Hình tượng thánh mẫu liễu hạnh từ tín ngưỡng thờ mẫu đến văn học trung đại việt nam - Pdf 58

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

======

HOÀNG THỊ THU HẰNG

HÌNH TƢỢNG THÁNH MẪU LIỄU HẠNH
TỪ TÍN NGƢỠNG THỜ MẪU

ĐẾN VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

HÀ NỘI, 2019


TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

======

HOÀNG THỊ THU HẰNG

HÌNH TƢỢNG THÁNH MẪU LIỄU HẠNH
TỪ TÍN NGƢỠNG THỜ MẪU
ĐẾN VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học


Hoàng Thị Thu Hằng


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................ 1
2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................ 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .............................................................. 5
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu............................................................... 5
5. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................ 5
6. Cấu trúc khóa luận...................................................................................... 5
NỘI DUNG .................................................................................................... 7
Chương 1 TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU TỪ CỘI NGUỒN VĂN HÓA
ĐẾN VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM .................................................. 7
1.1. Những vấn đề chung về tín ngưỡng thờ Mẫu và thờ Thánh mẫu Liễu
Hạnh ở Việt Nam ........................................................................................... 7
1.1.1. Nguồn gốc hình thành tín ngưỡng thờ Mẫu .......................................... 7
1.1.2. Tín ngưỡng thờ Mẫu và tục thờ Thánh mẫu Liễu Hạnh trong văn
hóa Việt Nam ................................................................................................. 9
1.1.2.1. Tín ngưỡng thờ Mẫu trong văn hóa Việt Nam ................................... 9
1.1.2.2. Tục thờ Thánh mẫu Liễu Hạnh ........................................................ 14
1.2. Tác giả và tác phẩm viết về Thánh mẫu Liễu Hạnh trong văn học
trung đại Việt Nam ....................................................................................... 17
1.2.1. Đoàn Thị Điểm với Vân Cát thần nữ ................................................. 17
1.2.2. Nguyễn Công Trứ với Liễu Hạnh công chúa diễn âm ......................... 18
1.2.3. Tác giả khuyết danh với Vân Cát thần nữ cổ lục diễn âm ................... 20
1.2.4. Kiều Oánh Mậu với Tiên phả dịch lục ................................................ 20
Tiểu kết chương 1......................................................................................... 21

của con người vào thế giới tâm linh. Tín ngưỡng thờ Mẫu không chỉ hấp dẫn
bởi yếu tố kỳ ảo mà nó còn chứa đựng nhiều giá trị văn hóa to lớn. Với tính
thời sự nóng hổi và sự hấp dẫn đặc biệt, tín ngưỡng thờ Mẫu đã thực sự cuốn
hút nhiều thế hệ các nhà nghiên cứu, độc giả yêu thích văn hóa, trong đó có
chúng tôi.
Văn học được coi là tấm gương phản chiếu văn hóa. Trong kho tàng
văn học Việt Nam, rất nhiều tác phẩm tái hiện cho người đọc nhiều nét độc
đáo, phong phú trong đời sống văn hóa. Chẳng hạn, tục ăn trầu của con người
được phản ánh qua Sự tích trầu cau. Đến Truyện Kiều, tác giả Nguyễn Du đã
cho người đọc thấy được tục tảo mộ trong văn hóa Việt mỗi khi tới tiết Thanh
Minh: “Thanh Minh trong tiết tháng ba/ Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh”.
Sang Vợ chồng A Phủ, Tô Hoài đã dựng lại bức tranh phong tục tập quán đa
sắc màu của người dân vùng núi Tây Bắc. Ta thấy nhiều tục lệ hà khắc vẫn
còn tồn đọng: Tục cho vay nặng lãi, phạt vạ. Và cả những tục lệ cổ hủ, lạc
hậu vốn đã ăn sâu vào tiềm thức của những con người nơi đây: Tục cúng trình
ma, tục cướp vợ. Đôi khi người đọc còn thấy được tục chơi tết, chơi xuân của
bản người Mèo vô cùng rực rỡ và vui tươi được tái hiện trong tác phẩm…
Qua những ví dụ trên, có thể thấy văn học và văn hóa có sự gắn kết rất mật
thiết với nhau. Văn chương hoàn toàn có thể diễn lại câu chuyện về một hay
nhiều nét văn hóa đặc sắc. Văn học trung đại có khá nhiều tác phẩm viết về
Thánh mẫu Liễu Hạnh. Nhiều tác giả đã sưu tầm và san định các huyền thoại,
1


