Thơ tứ tuyệt trong truyền thống văn hóc phương đông - Pdf 10

Thơ tứ tuyệt trong truyền thống văn hóc phương Đông
(Bài viết của PGS.TS Lê Lưu Oanh Trường ĐHSP Hà Nội 1)
Là một thể thơ lâu đời ở Trung Quốc, thâm nhập và ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống văn học Việt
Nam, thơ tứ tuyệt là một thể loại kết tinh được khá nhiều nét độc đáo của những giá trị tinh thần văn hoá
phương Đông. Chính điều đó, dường như đã góp phần tạo nên những sức mạnh đặc biệt của tứ tuyệt.
1- Mối quan hệ vi mô – vĩ mô
Tứ tuyệt là một chỉnh thể vi mô toàn vẹn. Trước hết, nói về con số 4. Chu Dịch và những con số thần bí
của nó có thể là một cơ sở lý giải hình thức thơ tứ tuyệt. Số 4 trong quan niệm của nhân loại (không chỉ
phương Đông) là con số hoàn thiện nhất, làm nổi bật vũ trụ trong tổng thể của nó: con số chỉ 4 mùa, bốn
phương, bốn biển … Chỉ riêng số 4 và bội số của nó: 4×2=8 câu, hoặc 4×7=28 chữ, 4×5=20 chữ, đã tạo
nên một cấu trúc cân đối, toàn vẹn. Thậm chí, trong truyền thống thơ ca Trung Quốc, người ta so sánh
một cách thích thú 20 chữ của bài thơ tứ tuyệt ngũ ngôn với 20 “ông hiền”. Nhân cách mỗi ông hiền và
mối liên hệ lẫn nhau của họ biến bài thơ thành một hành vi lễ nghi mà ở đó những điệu bộ và biểu tượng
gợi lên những nghĩa luôn luôn được đổi mới [5]. Quy luật đối lập âm dương, đảm bảo cân bằng âm dương
qua việc phối hợp các thanh bằng-trắc, các nhịp chẵn lẻ (nhịp 2/4, 4/3 đối với người Trung Quốc là nhịp
cơ bản của vũ trụ), tạo thành một cấu trúc có quy luật với những quan hệ nội tại chặt chẽ, làm một bài tứ
tuyệt dù rất nhỏ nhưng đảm bảo là một cấu trúc hình thức hoàn chỉnh cân xứng, nhịp nhàng, chặt chẽ, khó
phá vỡ.
Từ 20 đến 28 chữ gói gọn trong bốn câu thơ, đó là một kết cấu nghệ thuật trang nhã, xinh xắn, cân đối. Từ
nhan đề cho đến mỗi câu thơ đều có khả năng đảm nhận những chức năng nghệ thuật độc lập.
Đề bài nhiều khi là biểu tượng, thần khí của bài thơ, là yếu tố quan trọng để giải mã toàn bộ bài và phát
triển tứ thơ : Tuyệt cú, Ngôn hoài, Thiên trường vãn vọng, Vãn cảnh, Mộ, Cảnh khuya…
Câu kết thường giữ vị trí nâng cao vấn đề tạo khả năng đột ngột, bất ngờ về chuyển ý, đưa bài thơ lên một
tầm vóc mới. Tầm không gian mở ra vô tận, vô biên: Vời trông chỉ thấy dòng sông ngang trời (Lý
Bạch), Một tiếng kêu vang lạnh cả trời (Không Lộ thiền sư). Thời gian hướng về vô hạn, vĩnh cửu: Người
xưa (Kinh Kha) đã khuất rồi, Nước sông ngày nay còn lạnh buốt (Lạc Tân Vương); Thương một đời đâu
phải tạm thương (Chế Lan Viên). Một tư thế của chủ thể trữ tình: Hai tay gây dựng một sơn hà (Hồ Chí
Minh); Bỗng nghe vần thắng vút lên cao (Hồ Chí Minh). Một tâm sự bất ngờ: Uổng theo vầng nguyệt đợi
quân vương (Vương Xương Linh), Cảnh xuân thực ra dành cho ai? (Lý Thương Ẩn), Chưa ngủ vì lo nỗi
nước nhà (Hồ Chí Minh). Một triết lý đúc kết: Xưa nay chinh chiến mấy ai trở về(Vương Hàn).
