PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Lịch sử văn học ở mức độ nhất định có thể hiểu là lịch sử của các thể loại
văn học. Do đó, nghiên cứu các thể loại văn học có thể góp phần soi sáng tiến trình
lịch sử văn học dân tộc. Gần đây, hướng nghiên cứu văn học trung đại theo thể loại
được giới nghiên cứu trong và ngoài nước đặc biệt quan tâm, đã xuất hiện nhiều
công trình, luận án nghiên cứu về các thể loại văn học trung đại như tiểu thuyết chữ
Hán, tiểu thuyết chương hồi, truyện thơ Nôm, thể kí trung đại Tuy nhiên, đối với
thể loại từ, đến thời điểm này mới chỉ có những nghiên cứu, mô tả bước đầu, đôi khi
còn nhiều nhầm lẫn, chưa đủ để hình dung về sự vận động và phát triển cũng như
đóng góp của thể loại này trong văn học trung đại Việt Nam.
Từ là thể loại văn học có nguồn gốc Trung Quốc. Trong văn học Trung Quốc,
đây là thể loại quan trọng, nhiều thành tựu, đồng thời có ảnh hưởng đối với văn học
các nước Đông Á. Nghiên cứu thể loại từ trong văn học trung đại Việt Nam một mặt
có thể thấy rõ vị trí và sự đóng góp của nó cho văn học dân tộc, từ đó soi sáng thêm
cho tiến trình văn học sử; mặt khác, xem xét thể loại từ Việt Nam trong sự đối sánh
với thể loại này ở Trung Quốc và các nước Đông Á khác là hướng mở, không
những có thể góp phần làm sáng tỏ quy luật tiếp thu, kế thừa, sáng tạo của văn học
dân tộc mà còn giúp nhìn nhận nền văn học quá khứ của dân tộc trong những tương
quan rộng hơn.
Vì những lí do đó, người viết chọn “Thể loại từ trong văn học trung đại Việt
Nam” làm đề tài luận án của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Luận án tổng thuật, nghiên cứu một cách tổng quan về thể loại từ ở Trung
Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, xem đó như một “bối cảnh rộng” để định vị, so sánh
với thể loại từ tại Việt Nam.
Đối với thể loại từ tại Việt Nam, luận án sưu tầm, giám định các văn bản có
ghi chép tác phẩm từ hiện còn, làm rõ tính chân ngụy của tác phẩm, phân định rõ về
tác quyền cũng như niên đại tác phẩm; trên cơ sở đó tổng kết thành tựu sáng tác từ ở
Việt Nam thời trung đại.
Tiến hành phân kì từ sử Việt Nam, đồng thời nghiên cứu đặc điểm của thể
Trong nghiên cứu từ học, hệ thống thuật ngữ, khái niệm chuyên biệt rất phong
phú, luận án chỉ nêu vắn tắt về 39 thuật ngữ, khái niệm từ học được sử dụng với tần
suất cao nhất, một số trong số đó được đề cập sâu hơn ở phần Phụ lục 2.1.
6. Đóng góp mới của luận án
Trên cơ sở kế thừa, tiếp thu thành tựu nghiên cứu của giới nghiên cứu từ học
Nhật Bản, Triều Tiên và đặc biệt là các nhà nghiên cứu từ học Trung Quốc, luận án
tổng thuật, nghiên cứu một cách tổng quan về thể loại từ ở Trung Quốc, Nhật Bản
và Triều Tiên làm cơ sở để so sánh với thể loại từ tại Việt Nam.