truyền thuyết về hình tượng nhân vật này. Cùng với sự hiểu biết nhất định của
cá nhân về tín ngưỡng thờ Mẫu, chúng tôi nhận thấy hình tượng nhân vật Liễu
Hạnh trong văn hóa và văn học có mối liên hệ mật thiết với nhau. Chính điều
ấy đã thôi thúc chúng tôi tìm đến đề tài.
Hơn nữa, là sinh viên sư phạm, việc tìm hiểu đề tài này giúp chúng tôi
có cơ hội được tiếp cận nhiều phương pháp nghiên cứu văn học khác nhau

ngưỡng thờ Mẫu của người Việt.

Bên cạnh đó, một số nhà nghiên cứu Việt Nam đã cho ra đời những đề
tài về tín ngưỡng thờ Mẫu. Tuy nhiên, mỗi tác giả lại có một cách khai thác
khác nhau.
Năm 1943, Nguyễn Văn Huyên với Sự ra đời của các tín đồ Đạo Nội
tại An Nam khẳng định mối liên hệ giữa tín ngưỡng thờ Mẫu với Đạo Nội.
Sang năm 1944, ông tiếp tục nghiên cứu về Sự phụng thờ các vị thánh bất tử
ở Việt Nam, trong đó có Thánh mẫu Liễu Hạnh. Cũng trong thời gian này,
Đào Thái Hành đã cho ra đời công trình Nữ thần Liễu Hạnh.
Năm 1990, Vũ Ngọc Khánh, Phạm Văn Ty với cuốn Vân Cát thần nữ
đã tập hợp các tư liệu văn bản có liên quan tới việc thờ phụng Mẫu Liễu
Hạnh. Cũng trong năm này, Vũ Ngọc Khánh, Ngô Đức Thịnh với cuốn Tứ bất
tử đã tìm hiểu về Liễu Hạnh, bước đầu đã lý giải được hiện tượng văn hóa tín ngưỡng thờ Mẫu.
Hơn nữa, năm 1990 Hoàng Tuấn Phổ cho ra đời cuốn Bà Chúa Liễu và
năm 1991 Vũ Ngọc Khánh tiếp tục với công trình viết về Công chúa Liễu
Hạnh. Qua hai cuốn sách, các tác giả đều dùng bút pháp văn học để vẽ lại
chân dung của Thánh mẫu Liễu Hạnh, giúp người đọc nhìn nhận cụ thể, toàn
vẹn về nhân vật này đậm nét hơn so với các tác phẩm khác. Tuy nhiên, chất
thiêng trong thần tích về Thánh mẫu lại bị phai nhạt đáng kể.
GS. Ngô Đức Thịnh là một trong những nhà nghiên cứu về tín ngưỡng
thờ Mẫu hàng đầu của Việt Nam. Ông đã cho ra đời hàng loạt cuốn sách viết
về Thánh mẫu Liễu Hạnh. Năm 1992, với cuốn Hát văn, ông đã đưa ra những
nội dung cơ bản xoay quanh tín ngưỡng thờ Mẫu. Năm 2007, cuốn Lên đồng,
hành trình của thần linh và thân phận là một bước tiến dài trong việc tìm hiểu
sự tích hợp các giá trị văn hóa trong tục thờ Mẫu. Và cho tới năm 2009, cuốn
Đạo Mẫu Việt Nam ra đời, đây được coi là công trình nghiên cứu đầy đủ nhất
về tục thờ Mẫu và Thánh mẫu Liễu Hạnh của ông.
Ngoài góc nhìn từ tín ngưỡng, Thánh mẫu Liễu Hạnh còn được các nhà
3

