Thể loại TỪ trong văn học trung đại Việt Nam - Pdf 19

MỤC LỤC
Tài liệu tham khảo tiếng Việt: 158
i
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Lịch sử văn học ở mức độ nhất định có thể hiểu là lịch sử của các thể loại văn
học. Do đó, nghiên cứu các thể loại văn học có thể góp phần soi sáng tiến trình lịch
sử văn học dân tộc. Gần đây, hướng nghiên cứu văn học trung đại theo thể loại được
giới nghiên cứu trong và ngoài nước đặc biệt quan tâm, đã xuất hiện nhiều công
trình, luận án nghiên cứu về các thể loại văn học trung đại như tiểu thuyết chữ Hán,
tiểu thuyết chương hồi, truyện thơ Nôm, thể kí trung đại Tuy nhiên, đối với thể
loại từ, đến thời điểm này mới chỉ có những nghiên cứu, mô tả bước đầu, đôi khi
còn nhiều nhầm lẫn, chưa đủ để mường tượng về sự vận động và phát triển cũng
như đóng góp của thể loại này trong văn học trung đại Việt Nam.
Từ là thể loại văn học có nguồn gốc Trung Quốc. Trong văn học Trung Quốc, đây
là thể loại quan trọng, nhiều thành tựu, đồng thời có ảnh hưởng đối với văn học các
nước Đông Á. Nghiên cứu thể loại từ trong văn học trung đại Việt Nam một mặt có thể
thấy rõ vị trí và sự đóng góp của nó cho văn học dân tộc, từ đó soi sáng thêm cho tiến
trình văn học sử; mặt khác, xem xét thể loại từ Việt Nam trong sự đối sánh với thể loại
này ở Trung Quốc và các nước Đông Á khác là hướng mở, không những có thể góp
phần làm sáng tỏ quy luật tiếp thu, kế thừa, sáng tạo của văn học dân tộc mà còn giúp
nhìn nhận nền văn học quá khứ của dân tộc trong những tương quan rộng hơn.
Vì những lí do đó, người viết chọn “Thể loại từ trong văn học trung đại Việt
Nam” làm đề tài luận án của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Luận án tổng thuật, nghiên cứu một cách tổng quan về thể loại từ ở Trung
Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, xem đó như một “bối cảnh rộng” để mường tượng,
định vị, so sánh với thể loại từ tại Việt Nam.
Đối với thể loại từ tại Việt Nam, luận án sưu tầm, giám định các văn bản có
ghi chép tác phẩm từ hiện còn, làm rõ tính chân ngụy của tác phẩm, phân định rõ về
1

hiệu thù học… để đối chiếu, giám định, xác minh văn bản.
Sau khi đã xác minh được vấn đề tác quyền của các tác phẩm, niên đại tác
phẩm, tiến hành hiệu khám, hiệu thù… người viết xác lập từ sử Việt Nam. Tiến thêm
một bước, áp dụng loại hình học để nghiên cứu về loại hình tác giả, chú ý ở các
phương diện trình độ học vấn, địa vị xã hội, khả năng tiếp xúc với thể loại từ Trung
Quốc, sự tác động ảnh hưởng lẫn nhau giữa các tác giả, động cơ sáng tác và quan
niệm từ học của họ…
Đối với các tác phẩm từ, người viết áp dụng từ chương học, thi pháp học, phong
cách học để nghiên cứu chúng từ nhiều phương diện khác nhau như mức độ tuân thủ từ
luật, các dạng thức biến thể của tác phẩm từ Việt Nam, quy trình lập ý, ngôn ngữ,
phong cách từ học…. Từ đó làm rõ các đặc điểm của thể loại từ Việt Nam thời trung đại
cùng những đóng góp cụ thể của thể loại này vào kho tàng văn học dân tộc.