Cho đến thời điểm này, luận án là công trình sưu tập đầy đủ nhất về thể loại
từ trong văn học trung đại Việt Nam, đồng thời đây cũng là công trình có sự nỗ lực
xử lí, giám định văn bản một cách riết ráo nhất. Trên cơ sở khảo sát cụ thể, tổng kết
thành tựu sáng tác từ tại Việt Nam thời trung đại, luận án tiến hành phân kì từ sử,
nghiên cứu sâu từng giai đoạn sáng tác từ về các phương diện: đội ngũ tác giả, các
nguồn ảnh hưởng đến việc tác từ, quan niệm – động cơ sáng tác, quan niệm từ học,
thể thức đã tiếp thu, các dạng thức biến cách, nội dung và khuynh hướng nghệ thuật,
từ đó làm rõ đặc điểm của thể loại từ ở Việt Nam qua mỗi giai đoạn.
2
7. Cấu trúc luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án có cấu trúc gồm 4 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu thể loại từ Việt Nam
Chương 2: Thể loại từ ở các nước trong khu vực và thực trạng sáng tác từ tại
Việt Nam.
Chương 3: Thể loại từ Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XVIII: Tiếp nhận
và tái tiếp nhận
Chương 4: Thể loại từ Việt Nam thế kỉ XIX: Thừa tiếp và phát huy
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THỂ LOẠI TỪ VIỆT NAM
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu thể loại từ Việt Nam
Ở Việt Nam từ những năm 50 của thế kỉ XX trở lại đây, trong một số sách đã
hành thống kê, phân kì từ sử Việt Nam đồng thời có một số nhận định bước đầu về
thực trạng sáng tác từ ở Việt Nam.
Tại Trung Quốc, năm 2004, trên tờ Giải phóng quân Ngoại quốc ngữ học viện
học báo, Tưởng Quốc Học (蔣國學) có bài “Từ tại Việt Nam vị năng hưng thịnh đích
nguyên nhân thám tích” (Tìm hiểu về nguyên nhân khiến thể loại từ Việt Nam không
phát triển hưng thịnh), song cũng mới chỉ mô tả về thể loại từ ở Việt Nam một cách
sơ lược. Năm 2008, trên tờ Quảng Tây đại học học báo, Hà Thiên Niên (何仟年)
trong bài “Việt Nam đích điền từ cập từ học –Hán văn học di thực bối cảnh đích văn
thể án lệ” (Điền từ và từ học ở Việt Nam – Một nghiên cứu trường hợp về thể loại
văn học trong bối cảnh di thực của văn học Hán) đã tiến hành thống kê tác giả, tác
phẩm từ Việt Nam đồng thời đưa ra một số nhận định ban đầu.
Trong số các bài viết của 4 tác giả trên đây, bài viết của Trần Nghĩa và Hà
Thiên Niên thể hiện công phu sưu tập, nghiên cứu thực sự dù còn ở mức độ sơ lược.
Tuy nhiên, đáng lưu ý là con số thống kê của hai tác giả nói trên đưa ra còn nhiều
thiếu sót và nhầm lẫn, dẫn đến các kiến giải chưa đủ thức thuyết phục.
Ngoài các bài viết đã đề cập còn một số nghiên cứu của Phạm Văn Ánh, như các
bài: “Một số nét cơ bản về thể loại từ ở Việt Nam” (Tạp chí Hán Nôm, số 4, 2009), mang
tính khái lược về thành tựu sáng tác từ và từ sử Việt Nam; “Thể loại từ ở Việt Nam từ thế
kỉ X đến hết thế kỉ XVIII” (Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 8-9, 2012), nghiên cứu
chuyên sâu về thể loại từ Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XVIII trên một số phương
diện như số lượng tác giả, tác phẩm, thể thức, nội dung, nghệ thuật
TIỂU KẾT:
Có thể thấy những năm gần đây, thể loại từ ở Việt Nam đã thu hút được sự
chú ý của giới học thuật trong và ngoài nước. Qua các công trình đã công bố, chỉ có
trường hợp bài từ điệu Nguyễn lang quy của Ngô Chân Lưu là được nghiên cứu một
các đa diện và chuyên sâu. Các nghiên cứu khác hoặc giải quyết một vài vấn đề cụ
thể, hoặc mới chỉ dừng ở mức độ nghiên cứu một số phương diện của một giai đoạn
từ sử nhất định. Việc khảo sát và nghiên cứu tổng quan về thành tựu sáng tác từ tại
Việt Nam còn nhiều bất cập, cần có những nghiên cứu toàn diện và sâu sắc hơn.