Long - Hà Nội” do Viện Văn học tổ chức. Nhà phê bình văn học TS. Bùi Thị
Thiên Thai với nghiên cứu Đoàn Thị Điểm và “Truyền kỳ tân phả” được nhìn
nhận dưới góc độ nữ quyền, “đặc biệt là góc độ tương tác giữa văn học trung
4


đại và văn hóa dân gian” [16]. Ở đó, nhân vật Thánh mẫu Liễu Hạnh được
xây dựng như một “kẻ phản Nho giáo”. Bên cạnh những đức tính tốt đẹp của
người phụ nữ truyền thống, nhân vật này còn mang những tính cách nổi loạn
khác thường.
Tiếp thu những thành tựu của các tác giả đi trước, những công trình
nghiên cứu trên đã cho chúng tôi nhiều gợi mở quan trọng để thực hiện đề tài
Hình tượng Thánh mẫu Liễu Hạnh từ tín ngưỡng thờ Mẫu đến văn học
trung đại Việt Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích: Hoàn thành nghiên cứu về hình tượng Thánh mẫu Liễu
Hạnh trong việc đối sánh giữa tín ngưỡng thờ Mẫu và văn học trung đại Việt
Nam.
- Nhiệm vụ: Tập hợp các tài liệu dân gian: Thần tích, các bản văn chầu
để tìm hiểu về Thánh mẫu Liễu Hạnh từ góc độ tín ngưỡng. Đồng thời, so
sánh với một số tác phẩm văn học trung đại viết về hình tượng này để thấy
được các phương diện và cách thức mà các tác giả trung đại xây dựng nhân
vật.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Tín ngưỡng thờ Mẫu trong văn hóa Việt Nam và văn học
viết về nhân vật Thánh mẫu Liễu Hạnh. Ở đây, chúng tôi sử dụng cuốn Đạo
Mẫu Việt Nam của GS. Ngô Đức Thịnh (NXB Tôn giáo, 2009) làm tài liệu
nghiên cứu.
- Phạm vi: Hình tượng Thánh mẫu Liễu Hạnh
5. Phƣơng pháp nghiên cứu

Trong thời kỳ nguyên thủy khi mà người phụ nữ đóng vai trò là chủ gia đình,
là người có quyền quyết định mọi vấn đề to lớn trong gia đình, bộ tộc thì họ
cũng góp phần quyết định vào sự tồn tại của xã hội” [8, 12]. Nhìn chung, ta có
thể lý giải nguồn gốc của tín ngưỡng dựa trên những quan niệm trong đời
sống văn hóa.
Việt Nam là một trong số những quốc gia phương Đông gắn liền với nền
văn minh nông nghiệp. Con người có mối quan hệ chặt chẽ với các hiện tượng
thiên nhiên như cây cỏ, hoa lá, đất đai, sông nước,… Chính vì vậy mà con
người luôn coi thiên nhiên là một phần của cuộc sống, thiên nhiên ban cho họ
sự che chở, cho họ của cải nuôi dưỡng sự sống, nhưng cũng chính thiên nhiên
cướp đi sinh mạng của họ. Bởi lẽ đó mà con người vừa yêu quý, tôn trọng
nhưng cũng sợ hãi trước thiên nhiên. Từ đó, tín ngưỡng sùng bái tự nhiên được
hình thành. Người Việt thường quan niệm rằng “một hòn đá lớn, một gốc cây
cổ thụ, một rừng sâu, một vực sông, ngọn núi cao, một vũng nước giữa đồng,
một gốc cây âm u đều là cơ sở của thần linh, thần ở khắp cả, thấm nhuần khắp
cả, tất cả đều là thần” [24, 20]
Ngoài ra, tâm lý tình cảm cũng trở thành nguyên nhân ra đời của tín
ngưỡng. Xét về góc độ triết học, tâm lý tình cảm là một bộ phận của ý thức xã
hội và tôn giáo tín ngưỡng hình thành dựa trên cơ sở đó. Triết học cũng đã
thừa nhận hai chủ nghĩa duy vật và duy tâm luôn tồn tại song song. Con người

