tiểu luận Thể chiếu trong văn học trung đại Việt Nam và Thiên đô chiếu - Pdf 26

Thể chiếu trong văn học trung đại Việt Nam và Thiên đô chiếu
Thiên đô chiếu (遷 都 詔 ) hay Chiếu dời đô vỏn vẹn 214 chữ Hán, tương
truyền do vua Lý Thái Tổ (974–1028), người khai sáng vương triều Lý (1010-
1225), ngồi trên ngai vàng 18 năm (1010–1028) viết, nhằm giải thích về lý do
và quyết sách của triều đình mới trong việc dời kinh đô của nước Đại Cồ Việt
từ Hoa Lư (Ninh Bình) đến thành Đại La (Thăng Long, Hà Nội). Văn kiện này
được xem là tác phẩm mở đầu cho nền văn học thời Lý và cũng là áng văn đặc
biệt vừa có giá trị văn chương, chính trị, địa lý và lịch sử Việt Nam, vừa có
ảnh hưởng tích cực đến vận mệnh đất nước và dân tộc từ thế kỷ X trở đi.
Lý Công Uẩn, người khai sáng vương triều Lý (1010-1225), khai sáng Thủ đô
Thăng Long - Hà Nội, sinh ra và được nuôi dưỡng, giáo dục nơi cửa chùa rồi được
giới tăng sĩ ủng hộ, tôn phò làm vua. Cống hiến có ý nghĩa lịch sử quan trọng nhất
của Lý Công Uẩn sau khi lên làm vua là việc ông quyết định chọn thành Đại La
làm kinh đô, dời đô từ Hoa Lư về Đại La và đổi tên thành Thăng Long, Hà Nội
ngày nay. Việc Lý Công Uẩn chọn Thăng Long làm kinh đô vừa đáp ứng được yêu
cầu phát triển mới của thời đại, của Nhà nước phong kiến trung ương tập quyền
đang vươn lên mạnh mẽ, vừa có tầm nhìn xa rộng và kế sách lo toan cho con cháu
muôn đời sau. Lý Công Uẩn làm vua 18 năm. Trong thời gian ấy ông đã làm được
một số việc mà quốc sử ghi chép như là những việc trọng đại.
Thứ nhất, Lý Công Uẩn cho xây dựng kinh thành Thăng Long có quy mô bề
thế, bao gồm cung điện và một hệ thống các điện Càn Nguyên (làm chỗ thiết triều),
điện Tập Hiền, điện Giảng Võ… cùng kho tàng, hào lũy. Bốn mặt thành mở 4 cửa
Tường Phù (phía Đông), Quảng Phúc (phía Tây), Đại Hưng (phía Nam), Diệu Đức
(phía Bắc).
Thứ hai, để đáp ứng nhu cầu của đời sống tâm linh, nhu cầu về tôn giáo tín
ngưỡng, mà khi đó Phật giáo là Tôn giáo được tầng lớp quý tộc, cung đình cũng
Nguyễn Thị Mơ – Lớp Văn học Việt Nam – Cao học Văn K55 Page 1
Thể chiếu trong văn học trung đại Việt Nam và Thiên đô chiếu
như dân chúng tôn sùng, Lý Công Uẩn đã cho xây cất nhiều chùa, như ở phía Nam
kinh thành, ở phủ Thiên Đức (châu Cổ Pháp cũ). Lý Thái Tổ là người đặt nền
móng vững vàng cho sự hưng thịnh của Phật giáo thời Lý.

tướng” đời Lý là Tả hữu Tham tri chính sự là chức ở trong Chính phủ, dưới chức
Tướng quốc. Hoặc như Lục bộ, theo Phan Huy Chú, ở nước ta chức Thượng thư
đặt ra bắt đầu từ thời Lý, nhưng tên các bộ chia đặt thế nào chưa rõ. Đời Trần theo
phép ấy của nhà Lý đặt chức Thượng thư hành khiển, Thượng thư hữu bật, sau mới
chia ra Thượng thư các bộ (bộ Lại, bộ Binh, bộ Hình).
Về quân sự, nhà Lý buổi đầu mô phỏng binh chế đời Đường… đời Tống,
nhưng có nhiều sáng tạo độc đáo, trong đó cách hành quân, cách tác chiến chính
người Tống lại phải học tập nhà Lý. Những chiến tích quân sự bất diệt của đời Lý đã
chứng minh nền quốc phòng và quân sự đương thời là vô cùng mạnh mẽ, tài giỏi.