Trong khi phân tích, giải mã tác phẩm, luận án tham khảo các nghiên cứu, phê
bình tác phẩm từ thời cổ trung đại như các quan niệm về bản sắc thể loại của Lí
Thanh Chiếu, “dĩ thi vi từ” của Tô Đông Pha, “dĩ văn vi từ” của Tân Khí Tật,
“cảnh giới nghệ thuật” của Vương Quốc Duy… đồng thời căn cứ vào nguồn ảnh
hưởng đến việc tác từ của từng tác giả cụ thể để tiếp cận quan điểm thẩm mĩ của từ
nhân và phong cách nghệ thuật của tác phẩm.
Ứng dụng phương pháp luận nghiên cứu văn học sử để xác định vị trí, vai trò
của đối tượng nghiên cứu trong bối cảnh văn hóa, văn học đương thời và trong tiến
trình lịch sử văn học.
Bên cạnh các phương pháp trên, luận án còn sử dụng các phương pháp khác
như thống kê phân loại, văn hóa học, so sánh văn học, v.v…
5. Một số khái niệm, thuật ngữ chính được sử dụng trong luận án
Bản sắc (本色): hay bản sắc đương hàng (當行本色), chỉ đặc trưng âm nhạc,
trữ tình, dụng điển… của từ, phân biệt với thơ ca.
3
Bi mĩ (悲美): cái bi trong từ, thiên về tình buồn, sử dụng nhiều từ ngữ mang
tâm trạng buồn, coi đó như một đặc trưng về cảm xúc và ngôn ngữ thể loại.
Biến cách (變格): hay biến thể (變体), các thể thức khác ngoài chính thể.

câu có vai trò dẫn khởi ý nghĩa của câu, hoặc của đoạn trong bài từ.
Liên chương từ (連章詞): Dạng từ được hình thành do sự kết nối từ nhiều bài
khác nhau.
Mạn từ (慢詞): chỉ các bài từ dài. Trong luận án, khái niệm này dùng thông
với khái niệm trường điệu (長調).
Phân cương (分疆): hay thi từ phân cương (詩詞分疆), chỉ sự khác biệt giữa thơ
và từ về thể thức, phạm vi đề tài, hình tượng nhân vật chính, các thủ pháp nghệ thuật…
cùng thái độ coi thơ là mạnh mẽ, tao nhã, tôn quý… coi từ là thấp kém, ủy mị như: thi
trang từ tục (詩莊詞俗), thi nhã từ tục (詩雅詞俗), thi tôn từ ti (詩尊詞卑)…
Phiến (片): một đoạn trong một bài từ. Trong từ, phân chia theo phiến gồm 4
loại: đơn phiến (單片, dùng thông với đơn điệu, gồm 1 đoạn), song phiến (雙片,
dùng thông với song điệu, chỉ các bài từ gồm 2 đoạn), tam điệp (三疊, chỉ các bài
từ gồm 3 đoạn), tứ điệp (四疊, chỉ các bài từ gồm 4 đoạn).
Quá phiến (過片): hay quá biến (過變), câu khởi đầu của đoạn thứ 2 trong
một bài từ hai đoạn (song phiến), có nhiệm vụ thừa tiếp ý của đoạn trên dẫn khởi
cho ý đoạn dưới.
5
Thi hóa (詩化): chỉ sự ảnh hưởng của thơ ca cũng như quan niệm thi giáo, thi ngôn
chí… đến từ, khiến từ từ thi dư (詩餘) có xu hướng dịch chuyển về địa hạt của thơ.
Tiểu đạo ( 小道): quan điểm cho từ là “cái đạo nhỏ nho”, bạc kĩ (薄 技 )…
không coi trọng thể loại từ.
Tiểu lệnh (小令), trung điệu (中調), trường điệu (長調): sự phân chia từ theo
độ dài tác phẩm, theo quan điểm của Cố Tòng Kính (顧從敬) thời Minh trong Loại
biên Thảo Đường thi dư (類編草堂詩餘): Tiểu lệnh gồm các bài từ dài 58 chữ trở
xuống, trung điệu: từ 59 chữ đến 90 chữ; trường điệu: từ 91 chữ trở lên.
Từ đề (詞題): nhan đề các bài từ, để khu biệt nội dung bài này với bài khác,
nhất là các bài cùng điệu do cùng một tác giả sáng tác.