4
biệt là thành tựu sáng tác từ của Hoa gian phái.
Sang thời Tống (960-1279), kế thừa thành tựu phát triển của thể loại từ các
giai đoạn trước, đặc biệt là giai đoạn Ngũ đại, bên cạnh đó là chính sách sùng văn ức
võ và sự phát triển mạnh mẽ của các đô thị, thể loại từ thời Tống dần phát triển vượt
5
bậc, đạt đến đỉnh cao. Nói về thành tựu của từ giai đoạn này, Vương Quốc Duy (王
國維, 1877-1927) cho rằng Tống từ đã đạt đến mức là “văn học của một thời đại mà
các đời sau chẳng thể nào theo kịp” (Tống Nguyên hí khúc sử - Tự tự), dẫn đến cách
gọi định danh thể loại gắn với triều đại là “Tống từ”. Sự phát triển của thể loại từ thời
Tống thể hiện ở một số điểm cơ bản: phát triển vượt bậc về số lượng tác giả - tác
phẩm, hoàn thiện về thể thức, thuần thục về nghệ thuật, đa dạng về phong cách và
nội dung biểu đạt. Không chỉ vậy, ở giai đoạn này, quan niệm từ học cũng có nhiều
nét thú vị như quan điểm “dĩ thi vi từ” (lấy thơ làm từ) của Tô Đông Pha (蘇東坡,
1037-1101), “biệt thị nhất gia” của Lí Thanh Chiếu (李填照, 1084-1151), “dĩ văn vi
từ” của Tân Khí Tật (辛棄疾, 1140-1207), v.v…
Do từ nhạc thất truyền, sự thay thế của bắc khúc từ suy thoái vào thời Kim
(1115-1234) - Nguyên (1271-1368). Thời Minh (1368-1644), từ được sáng tác tương
đối phổ biến song không có thành tựu thật sự nổi bật. Thời Thanh (1644-1912) là
giai đoạn phục hưng của thể loại từ. Bên cạnh các thành tựu về sáng tác, thể loại từ ở
Trung Quốc còn đạt nhiều giá trị về phương diện lí luận từ học.
Từ là một thể loại có thành tựu đặc biệt trong nền văn học Trung Quốc. Trải
qua hơn một nghìn năm vận động và phát triển, thể loại từ ở Trung Hoa qua nhiều
giai đoạn khác nhau, về thể thức cũng như khuynh hướng nghệ thuật có nhiều biến
đổi qua các giai đoạn.
2.2.2. Thể loại từ ở Nhật Bản
Tại Nhật Bản, từ được tiếp nhận từ đầu thế kỉ XIX với chùm từ 5 bài Ngư ca
tử của Thiên hoàng Saga (嵯峨天皇, 786-842), song trải nhiều thế kỉ, thể loại từ ở
Nhật Bản gần như không phát triển, tới thế kỉ XVII mới ít nhiều khởi sắc. Đến thế kỉ
XIX, thể loại từ Nhật Bản có nhiều thành tựu đáng ghi nhận, tiêu biểu nhất là các
sáng tác của Điền Năng Thôn Trúc Điền ( 田 能 村 竹 田, 1777-1835) và Lâm Hòe
các sách về từ phổ, từ luật. Do vậy, một tác phẩm được coi là thuộc thể loại từ thì
phải có từ điệu và từ điệu đó từng được các sách về từ phổ, đồ phổ, từ luật ghi nhận.
Nếu tác phẩm không có từ điệu thì phải thuộc từ tập chuyên biệt và có thể thức đặc
trưng của thể loại từ.