Thậm chí một chữ trong bài cũng có nhiệm vụ tạo không khí, chứa sức lan toả cao độ của ý nghĩa, được

trình đời sống.
Với bốn câu thơ, tứ tuyệt không thể bao quát một phạm vi hiện thực rộng lớn như các thể thơ trữ tình có
quy mô lớn khác. Tứ tuyệt hướng tới những thời điểm đặc biệt của hiện thực và tâm trạng. Đó là phút
giây sững sờ trước màu hoa đào tươi thắm gợi nhớ một bóng hình quá khứ (Thôi Hộ), là phút hối hận khi
sắc liễu xanh đánh thức những khát khao tuổi trẻ (Vương Xương Linh). Hiện thực đã được tỉnh lược tối
đa, các chi tiết mang tính chọn lọc và khái quát cao. Tứ tuyệt có khả năng gói gọn được cái cốt lõi, cái
tinh tuý nhất của đời sống trong một hình thức nhỏ nhất là như vậy.
Khi cả vũ trụ dồn chứa trong một cấu trúc dồn nén, đòi hỏi cấu trúc đó phải có khả năng tạo nên điểm
bùng nổ, sức thăng hoa, gợi mở và những đợt dư ba về ý nghĩa và cảm xúc. Vì lẽ đó, tứ tuyệt là một chỉnh
thể không hề khép kín. Chi tiết đời sống trong tứ tuyệt chỉ là những nét chấm phá nhưng đầy sức gợi, sức
thuyết phục và lan toả. Sức quyến rũ của bốn câu thơ ngắn gọn là ở độ mờ ẩn sau từ ngữ với nguyên tắc
“ý tại ngôn ngoại” (ý ở ngoài lời), “thính hồ vô thanh”(nghe ở chỗ không có tiếng), “huyền ngoại chi
âm”(âm thanh ngoài dây đàn), một nguyên tắc phù hợp với mô hình tư duy nghệ thuật phương Đông. Đó
là tác phẩm nghệ thuật không bao giờ tìm đến cái trọn vẹn, hoàn chỉnh, tối đa mà luôn để ngỏ trong cách
miêu tả, mặc cho trí tưởng tượng của người thưởng thức tung hoành. Cũng như tranh thuỷ mặc thường
phác hoạ những hiện tượng thiên nhiên không hoàn chỉnh, mờ ảo với những nét lộ, nét khuất, nét dở dang
là để gợi ẩn ý theo bút pháp “vẽ mây nẩy trăng”. Thơ Đường có miêu tả hoa nở hoa tàn cũng là để cảm
nhận dòng thời gian chảy trôi vĩnh hằng, có miêu tả tiếng chuông chùa xa, mưa rơi, sáo mục đồng là để
cảm nhận cái vang vọng nhiều hơn miêu tả chính nó. Vì luôn mở ra, không khép kín nên thơ ca phương
Đông mãi mãi là một thế giới huyền bí, đầy ý vị, khơi gợi và hấp dẫn vô cùng, bởi đó là hình ảnh của
chân lý cuộc đời: luôn vận động, không có điểm dừng, không kết thúc. Kết cấu của tứ tuyệt do đó là một
kết cấu mở.
Mọi cung bậc tình cảm, mọi rung động sâu xa khó được miêu tả kỹ càng trong tứ tuyệt. Chúng thường
được thăng hoa từ những khoảng trống, những nốt lặng vô hình, giữa những từ ngữ, những dư ba ý nghĩa,
những ám ảnh xoay vòng, qua kết cấu và miêu tả, qua các nhãn tự. Chữ hồng cuối bài thơ Chiều tối của
Hồ Chí Minh không chỉ giúp xua tan nỗi buồn thăm thẳm của thân phận tù đầy mà còn kín đáo bộc lộ ước
mơ về một mái ấm gia đình của người chiến sĩ cách mạng. Tứ tuyệt có thể tả một mà gợi mười nhờ sự
dồn nén sức biểu cảm trong những chi tiết thực chắt lọc và tính đan chéo, trùng điệp của các quan hệ.