Từ điệu (詞調): các điệu thức của từ, như: Nguyễn lang quy, Thập lục tự lệnh,
Mãn đình phương, Như mộng lệnh… Từ điệu cho biết cách luật của các bài từ.
Từ học (詞學): sử dụng theo hai hàm nghĩa: 1/ Chỉ thể loại từ nói chung, 2/

Nhật Bản, Triều Tiên và đặc biệt là các nhà nghiên cứu từ học Trung Quốc, luận án
tổng thuật, nghiên cứu một cách tổng quan về thể loại từ ở Trung Quốc, Nhật Bản
và Triều Tiên làm cơ sở để so sánh với thể loại từ tại Việt Nam.
Cho đến thời điểm này, luận án là công trình sưu tập đầy đủ nhất về thể loại từ
trong văn học trung đại Việt Nam, đồng thời đây cũng là công trình có sự nỗ lực xử
lí, giám định văn bản một cách riết ráo nhất.
Trên cơ sở khảo sát cụ thể, tổng kết thành tựu sáng tác từ tại Việt Nam thời
trung đại, luận án tiến hành phân kì từ sử, nghiên cứu sâu từng giai đoạn sáng tác từ
về các phương diện: đội ngũ tác giả, các nguồn ảnh hưởng đến việc tác từ, quan
1
Phần này mang tính chất thích nghĩa một số khái niệm, thuật ngữ từ học thường dùng trong luận án. Một số
khái niệm, thuật ngữ trên sẽ được trình bày sâu hơn ở Phụ lục 2.1.
7
niệm - động cơ sáng tác, quan niệm từ học, thể thức đã tiếp thu, các dạng thức biến
cách, nội dung và khuynh hướng nghệ thuật, từ đó làm rõ đặc điểm của thể loại từ ở
Việt Nam qua mỗi giai đoạn.
Đây là công trình nghiên cứu, tổng kết về thể loại từ tại Việt Nam, có thể dùng
làm tài liệu tham khảo cho những người nghiên cứu, giảng dạy văn học cổ trung đại
Việt Nam, đặc biệt là những người quan tâm nghiên cứu các thể loại văn học trung đại.

8
7. Cấu trúc luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án có cấu trúc gồm 4 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu thể loại từ Việt Nam
Chương 2: Thể loại từ ở các nước trong khu vực và thực trạng sáng tác từ
tại Việt Nam
Chương 3: Thể loại từ Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XVIII: Tiếp
nhận và tái tiếp nhận
Chương 4: Thể loại từ Việt Nam thế kỉ XIX: Thừa tiếp và phát huy
9

hồ, dường như chỉ căn cứ vào hình thức của thể từ và thể khúc nên đã dẫn đến nhận định sai về nguồn gốc thể
loại. Lại nói: “Tuy mỗi một khúc có một tên riêng, song có thể gọi tóm lại là Trúc chi từ, đặt câu dài ngắn,
nhiều ít không có luật nhất định”. Nhận định đó hoàn toàn sai lầm. Từ và khúc đều có nhiều điệu khác nhau.
Trúc chi từ chỉ là một trong mấy ngàn thể thức khác nhau của từ, hơn nữa cũng không phải thể thức đặc
trưng cho lối câu “dài ngắn không đồng đều” (trường đoản cú), vì thế từ khi thể loại từ xuất hiện cho đến
nay, chưa từng có tác giả nào dùng tên điệu Trúc chi từ làm tên gọi chung cho thể loại từ, huống chi là cả thể
từ và thể khúc! Hơn nữa, từ luật chặt chẽ, không có cái được gọi là “nhiều ít không có cách luật nhất định”.
v.v…
Nếu ở Quốc văn cụ thể Bùi Kỉ cho từ - khúc là dạng thức biến thể từ cổ thi, thì các tác giả sách Thơ ca Việt
Nam hình thức và thể loại lại nhầm lẫn khi cho “từ - khúc là tên gọi chung cho tất cả những bài hát cổ của
Trung Quốc, hoặc có tính chất dân gian, hoặc do văn nhân nghệ sĩ dựa theo lối Sở từ, nhạc phủ mà sáng tác”.