Cùng với thành tích quân sự, nền ngoại giao triều Lý cũng giành được nhiều
thắng lợi quan trọng. Với một đường lối đối ngoại vừa khôn khéo, vừa cứng cỏi,
vương triều Lý đã buộc nhà Tống phải nể trọng, nên trong việc giải quyết về các
vụ tranh chấp đất đai ở khu vực biên giới giữa nhà Lý với nhà Tống, phía nhà Lý
thường chiếm ưu thế, bởi vậy, lãnh thổ đất nước được bảo vệ chắc chắn, toàn vẹn.
Về phát triển kinh tế, dưới triều Lý còn có nhiều bước tiến bộ quan trọng, đặc
biệt là việc xây dựng các công trình thủy lợi, trong đó công trình đắp đê Cơ Xá
(sông Hồng, Thăng Long). Nghề dệt, nhất là nghề làm đồ gốm đạt tới đỉnh cao của
kỹ thuật và nghệ thuật thủ công nghiệp. Ngoại thương phát đạt. Việc giao lưu buôn
bán giữa nhà Lý với các nước vùng Đông Nam Á như Xiêm La, Giava, Tam Phật
Tề (Palembang) khá sôi nổi. Vân Đồn trở thành thương cảng quốc tế quan trọng
của Việt Nam khi đó.
Nguyễn Thị Mơ – Lớp Văn học Việt Nam – Cao học Văn K55 Page 3
Thể chiếu trong văn học trung đại Việt Nam và Thiên đô chiếu
Trong lịch sử văn minh Việt Nam, vương triều Lý là vương triều mở đầu kỷ
nguyên mới - kỷ nguyên văn minh Đại Việt. Việc triều Lý mở Quốc Tử Giám, xác
lập chế độ đại học, mở khoa thi tuyển chọn nhân tài cho đất nước là những sự kiện,
những cái mốc văn hóa mang ý nghĩa trường cửu.
Phật giáo du nhập nước ta từ rất sớm. Giao Châu từng là một trung tâm Phật
giáo nổi tiếng thời cổ. Nhưng phải đến thời Lý, người Việt Nam mới xây dựng
được một đạo Phật mang đặc điểm dân tộc rõ nét, đánh dấu bằng sự ra đời của

Hán thư: “Bệ hạ mở đức, hạ minh chiếu”.
Để làm sáng tỏ hơn định nghĩa này, cũng trong cuốn Từ nguyên chính tục
biên trên, chúng tôi xin trích định nghĩa về chiếu thư như sau: “Chiếu thư, cựu chế
dã. Quốc gia đại chính sự bố cáo dân giả viết chiếu thư, dụng ngạnh hoàng chỉ mặc
thư”. Độc đoạn: “Đế chi hạ thư hữu tứ, tam viết chiếu thư), nghĩa là: Chiếu thư là
chế cũ. Các việc chính sự lớn mà bố cáo cho dân chúng thì gọi là chiếu thư, dùng
chỉ vàng cứng và mực đen để viết. Sách Độc đoạn nói rằng: “Thư nhà vua ban
xuống cho dân có 4 thứ, thì 3 cái gọi là chiếu thư”.
Trong Từ hải, bản hợp đính, quyển 1 trọn bộ do Trung Hoa thư cục tái bản
năm 1948, trang 1241, chữchiếu cũng có rất nhiều nghĩa, trong đó có một nghĩa
như sau: Chiếu, chiếu thư dã. Sử kí Tần Thủy Hoàng kỉ: “Mệnh vi chế, lệnh
vi chiếu”, Hán thư “Đổng Trọng Thư truyện: “Bệ hạ phát đức âm, hạ minh chiếu”),
nghĩa là: “ Chiếu, tức là chiếu thư. Tần Thủy Hoàng bản kỉ trong sách Sử kí:
“Mệnh là chế, lệnh là chiếu.” Sách Hán Thư: “Bệ hạ mở đức, hạ minhchiếu”.
Và cũng trong cuốn Từ Hải này, chữ chiếu thư được định nghĩa như sau:
Hoàng đế bố cáo thần dân chi thư viết chiếu thư. Độc đoạn: Đế chi hạ hữu tứ, tam
viết chiếu thư, chiếu thư giả, chiếu cáo dã), nghĩa là : thư nhà vua ban xuống cho
Nguyễn Thị Mơ – Lớp Văn học Việt Nam – Cao học Văn K55 Page 5
Thể chiếu trong văn học trung đại Việt Nam và Thiên đô chiếu
dân có 4 thứ, thì ba cái gọi là chiếu thư, chiếu thư tức là chiếu cáo.
Qua hai bộ từ điển lớn là Từ nguyên và Từ hải trên, chúng ta có thể thấy
chữ chiếu không có một định nghĩa riêng cụ thể mà nó chỉ được xếp chung
vào chiếu thư, do người trên mệnh cho người dưới, do Hoàng đế bố cáo cho thần
dần những chuyện quốc gia đại sự.
