BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
PHÍ THỊ THU LAN
NHỮNG ĐÓNG GÓP
CỦA THƠ CA TÙNG THIỆN VƯƠNG
TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
PHÍ THỊ THU LAN
NHỮNG ĐÓNG GÓP
CỦA THƠ CA TÙNG THIỆN VƯƠNG
TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số:
60 22 34
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ 2
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................. 3
MỤC LỤC .................................................................................................................... 4
PHẦN MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1.Lí do chọn đề tài ....................................................................................................................1
2.Lịch sử vấn đề .......................................................................................................................2
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .........................................................................................4
4.Phương pháp nghiên cứu .......................................................................................................4
5.Kết cấu luận văn ....................................................................................................................4
CHƯƠNG 1: TÙNG THIỆN VƯƠNG – THỜI ĐẠI, CUỘC ĐỜI, SỰ NGHIỆP 6
1.1 Thời đại ..............................................................................................................................6
1.1.1 Chính trị ......................................................................................................................6
1.1.2 Kinh tế .........................................................................................................................8
1.1.3 Xã hội ..........................................................................................................................9
1.2 Cuộc đời ...........................................................................................................................10
1.3 Sự nghiệp ..........................................................................................................................22
CHƯƠNG 2: NHỮNG ĐÓNG GÓP VỀ NỘI DUNG CỦA THƠ CA TÙNG
THIỆN VƯƠNG ...................................................................................... 29
2.1 Bức tranh hiện thực đương thời .......................................................................................29
2.1.1 Tình cảnh khó khăn của đất nước .............................................................................29
2.1.2 Cuộc sống lầm than, bất hạnh của nhân dân ...........................................................33
2.2 Bức tranh thiên nhiên, cuộc sống .....................................................................................45
2.2.1 Thiên nhiên hữu tình .................................................................................................45
2.2.2 Cuộc sống thanh nhàn, bình dị .................................................................................53
2.3 Bức chân dung con người cá nhân nhà thơ ......................................................................61
2.3.1 Tình cảm với người thân, bạn bè ..............................................................................61
Do chữ Hán là ngoại lai nên sáng tác bằng chữ Hán có phần xa lạ so với quảng
đại quần chúng. Tùng Thiện Vương là một nhà thơ chữ Hán trong hoàng tộc nhà
Nguyễn. Ngoài lý do sử dụng chữ Hán mà tác phẩm của ông ít phổ biến còn do vấn
đề lịch sử của triều đại này. Và một nguyên nhân nữa cũng góp phần chi phối việc
nghiên cứu thơ chữ Hán Tùng Thiện Vương, ấy là, trước thời đổi mới, việc nhìn nhận
văn thơ hoàng tộc đã không tránh khỏi ít nhiều xu hướng tả khuynh trong việc nghiên
cứu, đánh giá.
Với thời đổi mới, phương hướng nghiên cứu được thay đổi, trước hết là đổi
mới quan điểm đánh giá tác giả, tác phẩm. Người nghệ sĩ tuy chịu sự ràng buộc của
hoàn cảnh xuất thân song họ vẫn là những cá tính sáng tạo. Tuy xuất thân hoàng tộc,
nhưng sáng tác của Tùng Thiện Vương có nhiều tiến bộ, mang tính nhân văn sâu sắc
và nghệ thuật cũng đạt đến mức điêu luyện. Ông có một sự nghiệp sáng tác rất quy
mô, song cho đến nay, giá trị của các sáng tác này chưa được ghi nhận và đánh giá
đích đáng.
Qua tìm hiểu, khảo sát, người viết đã được tiếp xúc với thơ ca Tùng Thiện
Vương. Người viết nhận thấy ở đây một thi tài, một tấm lòng rất mực đáng quý. Tuy
thuộc dòng dõi hoàng tộc nhưng thơ văn của ông có nội dung tiến bộ sâu sắc, đặc biệt
ở tư tưởng yêu nước, thương dân.
Với những lí do trên, người viết chọn đề tài: Những đóng góp của thơ ca Tùng
Thiện Vương trong văn học trung đại Việt Nam làm luận văn của mình. Người viết
mong muốn giới thiệu một thi tài không thể không nhắc đến của văn học Việt Nam
thế kỉ XIX, ghi nhận những đóng góp về nội dung và nghệ thuật thơ ca của ông. Qua
những việc làm đó, người viết hi vọng góp phần khẳng định vị trí của Tùng Thiện
Vương trong văn học trung đại nói riêng và văn học Việt Nam nói chung.