10
một số bài nghiên cứu sâu hơn nhưng vẫn không đủ cung cấp cho độc giả những
thông tin tổng quan về thể loại này, không đủ để hình dung một cách vừa bao quát
vừa cụ thể về thể loại từ tại Việt Nam.
Liên quan đến các hướng nghiên cứu về thể loại từ ở Việt Nam, có thể phân làm
hai nhóm, gồm: Các nghiên cứu trường hợp và các nghiên cứu mang tính chất tổng
quan về một giai đoạn cụ thể hoặc tổng quan về toàn bộ thể loại từ ở Việt Nam.
1.1.1. Những nghiên cứu trường hợp
Trong văn học Việt Nam, số lượng các sáng tác từ không phong phú như
nhiều thể loại khác, nhất là các thể loại được ứng dụng trong khoa cử. Vì vậy, việc
nghiên cứu thể loại này ít thu hút sự chú ý của giới học thuật.
Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu trường hợp là bài từ điệu Nguyễn lang quy
của Khuông Việt đại sư Ngô Chân Lưu. Tới nay, có gần 20 bài viết chuyên biệt về
tác phẩm nói trên. Người khởi đầu nghiên cứu chuyên sâu về bài từ này là Phạm Thị
Tú với bài “Về bài từ đầu tiên và tác giả của nó: sư Khuông Việt” (Tạp chí Văn
học, số 6 - 1974) [120], sau đó là các tác giả Nguyễn Tài Cẩn [28], Hoàng Văn Lâu
[67]. Trọng điểm nghiên cứu của các tác giả trên là lập trường ngoại giao của Ngô
Chân Lưu và các vấn đề liên quan đến văn bản bài từ.
Từ những năm 1990 trở đi, vấn đề văn bản tác phẩm này được các nhà nghiên

bản họ đưa ra không hoàn toàn giống nhau, tất nhiên cũng không giống văn bản mà
Alexandre Lê xác lập.
Do bài từ của Khuông Việt đại sư được ghi chép trong các thư tịch không hoàn
toàn thống nhất về niên đại, vì vậy, trong bài “Về bài từ Ngọc lang quy của Khuông
Việt” (Tạp chí Hán Nôm số 5 - 2005), Nguyễn Đình Phức dựa vào sử liệu Việt Nam
và Trung Quốc khẳng định niên đại bài từ của Ngô Chân Lưu vào năm Thiên Phúc
thứ 8 (987) là chuẩn xác. Niên đại theo Thiền uyển tập anh (Thiên Phúc thứ 7) là
nhầm lẫn [82]. Tác giả tiếp tục biện giải về mấy chữ “Ngọc lang quy” như Hoàng
Văn Lâu đã có lần đặt ra [67], cho ba chữ “Vương lang quy 王体歸” ở bản Thiền
uyển tập anh thời Tự Đức, chữ “Vương 王” trong cụm từ này do chữ “ngọc 玉” bị
thợ khắc làm mất đi một dấu chấm mà thành. Nếu vấn đề chỉ dừng ở phạm vi xác
12
định nhan đề bài từ (từ đề) là “Ngọc lang quy” hay “Nguyễn lang quy” thì sự luận
giải của tác giả là thuyết phục, song tác giả bài viết còn đặt vấn đề thể loại tác phẩm
của Ngô Chân Lưu là từ hay khúc thì điều đó là không thực sự cần thiết, vì ở thời
điểm Ngô Chân Lưu sáng tác bài từ này (năm 987), thể khúc chưa xuất hiện trên văn
đàn.