2/ Tác phẩm không thuộc hai trường hợp trên thì phải được tác giả coi là từ,
hoặc sách có chép tác phẩm đó ghi rõ nó là sáng tác từ.
3/ Những bài mang các tên gọi khác của từ như “trường đoản cú”, “nhạc
chương”, cũng cần kiểm tra kĩ về cách luật bởi chúng không nhất thiết thuộc thể từ.
4/ Những bài mà tên gọi mang chữ “từ” như: Yến tử từ, Cung từ, Xuân từ, Thu
từ có khi chỉ là thơ cung từ, hoặc cổ phong; nếu không có tên điệu, không thuộc từ
tập, không có những đặc trưng thể thức của từ thì không được coi là tác phẩm từ.
5/ Các bài thuộc điệu Liễu chi, Trúc chi có bài thuộc thơ cổ phong, có bài
thuộc thơ cận thể, có bài thuộc thể từ, nếu không thuộc các từ tập, dạng thức cách luật
không đúng từ luật thì không được coi là từ.
Trong tất cả các trường hợp kể trên đều cần phải kiểm tra kĩ về dạng thức
cách luật của từng tác phẩm.
2.3.2. Khảo biện tác giả, tác phẩm từ Việt Nam qua các nguồn tư liệu
2.3.2.1. Khảo biện qua các truyện kí, tiểu thuyết:
7
Luận án sưu tập, khảo biện tác giả, tác phẩm từ Việt Nam qua 8 tài liệu,
gồm: 1/ Thiền uyển tập anh, 2/ Tam tổ thực lục, 3/ Truyền kì tân phả, 4/ Hoa viên kì
ngộ, 5/ Sơ kính tân trang, 6/ Đồng song kí, 7/ Việt Nam kì phùng sự lục, 8/ Truyện
kí trích lục, xác định được 8 tác giả, 29 bài từ .
8
2.3.2.2. Khảo biện qua các thi văn tập:
Luận án sưu tập, khảo biện tác giả, tác phẩm từ Việt Nam qua 27 tài liệu,
gồm : 1/ Cưu đài thi tập, 2/ Ngôn chí thi tập, 3/ Phủ chưởng tân thư, 4/ Hoa trình
ngẫu bút lục, 5/ Hồng Ngư trú tú lục, 6/ Bách liêu thi văn tập, 7/ Anh ngôn thi tập,
8/ Anh ngôn thi tập hạ, 9/ Ngọ Phong văn tập, 10/ Thạc Đình di cảo, 11/ Thạch
Động tiên sinh thi tập, 12/ Dụ Am ngâm tập, 13/ Thủy vân nhàn vịnh tập, 14/ Châu
(bài)
Giai đoạn từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XVII
1. Thiền uyển tập anh Ngô Chân Lưu (933-1011) 1
2. Tam tổ thực lục Lí Đạo Tái (1254-1334) 1
3. Ngôn chí thi tập Phùng Khắc Khoan (1528-1613) 3
Tổng số: 3 tác giả, 5 bài từ
Giai đoạn thế kỉ XVIII
4. Truyền kì tân phả Đoàn Thị Điểm (1705-1748) 6
5.