2.Lịch sử vấn đề
Một số nhà nghiên cứu văn học đã bắt đầu quan tâm đến Tùng Thiện Vương từ
sớm. Nhưng do hoàn cảnh lịch sử, thời đại và ngôn ngữ, Thương Sơn thi tập của
“Đáng kể hơn là về nội dung. Một mặt ông đề cao những người có sự nghiệp lớn, ca
ngợi những tráng sĩ lập công, mặt khác lại than thở chưa làm được gì ích nước, lợi
dân, có tâm sự không ai biết, từ đó tỏ ra u hoài, buồn chán, muốn sống thanh cao,
thậm chí có tư tưởng thoát ly không tính đến việc đời. Ông rất giàu tình cảm đối với
người thân, bạn bè, tình cảm mở rộng đến cả cây cỏ, loài chim, loài vật”.
Năm 2000, tác giả Ngô Thời Đôn trong luận án tiến sĩ Giá trị nhân văn trong
Thương Sơn thi tập của Miên Thẩm nhận xét: “Mặc dầu đã sáng tác bằng ngôn ngữ
và thể thơ ngoại lai nhưng Thương Sơn thi tập của Miên Thẩm đã đi theo hai
khuynh hướng cảm hứng chủ đạo trong sự phát triển của nội dung văn học trung đại
Việt Nam: cảm hứng yêu nước và cảm hứng nhân văn. Khuynh hướng cảm hứng
nhân văn là một giá trị độc đáo cần được khẳng định khi đánh giá thơ chữ Hán của
Miên Thẩm” và “Nội dung Thương Sơn thi tập nói chung và giá trị nhân văn trong
tập thơ này nói riêng vẫn góp phần tác động đến lương tri lịch sử, đến những tâm
hồn yêu nước thương dân”.
Các nhà nghiên cứu đều khẳng định tên tuổi và giá trị thơ ca của Tùng Thiện
Vương nhưng mới chỉ trên cơ sở ban đầu, khái quát. Và cho đến nay, sáng tác của
ông chưa được dịch thuật, khảo luận thấu đáo cả về nội dung và nghệ thuật.
Thực hiện đề tài này, người viết kế thừa các công trình nghiên cứu đã có và từ
đó phân tích sâu thêm, trình bày một cách hệ thống những đóng góp của thơ ca Tùng
Thiện Vương trong văn học trung đại Việt Nam về hai mặt nội dung và nghệ thuật,
khẳng định vị trí của nhà thơ hoàng tộc tiến bộ này trên văn đàn nước nhà.
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu là 316 bài thơ chữ Hán của Tùng Thiện Vương được tuyển
chọn và giới thiệu trong các tài liệu tham khảo dưới đây:
-
Nguyễn Phúc Ưng Trình và Nguyễn Phúc Bửu Dưỡng, Tùng Thiện Vương,
được cá tính sáng tạo, đóng góp của thơ ông đối với văn học trung đại Việt Nam.
Phương pháp so sánh: Sau khi đã tiến hành phân tích giá trị nội dung và nghệ
thuật trong Thương Sơn thi tập, luận văn so sánh đối chiếu giữa các kết quả để đi đến
những nhận định khái quát.