Bắt đầu từ bài viết của Phạm Thị Tú trên Tạp chí Văn học năm 1974, đến bài
viết của Nguyễn Đình Phức trên Tạp chí Hán Nôm năm 2005, trải qua 31 năm, các
vấn đề liên quan đến bài từ của Khuông Việt đại sư tuy đã được gợi mở khá nhiều
song chưa đi đến thống nhất, do vậy vẫn đòi hỏi tiếp tục nghiên cứu và từng bước
làm sáng tỏ. Trên Nghiên cứu Văn học, số 3 năm 2007, trong bài “Trở lại bài từ
Nguyễn lang quy của Khuông Việt đại sư Ngô Chân Lưu dưới góc nhìn từ sử”, trên
cơ sở các vấn đề nghiên cứu đã được giới học thuật đặt ra, chúng tôi tiến hành khảo
cứu, tổng kết nghiên cứu bài từ trên qua 4 phương diện: 1. Niên đại, 2. Thể loại, 3.
Tên tác phẩm, 4. Số chữ [6, tr.103-116]. Bài viết cũng chỉ rõ nguồn ảnh hưởng và
đặc trưng phong cách nghệ thuật của tác phẩm. Trên Tạp chí Hán Nôm số 1, năm
2010, chúng tôi đặt vấn đề “Có hay không yếu tố nữ trong bài từ điệu Nguyễn lang
quy của Khuông Việt đại sư”, chứng minh rằng bài từ trên thể hiện rất rõ yếu tố nữ.
Người viết cho rằng điều này do đặc trưng thể loại cùng phương thức tạo tác và

sử vấn đề nghiên cứu nên đa số lặp lại các vấn đề đã được đề cập hoặc giải quyết từ nhiều
năm, thậm chí là nhiều chục năm trước, hoặc thiên về bình tán, ít có giá trị tham khảo.
Sau Nguyễn lang quy của Khuông Việt, trọng điểm thứ hai thu hút sự chú ý
của giới nghiên cứu về từ là Mộng Mai từ lục, một từ tập chuyên biệt có dung lượng
khá lớn được coi là của Đào Tấn. Trước khi Mộng Mai từ lục được dịch công bố
năm 1982, trong phần “Tìm hiểu nhà thơ Đào Tấn”, sách Các nhà thơ cổ điển Việt
Nam (tập II, Nxb. Văn học, H.1982), Xuân Diệu dành 25 trang để viết về bộ phận
sáng tác từ trong tập Mộng Mai từ lục này. Trong bài viết khá dài, tác giả cho rằng
“Đào Tấn làm từ, như là ghi lại nhật kí tâm hồn”, hai cảm hứng chính trong từ của
ông là “Thậm cảm hưng vong việc nước nhà” và nỗi buồn thân thế [35, tr.375-
14
377] Phần viết về từ Đào Tấn của Xuân Diệu có nhiều trang tinh tế, song cũng
không ít trang thiên về bình tán, suy diễn; nhãn quan về từ của ông cơ hồ được
“bứng trồng” từ nhãn quan về thơ, do vậy tuy thấy được một số nét độc đáo của từ
so với thơ, nhưng lại không thấy đặc trưng vốn có của thể loại.
Với nhan đề “Đào Tấn một nhà viết từ khúc lỗi lạc” (Tạp chí Văn học số 2 -
1988), những tưởng tác giả Đỗ Văn Hỷ sẽ đi sâu nghiên cứu các tác bài “từ khúc”
của Đào Tấn, từ đó làm rõ cái “lỗi lạc” của tác giả này, nhưng thực ra trong bài viết
tác giả không hề nghiên cứu tác phẩm từ của Đào Tấn, chỉ dựa vào các tư liệu Trung
Quốc, từ đó cho biết một số “cái khó” trong việc làm từ, cuối bài viết là một vài
dòng đề cập đến Đào Tấn, cho rằng ông có sáng tác theo thể loại này, như vậy là
ông đã vượt qua được “cái khó” trên, vì thế kết luận đưa ra rằng Đào Tấn là “một
nhà từ khúc lỗi lạc” [51, tr.41]. Cách chứng minh của tác giả bài viết rõ ràng chưa
thuyết phục, thêm nữa những gì trình hiện trong bài viết cho thấy tác giả còn chưa
phân biệt được sự khác biệt giữa từ và khúc.