Trong Trung văn đại từ điển do Trung Quốc Văn hóa Viện xuất bản năm
1968, trang 36182.1 – 36187.7, chữ chiếu bao gồm 13 nghĩa, trong đó có một
nghĩa như sau: “Chiếu, thiên tử chi chiếu lệnh, vương ngôn viết chiếu, hoàng hậu
thái tử viết lệnh”, nghĩa là: Chiếu, tức là chiếulệnh của thiên tử. Lời của nhà vua
là chiếu, còn lời của hoàng hậu và thái tử là lệnh.
Theo Đại từ điển tiếng Việt, chiếu là văn bản nhà vua ban bố cho thần dân

gãy gọn, mạnh mẽ được trân trọng lưu truyền.
2. Lịch sử hình thành , phát triển của văn bản chiếu
Chiếu là một loại hình văn bản hành chính đặc biệt đã xuất hiện ở Trung Quốc
từ thời cổ và được truyền sang các nước phương Đông thuộc vùng ảnh hưởng của
văn hóa Hán, trong đó có Việt Nam. Sở dĩ đặc biệt vì đó là một trong những loại
hình văn bản hành chính có tính quan phương nhất của nhà nước đã ra đời từ rất
lâu, tồn tại trong suốt thời kì phong kiến.
Trong tác phẩm Lịch sử văn hóa Trung Quốc được tác giả Nguyễn Phạm
Hùng trích dẫn trong cuốn Văn học Lí – Trần nhìn từ thể loại, Đàm Gia Kiện đã
viết về nguồn gốc của văn chiếu như sau: Chiếu là “cáo của triều đình ban bố gọi
chung là chiếu lệnh, bắt nguồn từ thể cáo trong Thượng thư, thời Xuân Thu gọi là
mệnh, thời Chiến Quốc gọi là lệnh. Sau khi Tần thống nhất, đổi mệnh thành chế,
đổi lệnh thành chiếu. Đầu đời Hán mệnh chia làm bốn loại, danh mục, công dụng
Nguyễn Thị Mơ – Lớp Văn học Việt Nam – Cao học Văn K55 Page 7
Thể chiếu trong văn học trung đại Việt Nam và Thiên đô chiếu
khác nhau. Chiếu là cáo với bách quan…” Như vậy, chiếu vốn được bắt nguồn từ
thể cáo trong sách Thượng thư, được gọi là chiếu lệnh, trải qua các tên gọi khác
nhau, đến đời Tần mới có tên gọi là chiếu như hiện nay. Thực chất, nó là loại văn
bản hành chính của triều đình nhằm công bố cho thần dân biết và thực hiện những
nhiệm vụ có liên quan đến đời sống xã hội, dân tộc, hoàng triều.
3. Một số đặc trưng của văn bản chiếu:
Chiếu không chỉ đơn thuần thuộc phạm vi của văn bản hành chính của thời kì
Trung đại mà còng là một thể loại có nhiều đóng góp cho nền văn học mỗi nước
trong thời kì này. Đó là một thể loại văn học có chức năng cao, phục vụ cho việc
giao tiếp có tính quan phương. Tùy vào mỗi triều đại, mỗi thời kì cụ thể mà văn
bản chiếucó những đặc điểm riêng phù hợp với từng triều đại, mỗi thời kì cụ thể
mà văn bản chiếu có những đặc điểm riêng phù hợp với từng triều đại, từng thời kì
đó. Nhưng về cơ bản, đặc trưng của thể loại này, xét về nội dung là mệnh lệnh của
vua chúa đối với thần dân; xét về hình thức thì đó là sự vận dụng phổ biến các cách
diễn đạt của văn xuôi cổ thể, của biền văn, tản văn, và cả vận văn nữa, trong

Stt
Tên nguồn tư liệu
Số lượng chiếu
Lý Trần Lê Nguyễn
1 Đại Việt sử kí toàn thư 24 23 56 0
2 Đại Nam thực lục 0 0 0 191
3 Nguyễn Trãi toàn tập 0 0 6 0
4 Tổng tập văn học Việt Nam 0 0 0 0
5 Thơ văn Lý Trần 6 0 0 0
Tổng 30 23 56 191
Nguyễn Thị Mơ – Lớp Văn học Việt Nam – Cao học Văn K55 Page 9
Thể chiếu trong văn học trung đại Việt Nam và Thiên đô chiếu
Căn cứ vào bảng trên chúng ta có thể đi đến một vài nhận xét:
Trải dài thời kì Trung đại, thời đại nào cũng có các văn bản chiếu. Song Nguyễn là
thời kì có số lượng văn bảnchiếu nhiều nhất. Điều đó hoàn toàn có thể giải thích
được bởi lí do khách quan về thời gian, khí hậu, chiến tranh cũng như vì ý thức của
con người mà số lượng chiếu của các thời Lí, Trần, Lê đã bị mai mốt nhiều.