5.Kết cấu luận văn
Ngoài Phần mở đầu và Phần kết luận, Phần nội dung gồm 3 chương lớn:
Chương 1: Tùng Thiện Vương – thời đại, cuộc đời, sự nghiệp
1.1. Thời đại
1.1.1. Tình hình chính trị
1.1.2. Tình hình kinh tế
1.1.3. Tình hình xã hội
1.2. Cuộc đời
1.2.1. Thời thơ ấu: dùi mài kinh sử…
1.2.2. Tuổi trưởng thành
1.2.3. Những năm tháng gian khổ cuối đời…
1.3. Sự nghiệp
1.3.1. Tình hình văn học thế kỷ XIX
1.3.2. Sự nghiệp văn chương của Tùng Thiện Vương
Chương 2: Những đóng góp về nội dung của thơ ca Tùng Thiện Vương
2.1. Bức tranh hiện thực đương thời
2.1.1. Tình cảnh khó khăn của đất nước
2.1.2. Cuộc sống lầm than của nhân dân
2.2. Bức tranh thiên nhiên, cuộc sống
2.2.1. Thiên nhiên hữu tình
2.2.2. Cuộc sống thanh nhàn, bình dị
2.3. Bức chân dung con người cá nhân nhà thơ
2.3.1. Tình cảm với người thân, bạn bè
triều Minh Mạng đến triều Tự Đức. Hơn năm mươi năm sống trên cõi đời, Tùng
Thiện Vương đã chứng kiến biết bao thăng trầm của lịch sử, của thế sự; chứng kiến
hai buổi giao thời lịch sử quan trọng: buổi giao thời Lê mạt – Nguyễn sơ (sau năm
1802) và buổi giao thời Việt – Pháp (sau năm 1862). Trong hai buổi giao thời ấy,
buổi giao thời trước, tuy có sự thay vua đổi chúa nhưng chế độ quân chủ vẫn không
thay đổi; đến buổi giao thời sau thì đế quyền ngày càng bị thu hẹp, Nho học bị phá
sản, giai cấp thống trị là nho sĩ bị lụi tàn, chủ quyền quốc gia dần dần rơi vào tay
ngoại bang và sau cùng là mất hẳn vào tay thực dân Pháp.
Tình hình chính trị thời kì Lê mạt – Nguyễn sơ rất rối ren. Các cuộc chiến
tranh giữa các tập đoàn phong kiến diễn ra liên tiếp. Trong tình hình chính trị ấy, trên
đất nước ta từ Bắc chí Nam, xã hội rối ren, lòng dân hoang mang. “Sau khi Tây Sơn
dứt họ Trịnh, bọn cựu thần nhà Lê và các sĩ phu ngoài Bắc kẻ thì ra phò tân triều,
người thì đi ẩn lánh các nơi; trong Nam cũng có nhiều người không ra làm quan với
nhà Tây Sơn. Ngay sau khi vua Gia Long đã thống nhất thiên hạ mà ngoài Bắc cũng
còn nhiều người tưởng nhớ nhà Lê không chịu ra thờ triều Nguyễn hoặc miễn cưỡng
phải ra làm quan”[11,327]. Sở dĩ có tình trạng đó là vì lòng dân Bắc Hà vẫn còn
hướng vọng nhà Lê, một triều đại đã trị vì đất nước tròn 360 năm (1428 – 1788) và đã
đưa đất nước phát triển rực rỡ một thời nên đã để lại những ấn tượng, những tình cảm
khó lòng phai mờ một sớm một chiều.
Tuy lòng dân vẫn còn hướng vọng triều Lê, tình hình chính trị trong những
năm triều đại Gia Long vẫn tương đối yên ổn. Nhưng sang các triều đại sau, từ Minh
Mạng, Thiệu Trị đến Tự Đức thì tình hình không còn yên ổn như trước nữa bởi loạn
trong giặc ngoài.
Ở trong nước, có nhiều cuộc khởi nghĩa nổi dậy chống triều đình. Triều Minh
Mạng, ở Bắc kì có cuộc nổi dậy của Phan Bá Vành (Nam Định – 1826), của Trọng
Liên (Sơn Tây – 1826), của Lê Duy Lương (Ninh Bình – 1833); ở trong Nam có cuộc
nổi dậy của Lê Văn Khôi (Gia Định – 1833). Sang triều Thiệu Trị có cuộc nổi dậy
của Nguyễn Văn Nhờn (dư đảng của Nông Văn Vân) ở Sơn Tây. Đến triều Tự Đức,
màng dẫn đến mất mùa. Người nông dân đã khổ lại càng thêm lao đao. Chỉ tính triều
đại Tự Đức, người ta đã ghi nhận những vụ đói kém và mất mùa do thiên tai gây nên
như sau:
- Năm 1848: dân Hà Tĩnh khốn đốn vì giá gạo cao
- Năm 1852: đại hạn tại Thừa Thiên
- Năm 1856, 1857, 1858: bão lụt khắp Bắc kì
- Năm 1859: dân Quảng Nam bị nạn đói
- Năm 1860: dân Quảng Bình, Quảng Trị, Bình Định bị nạn đói
- Năm 1863: mất mùa toàn quốc
- Năm 1864: dân Nghệ An, Quảng Bình, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi bị
nạn đói
- Năm 1865: đại hạn tại Bắc kì
Ngoài thiên tai, người dân còn bị bệnh dịch hoành hành mà lớn nhất là nạn
dịch năm 1820 lan tràn từ Hà Tiên đến Bắc thành, giết chết 206.835 người và nạn
dịch năm 1826 ở Gia Định giết chết 18.000 người.