Trong tham luận mang tên “Một số vấn đề văn bản học của Mộng Mai từ lục”
nhân hội thảo Danh nhân Đào Tấn - sự nghiệp, tài năng và cống hiến (Tháng 8 năm
2007), trên cơ sở kế thừa sự gợi ý và những kết quả phân tích văn bản Mộng Mai từ
lục của học giả hải ngoại Trần Văn Tích
4

học, trên Tạp chí Hán Nôm, số 3 (106) năm 2011, chúng tôi công bố bài “Thêm một
số lưu ý về Mộng Mai từ lục của Đào Tấn”, chỉ ra thêm 4 tác phẩm của các từ nhân
Trung Quốc bị chép lẫn vào Mộng Mai từ lục, ngoài ra một số bài từ của từ nhân
Trung Quốc bị thay địa danh Trung Quốc thành địa danh Việt Nam, chứng tỏ trong
Mộng Mai từ lục không chỉ có hiện tượng chép lẫn quá nhiều tác phẩm từ của Trung
Quốc (43/60 tác phẩm, tương đương 71,6%) mà còn có dấu hiệu ngụy tạo văn bản
[17, tr.54-59]. Với thực trạng tác phẩm như vậy, có thể thấy ngay 17 bài còn lại
trong Mộng Mai từ lục không phải bài nào cũng có thể yên tâm về mặt tác quyền.
Kết quả này đồng thời cho thấy, những công trình, bài viết mang tính chất phẩm
bình, phát huy nghĩa lí các tác phẩm trong Mộng Mai từ lục từ trước đến thời điểm
này hầu như không còn giá trị.
16
Liên quan đến một số tác giả, tác phẩm từ khác, chúng tôi đã công bố một số
kết quả nghiên cứu như: “Về Nguyễn Húc và bộ Cưu đài thi tập hiện còn” (Tạp chí
Nghiên cứu Văn học, số 2 - 2006), chỉ ra rằng bộ Cưu đài thi tập hiện còn vốn được
coi là tác phẩm của Nguyễn Húc người thời Lê sơ, là tác phẩm ngụy tạo bằng cách
chép nguyên tác phẩm của Thang Truyền Doanh ( 湯 傳 楹 , 1620-1644), một thi
nhân, từ nhân cuối thời Minh, đầu thời Thanh, Trung Quốc, do vậy, 31 bài từ trong
sách này cũng đều là tác phẩm ngụy tạo trên cơ sở tập Tương Trung thảo từ của tác
giả Trung Quốc trên; trong bài “Hoa viên kì ngộ - gốc gác và sáng tân” (Tạp chí
Nghiên cứu Văn học, số 9 năm 2007), người viết chứng minh sách Hoa viên kì ngộ,
một tiểu thuyết diễm tình thời trung đại vốn được viết lại trên cơ sở tập tiểu thuyết
diễm tình Quốc sắc thiên hương (國色天香) của Ngô Kính Sở (吳敬所) thời Minh,
do đó, các bài từ trong sách này hoặc mô phỏng theo các bài từ trong Quốc sắc
thiên hương, hoặc sáng tác theo gợi ý của tác phẩm này; trong bài “Cổ điệu ngâm
từ không phải từ tập của Việt Nam” (Tạp chí Hán Nôm, số 3 năm 2007), chúng tôi
chỉ ra hầu hết các bài từ trong từ tập này đều là chép nguyên tác phẩm từ của từ
nhân Trung Quốc các giai đoạn khác nhau; trong bài “Một số hiện tượng bất ổn
trong văn bản Lưu Hương kí” (Nghiên cứu Văn học, số 11, năm 2008), chúng tôi
tiến hành giám định văn bản một số bài từ trong Lưu Hương kí, chỉ ra rằng các bài

Nguyễn Huy Oánh, Ngô Thì Sĩ, v.v và v.v hoàn toàn vắng bóng trong bảng thống
kê này. Trừ đi những trường hợp nhầm lẫn về tác giả và tác phẩm, thống kê của
Trần Nghĩa thực chất chỉ còn 12 tác giả, với 162 bài từ. Mặc dù chưa thực sự đi sâu
nghiên cứu “thể loại từ của Trung Quốc du nhập vào Việt Nam và ảnh hưởng của
nó đến văn học bản địa” như đúng nhan đề bài viết, song trên tinh thần cơ bản, có
thể khẳng định đây là bài viết thể hiện công phu, sự chú tâm của tác giả trong việc
tập kết các sáng tác từ của các tác giả Việt Nam nằm rải rác trong kho sách Hán
Nôm, bước đầu giúp người đọc mường tượng về vị trí của thể loại này trong lịch sử
văn học dân tộc.