7


luôn đặt ra câu hỏi về nguồn gốc cũng như số phận của chính mình hay với
những vấn đề xảy ra trong cuộc sống mà đôi khi khoa học không thể giải
thích nổi. Khi ấy, họ trở nên bế tắc và khi bế tắc, con người thường tìm tới
tâm linh để giải quyết vấn đề tâm lý. Tuy tâm linh đưa ra những nhận định
không có căn cứ nhưng với những lý lẽ mang đậm tính huyền bí và hợp logic
khiến con người bị thuyết phục và từ đó hình thành nên niềm tin vào những

“người thực” nên mẫu không quá xa vời, trừu tượng mà mẫu rất gần gũi với
con người. Phải chăng vì lẽ đó mà người Việt có sự ưu ái, coi Liễu Hạnh là
thần chủ của tín ngưỡng này tức là đại diện của con người đã trở thành vị thần
chủ có quyền năng tối cao nhất trong bộ tam tòa Thánh mẫu (Mẫu Thượng
Thiên, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải Phủ) hay nói khác đi là con người vượt
lên trên tự nhiên như núi rừng, sông nước” [24].
Như vậy, tục thờ Mẫu có từ rất lâu đời, song còn phân tán, rời rạc trong
phạm vi cộng đồng làng xóm. Từ thế kỷ XVI, với sự xuất hiện của Liễu Hạnh
công chúa đã đánh dấu sự hoàn thiện của tín ngưỡng thờ Mẫu, nâng tục thờ Nữ
thần nguyên thủy lên tầm của một tôn giáo sơ khai.
1.1.2. Tín ngưỡng thờ Mẫu và tục thờ Thánh mẫu Liễu Hạnh trong văn
hóa Việt Nam
1.1.2.1. Tín ngưỡng thờ Mẫu trong văn hóa Việt Nam
Về vấn đề tên gọi, một số nhà nghiên cứu sử dụng thuật ngữ “Đạo Mẫu”
thay vì “tín ngưỡng thờ Mẫu”. “Đạo” và “tín ngưỡng” là hai khái niệm rất quen
thuộc, có quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau. Điểm chung giữa đạo và tín
ngưỡng là đều hướng con người có niềm tin vào đạo hay tín ngưỡng đó truyền
bá, dạy con người làm việc thiện, tránh làm điều ác, hướng con người đến
những giá trị chân, thiện, mỹ…
Tuy nhiên, một đạo phải có đủ bốn yếu tố cấu thành, bao gồm: Giáo
chủ, giáo lý, giáo luật và tín đồ, trong khi thờ Mẫu chưa có đầy đủ bốn yếu tố
đó. Ngoài ra, các tín đồ theo đạo chỉ có thể theo một đạo, nhưng có thể được
sinh hoạt nhiều tín ngưỡng khác nhau. Chẳng hạn, một người theo Đạo Phật
không thể theo Đạo Thiên Chúa nhưng họ vẫn có thể theo tín ngưỡng thờ
cúng tổ tiên hoặc theo tín ngưỡng thờ Thành Hoàng. Phần lớn các đền, chùa ở
Việt Nam đều phối cả Phật và Mẫu, và người Việt Nam khi đi lễ chùa thường
quan niệm “tiền Phật hậu Mẫu”, nếu như thờ Mẫu được coi là một đạo thì ắt
người theo Đạo Phật không thể theo Đạo Mẫu và ngược lại. Từ những lập
luận trên, ta có thể khẳng định rằng, tục thờ Mẫu của người Việt mới chỉ dừng
lại ở “tín ngưỡng” chưa đủ điều kiện để coi là một tôn giáo (hay còn gọi là

hiện diện của của Mẫu Tam phủ - Tứ phủ.
Tục thờ Mẫu ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ được coi là hoàn chỉnh, đầy đủ
nhất. Tục thờ Nữ thần ở đây ứng với thờ Tứ Pháp: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp
10


