngợi ca cái
tâm
đặc biệt của nàng. Bản đàn bạc mệnh mà nàng sáng tác chính là tiếng lòng của trái tim
đa sầu đa cảm.
+ Hiếu thảo với cha mẹ, giàu đức hi sinh, có lòng vị tha, có trái tim đôn hậu, có ý thức
sâu sắc về nhân phẩm của mình… ( Dẫn chứng qua các đoạn trích đã học và đọc thêm).
2. Hình tượng người phụ nữ Việt Nam là hiện thân của những số phận bi thương:
* Qua hai tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương” và “Truyện Kiều”, ta thấy
người phụ nữ trong xã hội xưa là nạn nhân của xã hội phong kiến có nhiều bất công dẫn
đến những đau khổ, thiệt thòi.

thanh y hai lần”.
- Những người phụ nữ như Vũ Nương, Thúy Kiều đều phải tìm đến cái chết để giải nỗi
oan ức, thoát khỏi cuộc đời đầy đau khổ, oan nghiệt.
3. Khái quát, nâng cao:
- Người phụ nữ trong hai tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương” và “Truyện
Kiều” hội tụ những vẻ đẹp đáng quý nhất và cũng là đầy đủ những gì đau khổ, tủi nhục
nhất của con người. Họ là đại diện tiêu biểu của hình ảnh người phụ nữ Việt Nam trong
xã hội cũ.
- Viết về người phụ nữ, các nhà văn,nhà thơ đã đứng trên lập trường nhân sinh để bênh
vực cho họ, đồng thời lên tiếng tố cáo gay gắt với các thể lực đã gây ra nỗi đau khổ cho
họ.
- Liên hệ với cuộc sống của người phụ nữ trong xã hội hiện đại.
III – Kết bài: Nêu cảm nghĩ của bản thân về cuộc sống của người phụ nữ trong xã hội
phong kiến.
Đề bài 2:
" Văn học trung đại nước ta, sau những vấn đề đấu tranh xã hội, còn thường đề
cập đến vấn đề đạo đức gia đình, đặc biệt là luôn đề cao những tấm gương hiếu thảo
đối với cha mẹ.”
Qua một số tác phẩm văn học trung đại mà em đã học và đọc thêm trong chương
trình Ngữ văn lớp 9, hãy làm sáng tỏ nội dung: “Văn học trung đại nước ta luôn đề
cao những tấm gương hiếu thảo đối với cha mẹ”.
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------17

Năm học: 2015-2016


Chuyên đề Bồi dưỡng HSG Ngữ văn 9
GV:
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------


truyền thống tốt đẹp của gia đình. Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha
mẹ. Nghiêm cấm con có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm cha mẹ”. Điều 57 Luật
Hôn nhân và gia đình cũng quy định nghĩa vụ cấp dưỡng của con đối với cha mẹ: “Con
đã thành niên không sống chung với cha mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cha mẹ không
có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình”. Theo pháp luật hiện hành,
con cái bất hiếu, vi phạm nghĩa vụ làm con đối với cha mẹ, tùy tính chất, mức độ của
hành vi cụ thể sẽ bị xử lý vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
Từ đó, học sinh cần làm rõ được trong bài viết của mình: Trong thời đại ngày
nay, vấn đề đạo đức gia đình vẫn vô cùng quan trọng đồng thời lí giải được vai trò, tầm
quan trọng của đạo đức gia đình cũng như tấm lòng hiếu thảo của con người trong gia
đình cũng như ở ngoài xã hội:
- Đạo đức gia đình, đặc biệt là tấm lòng hiếu thảo giúp con người sống tốt hơn,
đẹp hơn, có nhân nghĩa ân tình
- Đạo đức gia đình vẫn là thước đo nhân cách con người
- Nó còn là nấc thang của mỗi người để tiến tới tấm lòng trung hiếu, thể hiện lẽ
sống hết mình vì nước vì dân.
- Không thể có kẻ bất hiếu, sống tồi tệ trong một gia đình mà lại có thể trở thành
công dân tốt, trung với nước hiếu với dân được...
III- Kết bài:
Liên hệ tới hành động của bản thân.
Đề bài 3:

---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------19

Năm học: 2015-2016


Chuyên đề Bồi dưỡng HSG Ngữ văn 9
GV:
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Nam làm mất đi vẻ thuần phong mĩ tục vốn có của mình mà họ còn vẫn giữ được phẩm
chất, vẻ đẹp truyền thống. Điều đặc biệt hơn là họ có cá tính mạnh mẽ hơn, dám đấu
tranh triệt để vì hạnh phúc, vì quyền lợi của chính mình và phấn đấu “Giỏi việc nước,
đảm việc nhà”.
Có ai đó nói rằng: “Người phụ nữ là một nửa thế giới”. Và quả thật, họ đã đi vào
những trang viết chảy suốt trong văn học từ trước đến nay, để rồi không phỉ làm nên một
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------20

Năm học: 2015-2016


Chuyên đề Bồi dưỡng HSG Ngữ văn 9
GV:
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

nửa, mà là trọn vẹn tấm hình trong sâu thẳm tâm hồn thế hệ người đọc hôm nay và cả
mai sau:
Chị em tôi tỏa nắng vàng lịch sử
Nắng cho đời nên cũng nắng cho thơ.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.

Sách giáo khoa Ngữ văn 7, Ngữ văn 9, Ngữ văn 10 Nâng cao.
Truyện Kiều – NXB Giáo dục.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status