18
Cùng vấn đề trên, tại Hội thảo quốc tế Văn học Việt Nam trong bối cảnh giao
lưu văn hóa khu vực và quốc tế (Vietnamese Literature in the Regional and
International Context of Cultural Exchanges), tổ chức tại Hà Nội tháng 11 năm
2006, chúng tôi công bố bài viết “Sự tiếp nhận thể loại từ ở Việt Nam - khảo sát từ
thời tự chủ cho đến hết thời Lê trung hưng”, tiến hành nghiên cứu sự tiếp nhận và
sáng tác từ Việt Nam từ khởi đầu đến hết thời Lê trung hưng, tập trung nghiên cứu
sâu về thể loại từ thời Lê trung hưng về các phương diện: vị trí tàng bản và số lượng
tác phẩm, các khả năng và nguồn ảnh hưởng đến việc tác từ của các tác giả, vị trí
của tác phẩm từ giai đoạn này trong các thư tịch và sự gợi mở của nó trong việc tìm
hiểu quan niệm sáng tác của các tác giả, nội dung và thủ pháp nghệ thuật. Trong
luận văn thạc sĩ bảo vệ tháng 4 năm 2007 mang tên Thể loại Từ thời Lê trung hưng,
chúng tôi giới thiệu những nét cơ bản về nguồn gốc, sự vận động của thể loại từ ở
Trung Quốc về phương diện sáng tác và lí luận từ học, các đặc điểm bút pháp của
thể loại từ. Đối với thể loại từ Việt Nam, tác giả luận văn sưu tập, giám định văn
bản tác phẩm từ Việt Nam từ khởi đầu đến đầu thế kỉ XX. Trọng tâm nghiên cứu
của luận văn là các vấn đề liên quan đến thể loại từ từ khởi đầu đến hết thời Lê
trung hưng (hết thế kỉ XVIII), đặc biệt là giai đoạn thời Lê trung hưng (từ thế kỉ
XVI đến hết thế kỉ XVIII). Cùng với bài viết “Một số nét cơ bản về thể loại từ ở
Việt Nam” (Tạp chí Hán Nôm, số 4, năm 2009), chúng tôi đã trình bày kết quả
nghiên cứu tổng quan về thể loại từ ở Việt Nam, đặc biệt đã phác họa khá rõ nét về

bằng chữ Nôm trong Sơ kính tân trang, Phạm Thái không có tác phẩm từ nào khác.
Do đó, Tưởng Quốc Học sai lầm khi tin vào Vu Tạ Chiếu mà cho là “Sau khi
truyền vào Việt Nam, chỉ có một số ít thi nhân cổ điển như Phạm Thái, Trương
Quỳnh Như… dùng chữ Hán để làm từ” [196, tr.100]. Trong điều kiện tư liệu hạn
hẹp, họ Tưởng chỉ có thể tin vào nhận định của Vu Tạ Chiếu, rằng “tại Việt Nam,
từ nhân thực sự e là chỉ có một mình Miên Thẩm” [196, tr.100], từ đó triển khai ý
tưởng toàn bài, do vậy bất cập là điều không thể tránh khỏi.