Phủ chưởng tân thư
Đặng Trần Côn (Nửa đầu thế kỉ XVIII) 9
6. Nguyễn Ngọc Thiềm (nửa đầu thế kỉ
XVIII)
8
7. Hoa trình ngẫu bút lục Lê Quang Viện (Nửa sau thế kỉ XVIII), 4
8. Hồng Ngư trú tú lục Học trò mừng Nguyễn Nghiễm (1708-
1775)
1
9. Bách liêu thi văn tập Trần Danh Lâm (1705-1777) 1
10. Anh ngôn thi tập
Ngô Thì Sĩ (1726-1780)
7
11. Anh ngôn thi tập hạ 10
12. Ngọ Phong văn tập 4
13. Thạc Đình di cảo Nguyễn Huy Oánh (1713-1789) 9
14. Thạch Động tiên sinh thi tập Phạm Nguyễn Du (1739-1786) 5
15. Dụ Am ngâm tập Phan Huy Ích (1750-1822) 11
16. Châu Phong tạp thảo Phạm Đình Hổ (1768-1839) 6
17. Hoa viên kì ngộ tập Khuyết danh (Cuối thế kỉ XVIII) 7
Tổng số: 12 tác giả, 88 bài từ
34. Nguyễn Hoàng Trung thi tạp
tập
Nguyễn Hoàng Trung thế kỉ (XIX ) 22
35. Diệu Liên thi tập Mai Am (1826-1904) 2
36. Mộng Mai từ lục Đào Tấn (1845-1907) 17
37. Nguyễn đại nhân thí trúng
hạ tập
Bùi Lương (Cuối XIX) 1
38. Đồng song kí Khuyết danh (Thế kỉ XIX) 6
39. Việt Nam kì phùng sự lục Khuyết danh (cuối thế kỉ XIX) 3
40. Truyện kí trích lục Mai Cát Phủ (Cuối thế kỉ XIX) 1
Tổng số: 22 tác giả, 211 bài từ .
Căn cứ vào thực tế sáng tác từ ở Việt Nam, có thể phân chia từ sử Việt Nam
thành 2 giai đoạn lớn: 1/ Giai đoạn thứ nhất từ năm 987 đến hết thế kỉ XVII, là giai
đoạn thể loại từ được tiếp nhận và ít nhiều được vận dụng trong sáng tác, song gần
như không phát triển; 2/ giai đoạn thứ hai từ thế kỉ XVIII đến hết thế kỉ XIX là giai
đoạn thể loại từ xuất hiện trở lại sau một thời gian dài vắng bóng, được sáng tác một
cách thường xuyên hơn, dần dần đạt đến đỉnh cao nhất vào nửa sau thế kỉ XIX. Ở
giai đoạn thứ hai này có thể phân chia thành hai giai đoạn nhỏ hơn: 1/ Giai đoạn thứ
nhất tương ứng với thế kỉ XVIII, là giai đoạn xuất hiện trở lại của thể loại từ, và từ
đây, thể loại văn học này được sáng tác một cách khá thường xuyên, tạo đà cho giai
đoạn sau; 2/ Giai đoạn thứ hai tương ứng với thế kỉ XIX, là giai đoạn thể loại từ tiếp
tục được duy trì và phát triển đến đỉnh cao.
TIỂU KẾT:
Từ là thể loại văn học quan trọng trong lịch sử văn học Trung Quốc. Từ khi
xuất hiện đến thời quân chủ, thể loại này trải nhiều giai đoạn khác nhau, có toàn
thịnh, suy thoái đồng thời về quan niệm thẩm mĩ cũng không hoàn toàn nhất quán.
Cùng với ảnh hưởng của chữ Hán, văn hóa Hán, giống như nhiều thể loại văn học
có nguồn gốc Trung Quốc khác, thể loại này sớm được các nước Đông Á tiếp thu và
vận dụng trong sáng tác, dần trở thành một thể loại văn học có tính chất khu vực.
cấp, có vị trí đặc biệt trong hệ thống chính trị đương thời; có thể nói họ đều là những
“nhân vật chính trị”. Trong số này có 2 tác giả là những Thiền sư nổi tiếng trong lịch
sử (Khuông Việt đại sư Ngô Chân Lưu, Huyền Quang Lí Đạo Tái). Đó là nét khu
biệt với đội ngũ tác giả từ các giai đoạn sau.
3.1.2. Các nguồn ảnh hưởng đến việc tác từ
Xem xét trên các phương diện phương thức chế tác, nội dung và phong cách
từ, có thể thấy ảnh hưởng của thể loại từ thời Ngũ đại mà gần gũi nhất là từ phong
của triều Nam Đường đến sáng tác từ của Ngô Chân Lưu. Các sáng tác của Lí Đạo
Tái và Phùng Khắc Khoan có dấu vết ảnh hưởng của thể loại từ từ thời Tống về sau.