Qua việc khảo sát chúng tôi thấy rằng các văn bản chiếu ngày càng hoàn thiện
dần đạt tới độ ổn định cho loại văn hành chính mang tính chất quan phương này.
Như vậy qua khái quát về tình hình chiếu của Việt Nam qua các thời kì ta
thấy chiếu là văn bản hành chính quan phương xuất hiện từ thời cổ ở Trung Quốc,
tồn tại song hành cùng với sự phát triển của các vương triều phong kiến.
Khi chế độ phong kiến Việt Nam được hình thành thì các văn bản chiếu cũng
lập tức được lựa chọn và sử dụng. Hiện nay văn bản chiếu sớm nhất được xác định
là Thiên đô chiếu của Lí Công Uẩn sáng tác vào năm 1010 và bản chiếu cuối cùng
là Thoái vị chiếu của vua Bảo Đại (tháng 8 năm 1945). Văn bản chiếu sau cùng
này cũng đánh dấu sự chấm dứt vĩnh viễn vai trò của văn bản chiếu trong chế độ
phong kiến Việt Nam đã tồn tại lâu đời.
II. “Chiếu dời đô” (Lý Công Uẩn) – Văn bản chiếu mẫu mực
Nguồn sử tịch sớm nhất chép bài văn Chiếu dời đô của Thái Tổ Lý Công Uẩn

"Xưa kia nhà Thương đến đời Bàn Canh năm lần dời đô, nhà Chu đến đời
Thành Vương lần dời đô; đâu phải các vua thời Tam đại liều vì riêng mình, tự ý
bậy bạ chuyển đi nơi khác, mà bởi họ mưu tính lớn lao, chọn ở nơi trung tâm, làm
kế muôn vạn đời cho con cháu về sau. Trên cung kính mệnh trời, dưới dựa theo ý
Nguyễn Thị Mơ – Lớp Văn học Việt Nam – Cao học Văn K55 Page 11
Thể chiếu trong văn học trung đại Việt Nam và Thiên đô chiếu
dân, nếu thấy thuận tiện thì thay đổi, cho nên phúc nước dài lâu, phong tục giầu
thịnh. Thế mà hai nhà Đinh, Lê mới vì riêng mình, quên mệnh trời, bước đạp bừa
lên dấu tích Thương, Chu, cứ yên ở mãi ấp nhỏ của mình nơi ấy, để đến nỗi đời
chẳng được dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ hao tổn, muôn vật không thích hợp,
Trẫm rất thương xót, không thể không di dời khỏi đó. Huống chi thành Đại La,
đô cũ của Cao Vương

ở khu vực giữa trời đất, có được thế đất rồng cuốn, hổ ngồi;
chính vị đông, tây, nam, bắc; tiện nghi phía trước là sông, phía sau là núi. Khu
vực ấy rộng rãi, bằng phẳng; đất ở đấy cao ráo, sáng sủa, dân cư không bị ngập
chìm tối tăm khổ sở, muôn vật thịnh vượng, tốt tươi.
Ngắm xem khắp nước Việt, thấy đây là vùng đất có phong cảnh tốt đẹp nhất,
thực là nơi trọng yếu cho bốn phương hội tụ; là đất kinh sư của kinh sư muôn đời.
Trẫm muốn nhân địa lợi ấy để định đô ở đó, các khanh nghĩ thế nào?".
Chiếu dời đô (Thiên đô chiếu) cũng mang những đặc điểm của thể văn chiếu
nói chung nhưng đồng thời cũng có những đặc điểm riêng: bên cạnh tính chất
mệnh lệnh là tính chất tâm tình, bên cạnh ngôn từ mang tính đơn thoại, một chiều
của người trên ban bố mệnh lệnh cho kẻ dưới là ngôn từ mang tính chất đối thoại,
trao đổi. Đặc điểm này còn thấy ở một số bài Chiếu thời Lý nữa như Xá thuế chiếu
của Lí Thánh Tông, Lâm chung di chiếu của Lí Nhân Tông, Chung hối tiền quá
chiếu (Chiếu hối lỗi) của Lí Cao Tông.
Nội dung bài chiếu chia làm hai phần: phần một giải thích vì sao phải dời đô
khỏi Hoa Lư, phần hai giải thích vì sao lại chọn Đại La làm nơi đóng đô mới. Kết
cấu hai phần thế này rất rõ ràng và logic, chặt chẽ.