Lôi, Pháp Điện hoặc thờ các Nữ thần như: Thần Lúa, thần Nước, thần Mặt
Trời... Lớp thờ Mẫu thần thường gắn liền với quá trình lịch sử hóa như hiện
tượng thờ Nguyên Phi Ỷ Lan, Mẫu Âu Cơ, mẹ Thánh Gióng, Bà Chúa Kho,…
Lớp thờ Mẫu Tam - Tứ phủ là một hệ thống phát triển cao hơn, dựa trên nền
tảng tục thờ Nữ thần và Mẫu thần.
Theo nghĩa hẹp, tín ngưỡng thờ Mẫu được hiểu là tục thờ Mẫu Tam Tứ phủ. Trong nghiên cứu này, chúng tôi đi sâu vào tìm hiểu tín ngưỡng thờ
Mẫu theo nghĩa hẹp, bởi sự ra đời của Thánh mẫu Liễu Hạnh là cơ sở cho sự
hình thành lớp thờ Mẫu Tam phủ - Tứ phủ.
Trước hết, ta tìm hiểu về hệ thống điện thần trong tín ngưỡng thờ Mẫu.
Mặc dù ở từng địa phương lại có những nét riêng, song hệ thống điện thần vẫn
tuân thủ theo các hàng bậc. Đứng đầu là Phật Bà Quan Âm, kế tiếp là Vua cha
Ngọc Hoàng. Hàng thứ ba thờ tam tòa Thánh mẫu (Mẫu Thượng Thiên, Mẫu
Thượng Ngàn, Mẫu Thoải Phủ). Hàng thứ tư thờ ngũ vị tôn quan (từ quan Đệ
Nhất đến quan Đệ Ngũ. Sau hàng quan là tứ phủ Chầu bà (từ Chầu Đệ Nhất
đến Chầu Mười, riêng Chầu cuối cùng được gọi là Chầu Bé). Kế tiếp thờ thập
vị quan Hoàng (từ Hoàng Cả đến Hoàng Mười). Sau các ông Hoàng là thập nhị
Tiên Cô (từ Cô Cả đến Cô Mười, riêng cô mười một được gọi là Cô Bé, cô
mười hai là Cô Bản Đền). Cuối cùng là thờ tứ phủ Thánh cậu (từ Cậu Cả đến
Cậu Mười, riêng cậu mười một được gọi là Cậu Bé, cậu mười hai là Cậu Bản
Đền). Thờ hạ ban có Ngũ Hổ và Ông Lốt (ông rắn)
Các vị Thánh trong tín ngưỡng thờ Mẫu không chỉ phân thành hàng mà
còn được phân thành các phủ. Khái niệm phủ tương ứng với các miền khác
nhau trong vũ trụ: Thiên phủ (miền trời), Nhạc phủ (miền rừng núi), Thoải
phủ (miền sông nước), Địa phủ (miền đất đai). Đứng đầu các phủ là các

Hơn nữa, tín ngưỡng thờ Mẫu có sự giao thoa với tục thờ Đức Thánh
Trần. Khi đến các đền, điện, phủ ta hay thấy có ban thờ, cung thờ Trần Triều.
Mặc dù đây là lớp tín ngưỡng khác nhưng việc phối thờ đã có từ lâu và trở nên
khá phổ biến. Cùng hướng con người tới đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, tín
ngưỡng thờ Trần Triều tôn vinh những anh hùng có công lao to lớn với đất
nước, họ đều là những nhân vật lịch sử có thật, được thần Thánh hóa mang
màu sắc tâm linh. Bên cạnh đó, hai tín ngưỡng này đều có những nghi lễ
giống nhau liên quan đến con người: Cầu tự, bán khoán, tôn nhang, trừ tà, trị
bệnh… đặc biệt là nghi lễ lên đồng. Khi ngự đồng, các Thánh đều làm một
nhiệm vụ là trừ tà sát quỷ.
Bắt nguồn từ tục thờ Nữ thần và chịu nhiều ảnh hưởng của Đạo giáo,