Tương quan giữa thuyền – bến, sáng – chiều, ở lại – ra đi, động – tĩnh, thời gian – không gian … đã tạo
nên nỗi bàng hoàng hụt hẫng trong tâm trạng con người trước cảnh biệt ly (Lòng anh làm bến thu – Chế

rồi Tràng giang của Huy Cận. Không có thể loại văn học nào chứa đựng nhiều cặp phạm trù đối lập mang
tính triết lý với tần số cao trong một khuôn hình nhỏ như tứ tuyệt.
Trong các cấu trúc ngữ pháp, tứ tuyệt thường lược bớt các hư từ và khi lược bỏ cả chủ thể phát ngôn thì
lời thơ đã đưa cảm giác cá nhân thành chân lý: Thương nữ bất tri vong quốc hận (Đỗ Mục).
Ngoài ra, người nghệ sĩ phương Đông còn xây dựng được cách cảm thụ vô thức về một thế giới có ý thức.
Đó là cách cảm nhận thế giới bằng tư duy trực giác với những phán đoán cảm tính trực tiếp mà không thể
giải thích được bằng lý lẽ và logic của ý thức (Bác sống như trời đất của ta – Tố Hữu; Hoa cúc vàng như
nỗi nhớ dây dưa – Tế Hanh). Bài thơ hay thường là kết quả của quá trình trực giác, quá trình đạt đến
“cảnh giới ngưng thần”. Khi tâm hồn giao hoà tuyệt đối với cảnh giới cũng là lúc giới hạn của con người
và cảnh vật bị xoá nhoà. Sự sống con người và tạo vật hoà cùng một nhịp điệu, một dòng chảy. Lúc ấy
cảm xúc cá nhân hoà vào cảnh vật một cách vô thức:
Bỗng nhiên trời đất nhớ người yêu/Cây vắng: chim bay, nắng: vắng chiều/Nước chảy lơ thơ, bờ líu
ríu/Mây chừng ấy đó, gió bao nhiêu (Tương tư – Xuân Diệu)
Khi tỉnh lược hầu hết các đại từ, giới từ, các miêu tả khách quan trùng với việc miêu tả thế giới riêng tư.
ấy là lúc xoá bỏ khoảng cách chủ thể và khách thể, đưa con người giao cảm trực tiếp với tạo hoá. Trong
bài thơ trên, ai nhớ người yêu? Tác giả hay trời đất? Và có phải trời đất cũng lẻ loi như con người trong
nỗi tương tư của chính mình?
Cảm nhận thế giới bằng tư duy tổng hợp và trực giác, tứ tuyệt cố nắm bắt cái thần lý, diệu lý, cái cốt lõi
sâu thẳm của cảnh vật và lòng người mà tư duy phương Đông thường vươn tới.
3- Xu hướng tĩnh hoá
Do quan niệm thế giới là tuần hoàn, đối xứng, hài hoà, dù trải qua bao thăng trầm biến đổi với những vận
động liên hồi thì trung tâm của thế giới vẫn là tĩnh như “trục bánh xe không quay, như mắt bão bao giờ
cũng lặng”, nên thiên về tính tĩnh là một đặc trưng nổi bật của văn hoá phương Đông. Với hình thức cô
đọng, như những tuyên ngôn, tứ tuyệt cũng có xu hướng đi dần về sự tĩnh hoá trong không gian, thời
gian, nhịp điệu tâm hồn để tiến gần đến tính vĩnh cửu của thế giới.
Hơn nữa, về cấu trúc hình thức ngữ âm của tứ tuyệt, chính sự cân bằng âm dương trong các câu về thanh
điệu cũng góp phần diễn tả trạng thái tĩnh của thế giới. Vần của thơ luật (bát cú và tứ tuyệt) chủ yếu là
vần bằng.Với âm cơ bản là âm bằng, bài thơ thích hợp với việc thể hiện trạng thái tĩnh của thế giới. Theo
Phan Ngọc, trạng thái thế giới được bộc lộ trong bát cú Đường luật là diễn tả sự bất biến của thế giới là
trạng thái tĩnh [Thơ là gì?, 4]. Tứ tuyệt cũng không ngoài cái nhìn thế giới trong trạng thái đó.