Bên cạnh nền nông nghiệp lạc hậu, luôn bị thiên tai đe dọa khiến dân tình khốn
khổ, nền công thương nghiệp của nước ta cũng chẳng có gì đáng kể. Về công nghiệp,
chỉ có tiểu thủ công nghiệp mang tính chất gia đình, cha truyền con nối, phụ họa cùng
nông nghiệp. Về thương nghiệp, chỉ có buôn bán nhỏ ở trong nước; ngoại thương
không những không được mở rộng mà còn bị các vua nhà Nguyễn theo đuổi chính
sách bế quan tỏa cảng, cấm người nước ngoài vào ra buôn bán mặc dù nước ta đã có
hai trung tâm thương mại lớn là Hội An và Phố Hiến từ thế kỉ XVII.
1.1.3 Xã hội
Xã hội Việt Nam dưới triều Nguyễn từ Gia Long đến Tự Đức cũng vẫn là một
xã hội phong kiến chịu sự chi phối của tư tưởng Nho giáo. Cũng như các triều đại
trước, các triều đại nhà Nguyễn vẫn rất trọng văn học, vẫn dùng khoa cử để kén chọn
nhân tài, bổ nhiệm vào các chức vụ trong bộ máy nhà nước của mình. Vua Gia Long
nội trị đến ngoại giao như đã nói trên, nền kinh tế nghèo nàn lạc hậu đã làm cho xã
hội Việt Nam trở nên rối ren, loạn lạc, dân tình khốn khổ hơn bao giờ hết.
1.2 Cuộc đời
Tùng Thiện Vương sinh ngày 24 tháng 8 năm Kỷ Mão, giờ Dậu, năm Gia Long
thứ 18 tức ngày 11.12.1819 tại điện Thanh Hòa, cung Thái tử. Lúc sơ sinh, vua Gia
Long đặt là Nghiện (có nghĩa là sắc mặt trời lúc mới mọc, nhưng vì kiêng húy nên
đọc là Ngợn). Đến năm thứ tư triều Minh Mạng nhà vua ngự chế “Đế hệ thi”, Vương
được đổi tên thành Nguyễn Phước Miên Thẩm (Thẩm nghĩa là xét đoán rõ ràng).
Vương là hoàng tử thứ mười của vua Minh Mạng tức đức Thánh Tổ Nhân Hoàng Đế.
Thân mẫu của Vương là bà Thục Tần Nguyễn Thị Bảo người làng Tân Khánh, huyện
Bình Dương, tỉnh Gia Định, con gái quan Tư Không Nguyễn Khắc Thiệu và phu
nhân Nguyễn Thị Phú.
Từ lúc sinh ra, Vương thường khóc đêm, các ngự y cho là mắc chứng “dạ đề”,
các quan coi việc Khâm Thiên chấm số tử vi lại đoán là “có hung tinh chiếu mạng”
tâu xin cúng sao Thái Bạch và cho đổi chỗ ở. Thuận Thiên Hoàng hậu bèn đem cháu
từ viện Đoan Trang sang cung Thọ Nguyên để mong cháu đỡ bệnh nhưng tình hình
vẫn không thay đổi. Thấy vậy, bà Thục Tần không yên lòng nên tâu xin đưa con trở
lại viện Đoan Trang để tự mình chăm sóc. Được mẹ ngày đêm tận tình chăm sóc,
chạy chữa thuốc thang, sức khỏe ngày một khá lên. Biết đi, biết nói, ngày càng tíu tít
bên mẹ. Chiều nào mẹ cũng dẫn Vương đi dọc theo dãy hành lang từ viện này sang
cung nọ, trước để chầu Thuận Thiên hoàng hậu sau để tập cho Vương dạn nắng, dạn
gió.