Thể chiếu trong văn học trung đại Việt Nam và Thiên đô chiếu
Sau khi khái quát quy luật dời đô, Lý Công Uẩn đi vào giải thích nguyên nhân
tại sao lại phải dời đô lúc này. Theo quy luật ấy, kinh đô phải là nơi làm cho vận
nước phát triển lâu dài, nhưng hai họ Đinh Lê đã chọn kinh đô là đất nước hao tổn
dần. Lý Công Uẩn phê phán họ Đinh Lê là tự tiện làm theo ý mình , không nhìn
đến mệnh trời (trái với quy luật dời đô đã khái quát ở trên), không biết nhìn vào bài
học kinh nghiệm của hai nhà Thương Chu, coi thường lịch sử nên ở yên ở Hoa Lư.
Chính vì ở yên ở Hoa Lư làm cho đất nước có những hậu quả nghiêm trọng: hai
triều Đinh Lê không kéo dài, chỉ truyền được qua hai đời, nhân dân hao tổn dần (vì
những cuộc nội chiến, phân phong, cát cứ và chống ngoại xâm), muôn vật mất đi
những điều kiện thích hợp với nó. Chính vì hai họ Đinh Lê đã đi ngược lại với quy
luật dời đô, đi ngược lại lịch sử gây hậu quả nghiêm trọng nên Lý Công Uẩn đã rất
đau lòng, không thể không dời đô.
Như vậy, trong phần một Lý Công Uẩn đã thuyết phục dời đô khỏi Hoa Lư rất
thành công. Đầu tiên là nêu những sự thực lịch sử từ đó khái quát quy luật, bài học
dời đô; sau đó ông chứng minh hai họ Đinh Lê đi ngược lại với bài học đó, gây hậu
quả nghiêm trọng nên bắt buộc dời đô.
Trong Chiếu dời đô, khái niệm gây tranh luận nhiều nhất và dễ hiểu lầm nhất
là “thiên mệnh” có nghĩa đen là “mệnh trời.” Vua Lý Thái Tổ giải thích nguyên
nhân dời đô của ông là nhằm đáp ứng yêu cầu: “Trên thuận mệnh trời, dưới hợp
lòng dân” (上謹天命,下因民志: thượng cẩn thiên mệnh, hạ nhân dân chí). Sống
trong chùa từ nhỏ, được học hỏi triết lý Phật giáo từ thiền sư Lý Khánh Vân và
được làm vua nhờ vào sự sắp xếp tài tình của thiền sư Vạn Hạnh, vua Lý Thái Tổ
không thể có và không thể chấp nhận thế giới quan Nho giáo hay bất kỳ Nhất thần
giáo nào, rằng thế giới này do thượng đế tạo ra và vận mệnh quốc gia và con người
là công trình độc quyền của thượng đế.
Nguyễn Thị Mơ – Lớp Văn học Việt Nam – Cao học Văn K55 Page 14
Thể chiếu trong văn học trung đại Việt Nam và Thiên đô chiếu
Theo triết lý Phật giáo mà vua Lý Thái Tổ học được, nghiệp tức ý chí, hành
động của con người tạo ra mọi thứ, trong đó tâm làm đạo diễn, hành động thân thể

kiến ngược lại với quyết sách dời đô của nhà vua. Thứ hai, trong vương triều và
thần dân bấy giờ, đại đa số là Phật tử, thì “thiên mệnh” được hiểu là “quy luật thiên
nhiên” mang tính tất yếu. Do đó, thuận thiên mệnh chỉ có nghĩa là “phù hợp với
quy luật tất yếu”, hay còn gọi là quy luật khách quan, ở đó, không có thượng đế
nào an bày vận mệnh của đất nước Việt Nam từ nhà Lý trở đi.
Theo nghĩa vừa giải thích, đoạn nguyên tác “Dĩ kỳ đồ đại trạch trung, vi ức
vạn thế tử tôn chi kế; thượng cẩn thiên mệnh, hạ nhân dân chí, cẩu hữu tiện triếp
cải. Cố quốc tộ diên trường, phong tục phú phụ” có thể dịch nghĩa là: “Dời đô là vì
muốn ở trung tâm, lập nên nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu; trước thuận
với quy luật thiên nhiên, sau là hợp với lòng dân; nếu thuận tiện thì nên dời đổi.
Làm được thế thì vận nước được lâu dài, phong tục được phồn thịnh.” Nghệ thuật
chơi chữ của vua Lý Thái Tổ như mũi tên bắn trúng hai mục đích, vừa được lòng
người theo Nho giáo và vừa được lòng người theo Phật giáo có khuynh hướng
“Tam giáo đồng nguyên” thời ấy.