12


tín ngưỡng thờ Mẫu rất gần gũi với đạo thờ Tiên trong nghi thức thờ cúng.
Hơn nữa, Mẫu Liễu Hạnh vị thần chủ của tín ngưỡng này có nguồn gốc là
một vị tiên. Các nghi lễ cầu tiên, giáng bút cũng có nét tương đồng với Đạo
giáo. Từ xa xưa, người Việt vốn sùng bái phù phép, ma thuật, … họ tin rằng
các pháp thuật có thể trừ tà chữa bệnh. Vì thế, Đạo giáo phù thủy thâm nhập
vào nước ta, hòa quyện vào tín ngưỡng tới mức không còn ranh giới, điều này
được thể hiện qua các phép: Thần phù, trị bệnh trong thờ Mẫu. Không chỉ có
vậy, Tín ngưỡng thờ Mẫu với sự phối thờ với thờ Đức Thánh Trần cũng là
một điểm tương đồng với Đạo giáo. Tương truyền, Trần Hưng Đạo là người
rất giỏi trong việc trừ tà ma, chính vì thế mà ông được nhân dân tôn thờ như
một vị Thánh. Trong buổi lên đồng, người ta thường thỉnh Đức Thánh Trần
về làm phép từ tà sát quỷ đó là: “Xiên lình” (dùng thanh sắt nhọn xuyên từ má
bên này qua má bên kia); “Lên đai thượng” (cầm dải lụa đỏ thắt cổ) hay “lấy
dấu mặn” (dùng con dao hay vật nhọn rạch vào lưỡi người hầu để lấy máu)
sau đó phun ra tờ giấy hoặc rượu… Những hình thức này đều ảnh hưởng từ

đến với Phật, về cõi Niết bàn, Thiên Chúa giáo hướng con người đến lòng bác
ái để sau này được lên Thiên Đường. Nhìn chung, hai tôn giáo này coi cuộc
sống thực tại là khổ ải, mục đích hướng con người tới cuộc sống tốt đẹp ở cõi
tiên. Khác với hai tôn giáo trên, với niềm tin các Thánh mẫu có sự yêu
thương, che chở và bảo vệ, phù hộ cho những đứa con của mình tránh được
những bất trắc, rủi ro trong cuộc sống. Con người gửi gắm cuộc đời, số phận
và sự nghiệp của mình đến các Mẫu để tìm kiếm sự bình yên và tạo lại sự cân
bằng trong tâm lý khi phải đương đầu với những khó khăn. Điều quan trọng,
tín ngưỡng thờ Mẫu hướng con người vào cuộc sống thực tại chứ không phải
vào cuộc sống sau khi chết. Với sự thực tâm, cầu xin, ho dễ được ban phát,
đạt được ước mong ở hiện tại.
Một trong những giá trị nhân văn sâu sắc trong tín ngưỡng thờ Mẫu đó
là sự giải phóng người phụ nữ, đồng thời khẳng định vị trí của họ trong xã
hội. Ngoài ra, những người đến với Mẫu không phân biệt giàu sang, nghèo
hèn, không phân biệt tầng lớp, giai cấp, địa vị trong xã hội. Tất cả mọi người
đến với Mẫu đều bằng cái tâm, mong muốn được ba phước lành, tài lộc và sự
bình an trong tâm hồn.
1.1.2.2. Tục thờ Thánh mẫu Liễu Hạnh
Theo cảm quan huyền thoại, Liễu Hạnh công chúa (Thánh mẫu Liễu
Hạnh) vốn là Đệ Nhị Quỳnh Hoa công chúa trên thiên cung, ba lần giáng sinh
trần thế và được nhân dân suy tôn làm Thánh mẫu. Trong hệ thống điện thần
14