Từ bé, Vương đã tỏ ra thông minh, đĩnh ngộ hơn người. Năm bốn tuổi, Vương
bắt đầu theo học Hiếu kinh với bà Học phi dạy trong nội cung. Lên năm tuổi học Tam
tự kinh, Thiên tự văn. Đến bảy tuổi bắt đầu học qua kinh, sử, truyện. Nhân Dưỡng
Chánh đường vừa mới xây xong, bà tâu xin vua cho con qua Dưỡng Chánh đường ở
cùng với các anh em (gồm bảy hoàng tử: Miên Thần, Miên Phú, Miên Thủ, Miên
như hai anh em Tô Thức, Tô Triệt đời nhà Tống). Cũng năm ấy, vua sắc cho ba
hoàng tử được cưới thiếp. Đồng thời lại sắc cho các công thần, ai có con gái đoan
chính thì được chọn rể hoàng tử. Để tỏ lòng biết ơn đối với người thầy đã có công
dạy dỗ mình, Vương chọn cưới con gái của Tuy Thạnh Quận Công Trương Đăng
Quế làm đệ nhất phủ thiếp. Đó là bà Trương Thị Thứ, hiệu là Nguyên Cơ. Lúc này
Vương được ra ngoài để giảng tập kinh sử. Vương rất ham đọc sách, thích du sơn
ngoạn thủy và cũng rất thích giao du kết bạn với các tao nhân mặc khách, các danh sĩ
đương thời.
Năm hai mươi tuổi (1838 – Minh Mạng thứ 19) Vương được dự triều ban.
Những năm đầu tập tễnh học làm quan, Vương đã mắc phải một vài lỗi lầm tuy nhỏ
mà làm Vương ân hận mãi. Theo lệ mỗi ngày, một hoàng tử phải vào gửi thẻ thỉnh an
vào đầu giờ Mão tức lúc 5 giờ sáng. Công việc không có gì khó nhọc, chỉ vào ngồi tại
Tả Vu, nhờ Thái giám gửi dâng thẻ thỉnh an – thẻ bằng ngà, trên thẻ trạm sẵn bốn chữ
“Cung thỉnh vạn an”, hoàng tử chỉ viết thêm tên mình và đề ngày tháng vào. Nếu
thánh thể được khỏe thì Hoàng đế hạ một chấm son vào mặt chữ “an” rồi giao thẻ cho
thái giám đem trở ra để người thỉnh an thông báo cho đình thần biết. Rủi thay, hôm
đến phiên mình thỉnh an, Vương lại dâng trễ nửa giờ. Nhận được thẻ, hoàng đế chẳng
trách phạt gì nhưng khi giao thẻ trở ra, người chẳng phê một chấm son nào, thành thử
Vương không biết phải thông báo như thế nào về thánh thể trong khi cả phủ Tôn
Nhơn và triều thần đang chờ chực để biết tin. Tuy tội nhẹ mà nhiều người biết; sự
việc được loan truyền khắp cả Kinh thành, Vương cảm thấy đau đớn, hổ thẹn vô cùng
về tội tắc trách của mình.
Qua năm sau, lại một việc khác, không phải vì ngủ mà vì thức, làm Vương
mang tội nặng hơn. Vương thường thích tổ chức diễn kịch và thích tự mình diễn một
vai. Một hôm, khoảng hết canh hai, Vương cho nổi trống diễn tuồng, có ngài “Mười
Một” hưởng ứng ngồi cầm chầu. Rủi thay, khi ấy Hoàng đế đang xem sách, trong
cung không ai dám to tiếng. Nghe tiếng trống chầu, Vua sắc hỏi. Sáng hôm sau, phủ
Tôn Nhơn dâng phiến tâu rõ sự tình đêm qua, vua phê vào mặt phiến: “Khởi cổ ở
nơi Vương đều có làm thơ ghi lại cảm nghĩ của mình. Đến Hà Nội, nhìn phong cảnh
thành Long Biên, Vương xúc động viết:
Long Biên thành ngoại thảo như yên,
Long Biên đài thượng nguyệt đương thiên.
Phương thảo xuân qui diệc suy yết,
Nguyệt minh nhất phiến tự hà niên?
(Long Biên thành rộng, đài cao,
Cỏ tươi, trăng tỏ biết bao giữa trời.
Cỏ kia tươi chỉ một thời,
Trăng kia tỏ đó, tự đời nào đây?)