20
Năm 2008, trên tờ Quảng Tây đại học học báo, Hà Thiên Niên (何仟年) có
bài “Việt Nam đích điền từ cập từ học -Hán văn học di thực bối cảnh đích văn thể
án lệ” (Điền từ và từ học ở Việt Nam - Một nghiên cứu trường hợp về thể loại văn
học trong bối cảnh di thực của văn học Hán) [213, tr.55-60]. Bài viết trình bày một
cách khá bao quát về thực tiễn sáng tác từ và phương diện từ học ở Việt Nam, có thể
coi đây là một trong những bài viết khá sâu của một nhà nghiên cứu nước ngoài
từng trực tiếp tiếp xúc và xử lí tư liệu trong kho sách Hán Nôm Việt Nam. Tuy
nhiên, ngoài một số điểm hợp lí như lí giải về tình trạng kém phát triển của từ Việt
Nam, đưa ra một số gương mặt từ gia tiêu biểu của thời Nguyễn, một số sách có ghi
tác phẩm từ… bài viết vẫn không tránh khỏi bất cập. Chẳng hạn các sách có ghi về
từ của Việt Nam mà Hà Thiên Niên đưa ra chủ yếu thuộc thời Nguyễn, dường như
tác giả không biết gì thêm về sáng tác từ giai đoạn trước đó ngoài bài Nguyễn lang
quy của Ngô Chân Lưu sáng tác thời Tiền Lê và một bộ phận sáng tác từ của Phan
Huy Ích thuộc giai đoạn Tây Sơn, do vậy sự mô tả từ sử Việt Nam của tác giả tuy có
chi tiết hơn Tưởng Quốc học song vẫn rất phiến diện. Thêm nữa, ngay cả các sách
chép tác phẩm từ mà tác giả đưa ra, cùng số lượng các bài từ trong đó cũng không
hoàn toàn chuẩn xác, nguyên nhân chủ yếu là do tác giả không nhận dạng đúng tác
phẩm từ. Trong bài, Hà Thiên Niên dựa vào bộ Việt Nam Hán Nôm văn hiến mục
lục đề yếu (越南漢体文獻目錄提要) của Vương Tiểu Thuẫn (王小盾) xuất bản tại
Đài Loan, thống kê được 7 tác giả từ Việt Nam với 129 bài; như vậy, thống kê của
Hà Thiên Niên về tác giả tác phẩm từ Việt Nam kém hơn so với thống kê mà Trần
Nghĩa đã thực hiện và công bố trước đó 3 năm. Điều cần lưu ý là tuy Hà Thiên Niên

trước lời sau), “ỷ thanh
điền từ” (倚聲体詞 - nương vào âm nhạc để điền lời); trên cơ sở bản nhạc có sẵn,
người viết từ - từ nhân (詞人), điền lời vào cho bản nhạc ấy để diễn xướng, phần lời
đó chính là từ, còn thao tác viết từ gọi là điền từ (体詞), ỷ thanh (倚聲), y thanh (依
聲) Sau khi từ nhạc dần thất truyền, các điệu từ được khái quát thành các khung
cách luật gọi là từ phổ, việc điền từ do đó cũng có sự thay đổi, từ “ỷ thanh điền từ”
chuyển sang “án phổ điền từ” (按譜体詞).
Ngoài tên gọi là từ, hay khúc tử từ, thể loại này còn có nhiều cách gọi khác
như: thi dư (詩餘), trường đoản cú (長短句), nhạc phủ (樂府), nhạc chương (樂章),
biệt điệu (別調), ca khúc (歌曲), ngữ nghiệp (語業) mỗi một tên gọi mang những
hàm nghĩa nhất định.
Xét về hình thức, các bài từ chủ yếu dùng lối câu dài ngắn không đồng đều
(trường đoản cú), với hàng ngàn thể thức (điệu, thể) khác nhau. Từ có thủ pháp
nghệ thuật, phạm vi đề tài và giá trị thẩm mĩ riêng [Xem thêm ở Phụ lục 2.1]. Từ
5
Âm nhạc của từ là yến nhạc (宴樂), một dạng thức âm nhạc hình thành thời Tùy - Đường, là sự kết hợp
giữa âm nhạc ngoại vực và Trung nguyên, chuyên dùng trong việc vui chơi, yến ẩm; phân biệt với nhã nhạc
(雅樂) và thanh thương nhạc (体商樂), vốn là loại nhạc có tính “chính quy”, thường dùng trong các hoạt
động có tính chất chính thống, quan phương.
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status