Cũng cần nhắc lại nơi đây, bài thơ sấm trên cây gạo làng Diên Uẩn, đề cập
đến chuyện “điềm trên cây sét đánh” trong dân gian thực ra chỉ là nghệ thuật được
thiền sư Vạn Hạnh sử dụng, nhằm tôn vinh Lý Công Uẩn có chân mạng “thiên tử”,
xứng đáng làm đế vương Đại Cồ Việt. Ngoài ra, khi lên ngôi hoàng đế đầu tiên của
nhà Lý, vua Lý Công Uẩn đặt niên hiệu là “Thuận Thiên” có nghĩa đen là “theo ý
trời.” Đây cũng là cách chơi chữ, để mọi người dễ chấp nhận hoàng đế mới, chứ
Nguyễn Thị Mơ – Lớp Văn học Việt Nam – Cao học Văn K55 Page 16
Thể chiếu trong văn học trung đại Việt Nam và Thiên đô chiếu
theo quan niệm triết học Phật giáo mà hai thầy trò thiền sư Vạn Hạnh và vua Lý
Công Uẩn truyền bá, thì thượng đế không có thật, lấy đâu mà gọi là theo ý trời!
Thông qua nghệ thuật chơi chữ khéo léo, khi xem việc dời đô là một thiên
mệnh tức “quy luật tất yếu,” mang tính khách quan thì việc cát cứ ở cố đô là một
sai lầm. Đây là bài học lịch sử từ hai triều đại Đinh và Tiền Lê mà vua Lý Thái Tổ
đã sớm nhận ra: “Nhà Đinh và nhà Lê quá trọng ý riêng, khinh thường quy luật trời
đất… cứ bám chặt kinh đô ở nơi này (tức Hoa Lư).” Dù sao, ta cũng phải thừa
nhận rằng trong bối cảnh đất nước Đại Cồ Việt ta vừa thoát khỏi ách nô lệ của

triều Trần, Hậu Lê, Mạc, Lê Trung Hưng và hiện nay là thủ đô Hà Nội của
nước Việt Nam, xứng đáng với lời tiên đoán của vua Lý Thái Tổ là “kinh đô bậc
nhất của các đế vương muôn đời.”
Sang phần hai, Lý Công Uẩn thuyết phục về việc lựa chọn Đại La làm kinh đô
là hợp với quy luật dời đô. Đầu tiên Lý Công Uẩn nhắc đến Đại La với sự kiện
thành Đại La của Cao Biền – một viên quan đô hộ người Hán đã cai trị nước ta
trong thời kì Bắc thuộc. Cao Biền là người giỏi phong thủy, địa lí nên đã nhìn ra
cái thế đắc địa của Đại La và chọn nơi này làm nơi đóng đô.
Vùng đất Đại La có những ưu thế hơn hẳn Hoa Lư, xứng đáng là kinh đô của
đất nước. Đây là vùng đất chọn được ở giữa trung tâm của trời đất, bờ cõi. Khái
niệm trung tâm ở đây không phải là trung tâm về địa lý mà là trung tâm về phong
thủy, tâm linh, về chính trị, xã hội. Đại La là nơi tụ hội của bốn phương, tiện cho
sự phát triển của đất nước. Đất ấy cũng là đầu mối cả các con đường bộ Bắc -
Nam, Đông - Tây, nhất là đường thủy vì nằm bên con sông lớn nhất trăm sông
trong miền chia nước: sông Cái - sông Hồng. Sông Cái lại như con hào tự nhiên
mênh mang che chở mạn Bắc thành lũy, khi có nạn giặc ngoài. Rõ là thế đất đế đô
Nguyễn Thị Mơ – Lớp Văn học Việt Nam – Cao học Văn K55 Page 18
Thể chiếu trong văn học trung đại Việt Nam và Thiên đô chiếu
của thời mở mang, hưng thịnh dài lâu, khác xa kinh đô Hoa Lư thế hiểm, nặng về
lui giữ của thời mới gây nền tự chủ Đinh - Lê.
Có một khái niệm được Lý Công Uẩn nhắc đến là “long bàn hổ cứ”. Thành
ngữ này được sử dụng nhiều lần trong các tác phẩm chữ Hán của cha ông ta, đôi
khi còn thấy xuất hiện cả trong tác phẩm Nôm, đặc biệt còn thấy tách thành long
bàn và hổ cứ để dùng, chẳng hạn như trong một bài thơ của Chúa Trịnh Căn (1872-
1709) chép trong tác phẩm Thiên hòa doanh bách vịnh.