Bửu Thanh, sứ thần của vua Đạo Quang nhà Thanh sang làm lễ bang giao, đọc
bài này, khuyên cả bốn câu và phê: Thảo nguyệt câu tân, do bút diệu dã (Trăng với
cỏ đều là những cảnh thường nhưng do ngòi bút tả khéo mà ra lạ, ra mới cả). Kết thúc
chuyến hành trình ra Bắc, hơn trăm bài thơ đã ra đời làm thành tập Bắc hành. Ở Hà
Nội, Vương có dịp gặp gỡ một số tao nhân mặc khách của đất Bắc và đặc biệt là
Phương Đình Nguyễn Văn Siêu – một danh sĩ của Hà thành. Cũng trong dịp này, sĩ
phu Bắc hà được thưởng thức tài nghệ của Vương qua tập Bắc hành. Từ sau khi gặp
Nguyễn Văn Siêu trong chuyến Bắc tuần ấy về, bên cạnh việc sáng tác thơ để cho ra
đời tập Ngộ ngôn, Vương còn chuyên chú việc viết văn. Các bộ Thương Sơn văn di,
Nạp bị văn tập… được làm từ sau chuyến đi này.
Vốn là người yêu thiên nhiên, thích du sơn ngoạn thủy, cảm thấy sống trong
Kinh thành ngày càng tù túng nên khi thấy sông Lợi Nông phong cảnh hữu tình,
Vương đã xin vua dời phủ đệ từ phường Liêm Năng về bên sông Lợi Nông, khúc Phủ
Cam. Ở đây Vương cho đào hồ, đắp núi, xây nên một phủ đệ đặt tên là Ký Thưởng
viên gồm nhiều nhà với nhiều danh hiệu khác nhau như nhà Mô Trường là chỗ ngâm
vịnh; nhà Bạch Bí là chỗ các bà phủ thiếp ở và ươm tơ, dệt vải; nhà Tùng Vân là nhà
để thi văn; Cổ cầm đình là chỗ ngồi đàn; Xuy tiêu ỷ là chỗ thổi tiêu; Sở tụng đình là
chỗ trồng cam; Hàn lục hiên là chỗ trồng cúc v.v… Những nhà trong Ký Thưởng viên
Cả người ớn lạnh với hơi thu.)
Nguyên trong bài Khiển hoài trích từ tập Hà thượng của Vương có câu:
Thân tự bạch âu tùy xứ túc,
Giao như hoàng diệp nhập thu sơ.
(Thân như âu trắng bay tùy thích,
Bạn tựa lá vàng thu mới sang)
Ví thân mình như con chim âu trắng, ví đời người như chiếc lá mùa thu. Đọc
đến câu thơ này, Lao Sùng Quang cảm xúc đến ớn lạnh cả người nên đã viết như thế.
Từ đó mà có tập Thương Sơn thi thoại.
Vương cũng lập ra Tùng Vân thi xã hay Mặc Vân thi xã, tập hợp được nhiều
danh sĩ đương thời như Hà Tôn Quyền, Trương Đăng Quế, Phan Thanh Giản, Phạm
Phú Thứ, Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát, Nguyễn Văn Giai, Nguyễn Đức Đạt, Vũ
Đức Nhu… Các em trai ( Tuy Lý Vương, Tương An Quận Vương, Thọ Xuân Vương,
Phú Bình Công, Hàm Thuận Công, Hoằng Hóa Công…), em gái ( Qui Đức công
chúa, Lại Đức công chúa, Thuận Lễ công chúa); con trai (Hồng Phì, Hồng Tích,
Hồng Dục…); con gái (Thể Cúc, Thức Huấn, Chấp Khuông,…) đều được tham dự cả.