tín ngưỡng thờ Mẫu, Thánh mẫu Liễu Hạnh được đồng nhất với Mẫu Thượng
Thiên, mặc trang phục màu đỏ, ngồi chính giữa, hai bên là Mẫu Thượng Ngàn
(bên phải) và Mẫu Thoải (bên trái). Nơi thờ chính của bà ở Phủ Dầy (Nam
Định), ngoài ra còn có đền Sòng Sơn (Thanh Hóa) là nơi bà hiển thánh; Phủ
Tây Hồ (Hà Nội) là nơi Mẫu gặp gỡ và đàm đạo văn thơ với Phùng Khắc
Khoan cùng cử nhân họ Ngô, tú tài họ Lý. Ngoài những nơi thờ chính, bà còn

kinh thành xây dựng hệ thống phòng thủ. Trong số phu bắt về có những người
cùng quê với Vương Phi ở Nam Định. Biết tin, Vương Phi tìm cách cứu giúp,
sai người báo cho dân phu khi về tới kinh thành chỉ mặc quần áo rách và ăn
cháo cám. Chúa Trịnh hỏi mới biết đó là những dân phu ở Vụ Bản, nhân cơ
hội đó Vương Phi tỏ ra buồn rầu, xót thương. Khi biết họ cùng quê với Vương
Phi, vua liền miễn phu cho họ, đồng thời cấp lương thực, quần áo cho về quê
làm ăn sinh sống. Sau khi nhận ân huệ của chúa Trịnh, Vương Phi nhớ ơn lời
hứa với Thánh Mẫu nên dặn dân làng Phủ Dầy, cứ sau ngày mồng 6 đưa Mẫu
lên chùa thì dân làng đem cuốc, xẻng đến trước Phủ Dầy vứt ngổn ngang
xuống đất, tỏ ý nhờ linh ứng của Thánh nên dân làng không phải chịu cảnh
phu phen nhọc nhằn, rồi xếp hàng thành hai chữ “Cung tạ”. [18, 141]
Từ đó về sau, năm nào cũng có tục kéo chữ nhằm mô phỏng lại cảnh xưa.
Ngày nay, nhân dân đem cờ gậy vứt xuống đất như mô phỏng lại tục vứt
cuốc, xẻng xưa của dân phu trước phủ. Sau đó, nhân dân xếp hàng thành chữ
để bày tỏ lòng biết ơn với Thánh Mẫu, việc xếp chữ là do những người tổ
chức hội làng quy định, nhưng thường là “Mẫu nghi thiên hạ” hay “Thiên hạ
thái bình”…[18, 142]
Nói về tục thờ Thánh mẫu Liễu Hạnh, người ta thường nhắc đến nghi lễ
lên đồng, một hình thức sinh hoạt văn hóa tiêu biểu trong tín ngưỡng thờ
Mẫu. Nghi thức này thường được diễn ra ở phủ, đền hay điện thờ. Không gian
lên đồng trong phủ, đền hay điện nhuốm màu tâm linh, uy nghi, lộng lẫy.
Người ta thường lên đồng ở ban chính giữa (tức ban công đồng), phía dưới
ban đặt một tấm gỗ lớn, hoặc xây một mặt phẳng lớn cao hơn so với mặt đất
khoảng 20 đến 30cm, với diện tích chỉ đủ bằng một manh chiếu được gọi là
sập công đồng. Trên sập đồng, ta thường thấy một chiếc bàn có gắn gương
được chạm khắc rất đẹp mắt, đó là bàn loan. Người lên đồng sẽ ngồi trước
bàn loan, người phụ đồng lên khăn sẽ ngồi bên phải, phụ đồng lên hương sẽ
ngồi bên trái.
Âm nhạc là thứ không thể thiếu trong nghi thức lên đồng. Chầu văn,
còn gọi là hát văn là loại hình nghệ thuật không thể thiếu cho một buổi lên