Long bàn là từ dùng để miêu tả động tác di chuyển vị trí của con rồng. Rồng
là loài động vật thuộc họ rắn, nó di chuyển thế nào hẳn hiếm người biết được. Thế
nhưng con rắn di chuyển trên mặt đất như thế nào hẳn là nhiều người đã tận mắt
nhìn thấy. Rắn thuộc loài bò sát không có chân, nó di chuyển vị trí bằng cách uốn
các đốt xương sống lại để nhích đi từng chút, giống như con sâu đo. Quan sát cách

hẻo lánh, chỉ hợp với chiến tranh, thủ chiến chứ không hợp với thời hòa bình, thịnh
trị. Các nghiên cứu khảo cổ đã cho thấy ở ven sông Hàm Long, gần cố đô Hoa Lư
có một khu đô thị dài khoảng 1km, với trình độ phát triển khá cao, đời sống thịnh
trị. Như vậy, có thể thấy Hoa Lư là một kinh đô mà thị nằm ngoài đô, không tạo
điều kiện để phát triển trong thời bình được. Nếu cứ mãi đóng đô ở Hoa Lư thì đất
nước không phát triển đi lên được.
Ngược lại, Đại La là vùng dân cư đông đúc, đời sống phát triển ở mức cao.
Đây là vùng nằm giữa trung tâm đồng bằng sông Hồng, phù hợp giao thông, phát
triển kinh tế, tập trung được cả nước. Không những thế, về thực tế, thời điểm này,
Đại La là một khu vực phát triển ở nước ta. Sau khi được chọn làm trung tâm hành
chính từ thời Bắc thuộc, nơi này đã trở thành khu vực có tốc độ phát triển khá
Nguyễn Thị Mơ – Lớp Văn học Việt Nam – Cao học Văn K55 Page 20
Thể chiếu trong văn học trung đại Việt Nam và Thiên đô chiếu
nhanh. Mặc dù dưới thời Đinh – Lê không được chọn làm kinh đô nhưng không có
nghĩa là khu vực này không phát triển. Các kết quả khảo cổ học với những sản
phẩm tinh xảo, quý hiếm cho thấy vào thời kì này, Đại La là một khu vực khá giàu
có, phát triển.
Tuy nhiên, Đại La bốn bề trống trải, không thể phù hợp cho các cuộc chiến.
Thực tế lịch sử cho thấy trong những lúc đất nước có ngoại xâm, các triều đại luôn
phải bỏ Thăng Long, lấy nơi khác làm căn cứ địa để chiến đấu. Như vậy, có thể
thấy, Hoa Lư là kinh đô của thời chiến còn Đại La là kinh đô của thời bình.
Việc Lý Công Uẩn nhận ra sự khác nhau giữa hai vùng đất này và quyết định
định đô ở Đại La chứng tỏ ông tin tưởng vào tương lai phát triển trong hòa bình
của đất nước, mong muốn và tin tưởng đất nước bình yên, phát triển thịnh trị. Việc
Lý Công Uẩn lên ngôi và trị vì đã thực sự kết thúc thời kì phân phong, cát cứ quân
sự trong lịch sử Việt Nam, đưa đất nước thống nhất, phát triển hòa bình, thịnh đạt.
Như vậy, có thể thấy Lý Công Uẩn không chỉ chú trọn đến mặt quân sự như các
triều đại trước mà đã bắt đầu chú ý đến sự phát triển chính trị, kinh tế, văn hóa và
đặc biệt là chú ý đến việc củng cố hậu phương (vùng đồng bằng sông Hồng là hậu
phương rộng lớn và quan trọng nhất của nước ta thời kì này). Không những thế, Lý

phát triển của Thăng Long sau này có thể tóm tắt như sau:
Từ năm 1010 đến năm 1397: là kinh đô của nhà Lý, nhà Trần
Từ năm 1397 đến năm 1407: là Đông Đô của nhà Hồ
Từ năm 1407 đến năm 1427: là thành Đông Quan của nhà Minh
Từ năm 1428 đến năm 1789: là Đông Kinh của nhà Lê Sơ, nhà Mạc, nhà Trịnh
Từ năm 1789 đến năm 1801: là trấn Bắc Thành của Tây Sơn Nguyễn Huệ
Nguyễn Thị Mơ – Lớp Văn học Việt Nam – Cao học Văn K55 Page 22
Thể chiếu trong văn học trung đại Việt Nam và Thiên đô chiếu
Từ năm 1802 đến năm 1840: là trấn Bắc Thành của nhà Nguyễn
Từ năm 1820 đến khi Pháp chiếm Hà Nội: là tình thành Hà Nội
Từ khi Pháp chiếm Hà Nội đến năm 1945: là thủ phủ chính trị, hành chính của
Pháp ở Đông Dương
Từ năm 1945 đến nay: là thủ đô của nước Việt Nam dân chủ công hòa rồi đến
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Như vậy, có thể thấy, từ khi Lý Công Uẩn quyết định dời đô về Thăng Long,
nơi đây đã liên tục là trung tâm chính trị đầu não của quốc gia, dân tộc. Có hai giai
đoạn từ năm 1397 – 1427 và 1789 – 1945, tuy không phải là trung tâm đầu não
nhưng vẫn là trung tâm hành chính, chính trị đại diện cho quyền lực Nhà Nước ở
nơi đây.