Cũng năm ấy (1849), mẹ Vương, bà Thục Tần, mãn tang Thuận Thiên Hoàng
hậu, và như thế là đã làm tròn đạo làm vợ và đạo làm dâu, Vương dâng sớ tâu xin vua
cho rước mẹ về Tiêu viên để phụng dưỡng vì mẹ tuổi đã già. Chiều ý mẹ, Vương lập
sau Tiêu viên ba sở phủ cho ba bà chúa em. Bốn anh em thường họp nhau khi đàn,
khi ca, khi kể chuyện xưa, khi kể chuyện nay, cốt để làm vui lòng mẹ. Năm Tự Đức
thứ ba (1850), bà Thục Tần bị thương phong. Nhờ có thuốc trong cung ban ra nên
bệnh tình tạm yên nhưng cánh tay trái chưa cử động được, đầu lưỡi còn tê, tiếng nói
không được rõ. Từ khi bị bệnh, mặc dù con cháu ngày đêm túc trực bên giường chăm
sóc nhưng “cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng; con muốn nuôi mà mẹ không ở”,
tháng 8 năm ấy (1851), bà Thục Tần tạ thế. Quá đau buồn, Vương phó thác Ký
Thưởng viên cho sông Lợi Nông. Sau khi an táng mẹ trên núi ở làng Dương Xuân,
Vương dựng chòi một bên tẩm, ở hầu mộ mẹ, tự tay lo hương khói hôm mai và lo
rằng: “Việc phủ quan trọng nhiều, phải nhờ người học rộng đức dày như ông mới làm
được. Ông không nên từ”. Do đó Vương phải nhận.
Năm Tự Đức thứ mười chín (1866), con rể của Vương là Đoàn Trưng (chồng
bà Thể Cúc, trưởng nữ của Vương) ngầm tổ chức bạn bè và một số nhà sư vận động
dân phu đang cực khổ xây dựng Vạn Niên Cơ làm cuộc nổi dậy nhằm lật đổ vua Tự
Đức để phò hoàng tôn Ưng Đạo, con trưởng của An Phong Công Hồng Bảo lên làm
vua. Việc thất bại, Trưng bị tội chết (sau cuộc nổi dậy này, Tự Đức cho đổi tên Vạn
Niên Cơ thành Khiêm cung). Vương trói con gái cùng cháu ngoại đem dâng nạp và
thượng sớ xin chịu tội vì không biết dạy bảo rể con. Vua giáng dụ lập Hội đồng điều
tra, bắt Vương phải đóng cửa Ký thưởng viên, không được giao tiếp với một ai. Suốt
hơn ba tháng, ngoài cửa Ký thưởng viên có lính canh gác, trong Ký thưởng viên rêu
phủ khuất dấu giày văn nhân thi sĩ. Riêng Vương, trong thời gian này, thường ngồi
một mình một bóng trầm tư mặc tưởng và đã sáng tác thêm một tập thơ nữa là tập
Mãi điền.
May thay, ngọc không bị lầm với đá, ngày tòa Hội đồng dâng án, vua phê:
“Tùng Thiện Công không phải là người tham danh, háo lợi; tâm thuật lại biết lấy
trung hiếu làm căn cơ; chỉ vì kén rể sai lầm cũng như Tế Trọng gả con cho Ung Củ.
Nay bắt tội mà lấy theo hình tích thì không đúng với luật ý “tru tâm”. Ta chuẩn cho
phạt bổng một năm tỷ chiếu theo điều: “Phụ huynh bất năng cấm ước tử đệ”[1,147].
Đối với quốc pháp, vua đã mở lượng khoan hồng nhưng còn gia pháp, biết bà
Thục Tần có chịu tha thứ cho? Phận làm con vẫn mang tội. Ngày tiếp phủ Tôn Nhơn
lục án, Vương mặc áo rộng đen ra trước từ đường đốt nhang đèn quì thẳng lưng hai
tay dâng lên cây roi miệng lầm rầm khấn vái một hồi rồi nằm sấp trước bàn thờ để
chịu đòn như hồi sinh tiền bà Thục Tần đã thường trị tội. Sau đó Vương đem cả con,
cả cháu sang ở bên Phương Thốn Thảo Đường (nhà cỏ vuông một tấc) ở làng Dương
Xuân đồng thời cho sửa sang ngôi chùa cổ Từ Lâm. Từ sau vụ án Đoàn Trưng, lòng
nhiều phiền muộn, nhất là bị dằn vặt bởi mặc cảm phạm tội, Vương sống như một kẻ
mang tâm bệnh, tránh chuyện giao du. Trong thời gian này, Vương soạn xong hai tập
Thức cốc thiên và Học giá chí.
Phục vọng tư đề tạo chi duy gian lẫm bảo trì chi bất dị, nhất tài nhất lực sở đương