giải kinh luân, hiếu hạnh cho các con nghe. Đoàn Thị Điểm ảnh hưởng lớn từ
người anh trai là Đoàn Doãn Luân, chí tiến thủ của anh trai luôn là nguồn
khích lệ cho Đoàn Thị Điểm vươn lên. Ngay từ nhỏ, bà đã được cha và anh
dạy cho học cho nên sớm bộc lộ bản tính thông minh.
Đoàn Thị Điểm là người có tài trí và nhan sắc hơn người, nổi tiếng từ
17


hồi trẻ. Năm 16 tuổi, quan thượng thư Lê Anh Tuấn muốn xin làm con nuôi,
thấy bà là người có tài sắc nên đưa bà về Thăng Long để nuôi dạy, sau này
tiến cử vào cung Chúa Trịnh, nhưng bà nhất định từ chối.
Năm 1735, anh trai qua đời, bà rời đến Sài Trang. Thời gian này Đoàn
Thị Điểm kiêm luôn nghề bốc thuốc, một mình gồng gánh vực lại gia đình
đang trên đà suy sụp. Mãi sau này, năm 37 tuổi bà kết duyên với học sĩ
Nguyễn Kiều. Cưới nhau được một tháng, Nguyễn Kiều phải đi sứ ba năm.
Trong khoảng thời gian đó, bà đã dịch Chinh phụ ngâm bày tỏ nỗi lòng, sự
cảm thông với những người phụ nữ có chồng đi chinh chiến. Năm 1748, Đoàn
Thị Điểm theo chồng vào Nghệ An, tuy nhiên trên đường đi bà đã nhuốm
bệnh và qua đời.
Về sự nghiệp sáng tác, Đoàn Thị Điểm viết nhiều nhưng thất lạc cũng
nhiều, hậu thế chỉ còn biết đến Chinh phụ ngâm - bản diễn Nôm tác phẩm
Chinh phụ ngâm khúc bằng chữ Hán của Đặng Trần Côn. Bản dịch gồm 408
câu được viết theo thể song thất lục bát diễn tả nỗi nhớ nhung khắc khoải của
người phụ nữ có chồng đi chinh chiến. Đây có lẽ cũng là tâm trạng của bà khi
ông Nguyễn Kiều đi sứ Trung Quốc. Tuy là bản dịch nhưng nó đem lại giá trị
nội dung và thuật sâu sắc, trở thành một trong những tác phẩm ưu tú nhất của
nền thi văn trung đại Việt Nam.
Người ta không chỉ biết đến Đoàn Thị Điểm qua Chinh phụ ngâm mà
còn biết đến bà là tác giả của Truyền kỳ tân phả. Tập truyện này là tập hợp
những câu chuyện kỳ lạ được lưu truyền trong dân gian được bà san định lại.

của ông hầu hết được viết bằng chữ Nôm, thể loại ưa thích của ông là hát nói.
Hát nói đã khá phổ biến từ các thế kỷ trước, nhất là cuối thế kỷ XVIII, song
Nguyễn Công Trứ là người đầu tiên có công đem đến cho thể loại này một nội
dung phù hợp với chức năng và cấu trúc của nó. Các tác phẩm của ông chủ
yếu nói về “cái ngông” và chí làm trai. Một số tác phẩm tiêu biểu viết về đề
tài này: Bài ca ngất ngưởng, Bỏ vợ lẽ cảm tác, Bỡn cô đào già, Bỡn tình
nhân, Chí làm trai, Chí nam nhi, Đi thi tự vịnh, Đường công danh, Nợ tang
bồng,…
Tác phẩm Liễu Hạnh công chúa diễn âm có phải của Nguyễn Công Trứ
không, hiện vẫn đang là một nghi vấn. Tuy nhiên, theo PSG. Ngô Đức Thịnh:
“Tại Thư viện Khoa học xã hội, có một tập sách Hán Nôm, đề là Đại Nam
quốc âm ca khúc, ký hiệu AB 146 và ghi rõ Hoàng triều Thượng thư Nguyễn
Công Trứ soạn. Sách chia làm nhiều tập, gồm 230 trang, chép nhiều bài ca

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status