Từ sự phân tích trên, có thể thấy Lý Công Uẩn là một nhà chính trị thiên tài,
người có tầm nhìn xa và chiến lược, đã nhận ra sự ưu việt của mảnh đất Đại La.
Tuy ông không phải là người đầu tiên nhìn thấy tiềm năng của vùng đất này và
chọn nơi đây là trung tâm đầu não của đất nước nhưng phải đến Lý Công Uẩn thì
tiềm năng của Đại La mới được nhận thức đầy đủ, sâu sắc và phát huy tối đa.
Tuy nhiên, bên cạnh tầm nhìn tài năng, Lý Công Uẩn cũng bộc lộ hạn chế
nhất định trong Chiếu dời đô của mình. Thứ nhất, việc ông phê phán nhà Đinh, Lê
chọn Hoa Lư làm kinh đô là tự làm theo ý mình, coi thường mệnh trời là không
đúng. Trong hoàn cảnh lịch sử ấy, khi nội chiến, cát cứ phân phong trong cả nước
đang nổi lên, thì chọn Hoa Lư là một quyết định chính xác. Vùng đất này là nơi
hiểm trở, núi bao quanh, chỉ có một con đường độc đạo thông ra bên ngoài, hợp

Nguyễn Thị Mơ – Lớp Văn học Việt Nam – Cao học Văn K55 Page 24
Thể chiếu trong văn học trung đại Việt Nam và Thiên đô chiếu
nhưng chính Chiếu dời đô là bước ngoặt đưa đến sự phát triển, vai trò quan trọng
của Đại La – Thăng Long – Hà Nội sau này.
Những di chỉ khảo cổ tại Cổ Loa cho thấy con người đã xuất hiện ở khu vực
Hà Nội từ cách đây 2 vạn năm, giai đoạn của nền văn hóa Sơn Vi. Thế kỷ 3 trước
Công Nguyên, trong cuộc chiến với quân Tần từ phương Bắc, Thục Phán quyết
định đóng đô ở Cổ Loa, nay là huyện Đông Anh, cách trung tâm Hà Nội khoảng 15
km. Sự xuất hiện của thành Cổ Loa ghi dấu Hà Nội lần đầu tiên trở thành một đô
thị trung tâm về chính trị và xã hội.
Thất bại của Thục Phán đầu thế kỷ 2 trước Công Nguyên đã kết thúc giai đoạn
độc lập của Âu Lạc, bắt đầu giai đoạn một ngàn năm bị các triều đại phong
kiến Trung Hoa thống trị. Thời kỳ nhà Hán, nước Âu Lạc được chia thành ba
quận Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam, Hà Nội khi đó thuộc quận Giao Chỉ. Vắng
bóng trong sử sách suốt năm thế kỷ đầu, đến khoảng năm 454–456, Hà Nội mới
được ghi lại là trung tâm của huyện Tống Bình. Năm 544, Lý Bí nổi dậy chống
lại nhà Lương, tự xưng hoàng đế, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân. Người cháu của Lý
Bí là Lý Phật Tử tới đóng đô ở Cổ Loa, nhưng nền độc lập này chỉ kéo dài tới năm
602. Thời kỳ Nhà Đường, An Nam được chia thành 12 châu với 50 huyện, Tống
Bình là trung tâm của An Nam đô hộ phủ. Năm 866, viên tướng nhà Đường Cao
Biền xây dựng một thành trì mới, Tống Bình được đổi tên thành Đại La – thủ phủ
của Tĩnh Hải quân. Thế kỷ 10, sau chiến thắng của Ngô Quyền trước quân Nam
Hán, Cổ Loa một lần nữa trở thành kinh đô của nước Việt.
Như vậy, có thể thấy, trước khi Lý Công Uẩn quyết định dời đô, nơi đây đã là
một vùng đất khá phát triển, có vai trò khá quan trọng đối với chính quyền phong
kiến phương Bắc trong việc cai trị nước ta và đối với một số chính quyền tự chủ
của người Việt. Đó là cơ sở đưa đến sự phát triển của vùng đất này, đặt tiền đề cho
quyết định dời đô của Lý Công Uẩn sau này.
Nguyễn Thị Mơ – Lớp Văn học Việt Nam – Cao học Văn K55 Page 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status