rộng trong cảm giác yên tĩnh sâu xa (Điểu minh giản – Vương Duy, Phong Kiều dạ bạc – Trương
Kế, Vọng nguyệt – Hồ Chí Minh).
Giấc mộng, đêm vắng là cõi không gian tâm linh đi về. Vì thế, không phải ngẫu nhiên mà hồn người
trong đêm, khi phần tâm linh trỗi dậy nhiều nhất thường đối diện với vầng trăng. Một vầng trăng với ánh
sáng vô biên, huyền bí, hoà đồng với vũ trụ. Theo mỹ học phương Đông, mặt trăng biểu hiện cái nguyên
lý âm của vũ trụ, tượng trưng cho cái tĩnh, là biểu tượng ánh sáng của tâm linh. Do đó, dùng vầng trăng
để khám phá sức sống của cõi mênh mông sâu thẳm trong lòng người là cách thức quen thuộc thường gặp
không chỉ ở các loại thơ khác mà cũng có rất nhiều ở tứ tuyệt. Trong không gian tĩnh lặng ấy thường xuất
hiện những âm thanh (tiếng chuông, tiếng mưa, tiếng gió, tiếng mõ cầm canh, tiếng côn trùng, tiếng suối
…) như là những nốt nhấn, vang lên, xoáy sâu vào cõi sâu kín của hồn người với những tâm sự chìm
lắng… Dù không phải lúc nào cũng biết nội dung của những tâm sự ấy bởi nét lớn của thơ phương Đông
là kiểu tỏ lòng qua cảnh vật, song ta bắt gặp gián tiếp ở đây miền sâu ẩn của lòng người (Ngọc giai oán –
Lý Bạch, Tự quân chi xuất hĩ – Trương Cửu Linh, Không ngủ được – Hồ Chí Minh).
Tâm linh, tinh thần là một thế giới có cấu trúc phức tạp, nhiều tầng bậc, nhiều chiều, nhiều biểu hiện bí ẩn
với những dấu hiệu mong manh mơ hồ khó nắm bắt, nhưng khi tứ tuyệt có ưu thế trong việc nắm bắt các
khoảnh khắc đan cài giữa nhiều trạng thái tinh thần trong một không gian tĩnh lặng ít sự kiện, bộc lộ phần
tiềm ẩn rất sâu trong tâm thức con người, chính là lúc tứ tuyệt có khả năng thể hiện chiều sâu tâm linh của
con người khá hữu hiệu.
5- Tính biểu trưng cao và tính cân xứng nhịp nhàng
Người Trung Quốc thường hướng tới việc tạo ra những hình ảnh tượng trưng một cách hệ thống. Chúng
dệt nên một màng lưới huyền thoại rộng rãi cho phép tinh thần con người tự do liên kết với thế giới khách
quan. Thơ ca Trung Quốc và Việt Nam đã sáng tạo và tích luỹ được một hệ thống biểu trưng phong phú:
mây trắng (tính hư ảo của mọi vận mệnh trên trần thế), sông (không gian, thời gian, cái vĩnh hằng), cánh
hồng (chí lớn người anh hùng), đá vàng (sự bền vững)…
Vì không thể là đa ngôn, tứ tuyệt có một hệ thống hình ảnh vừa dày đặc về mật độ, vừa phong phú về ý
nghĩa biểu trưng, làm cho bài thơ trở nên hàm súc và giàu sức gợi. Một cánh buồm, một dặm liễu gợi
cảnh ly biệt. Một con thuyền nhỏ trở thành biểu tượng cho số phận lênh đênh, trôi dạt. Trong từ ngữ, xuất
hiện nhiều công thức ước lệ bộc lộ xu hướng khái quát hoá: hoa đào năm ngoái, chim bay mất, đám mây
cô đơn, hoa ngày xưa, hoa tàn hoa nở, đài cao, tiếng sáo, nước chảy trôi … Theo Bút pháp thơ ca Trung
Quốc, những ẩn dụ đầy ước lệ này không biến thành sáo mòn, khô cứng vì tuân theo một tính tất yếu bên

5. Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, Về thi pháp thơ Đường, Nxb Đà Nẵng, 1997


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status