3.1.3. Quan niệm, động cơ sáng tác
Nếu ở Trung Quốc, từ thiên về trữ tình, nhất là tình cảm cá nhân, nam nữ
luyến ái thì sáng tác từ giai đoạn này ngay từ tác phẩm đầu tiên đã được dùng để
phục vụ phục vụ mục đích chính trị. Các tác phẩm khác đều được dùng để thể hiện,
đề cao đạo hiếu và ngôn chí.
3.1.4. Văn bản và thể thức
12
Tác phẩm từ giai đoạn này có nhiều biến dạng về văn bản. Có 2 lí do dẫn đến tình
trạng đó: 1/ Do truyền bản qua thời gian lâu dài với nhiều yếu tố tác động ảnh hưởng
khác nhau (như trường hợp sáng tác của Ngô Chân Lưu, Lí Đạo Tái), 2/ Do tác giả không
tuân thủ nghiêm ngặt từ luật (tiêu biểu là các sáng tác của Phùng Khắc Khoan).
3.1.5. Nội dung và phong cách nghệ thuật
Bài từ điệu Nguyễn lang quy của Ngô Chân Lưu sáng tác tiễn sứ giả nhà Tống
là Lí Giác về nước tiêu biểu cho nghệ thuật điền từ với tư cách là thể loại thơ ca hợp
nhạc, dùng để diễn xướng, tiếp cận với đặc trưng phong cách thể loại từ thời Ngũ
đại. Đây là tác phẩm mở đầu thể loại từ ở Việt Nam đồng thời cũng là một trong
những tác phẩm mở đầu lịch sử văn học dân tộc, ngôn từ trau chuốt, hoa mĩ, “có thể
vốc được” (Lê Quý Đôn – Toàn Việt thi lục), lập ý khéo léo, vừa đảm bảo yếu tố
diễm mĩ vừa đảm bảo yếu tố bi mĩ, có thể coi là một trong những bài từ xuất sắc nhất
trong từ sử Việt Nam. Các sáng tác của Lí Đạo Tái và Phùng Khắc Khoan nói về đạo
hiếu và chí hướng phò vua giúp nước, đã có biểu hiện của xu hướng thi hóa thể loại
3.2.4. Thể thức
3.2.4.1. Các điệu thức đã được tiếp thu
Thống kê 88 tác phẩm từ Việt Nam giai đoạn thế kỉ XVIII cho thấy chúng
thuộc về 54 điệu, trong đó các điệu được sử dụng một cách thường xuyên nhất là:
Mãn đình phương – 7 lần, Vọng Giang Nam (hay cũng gọi là điệu Giang Nam hảo)
– 6 lần, Tây giang nguyệt – 5 lần.
Xét về cú thức, trong các sáng tác từ giai đoạn này có sự hiện diện của 8 trong
tổng số 11 kiểu câu của từ, bao gồm: câu 2 chữ, 3 chữ, 4 chữ, 5 chữ, 6 chữ, 7 chữ, 8
chữ và câu 9 chữ, không có các câu 1 chữ, 10 chữ và 11 chữ; cách cách ngắt câu
cũng hết sức phong phú.
3.2.4.2. Về phương diện gieo vần
Các tác phẩm từ thế kỉ XVIII thuần túy gieo vần chân theo 3 cách: 1/ Dùng
thuần vần bằng, 2/ Dùng thuần vần trắc, 3/ Dùng vần bằng và vần trắc đan xen nhau.
Đây cũng là nét khá đặc biệt so với cách gieo vần của các thể thức thơ cận thể vốn là
thể thức quen thuộc, sở trường của nhà nho Việt Nam.
3.2.4.3. Về ngôn ngữ
Ngôn ngữ từ giai đoạn thế kỉ XVIII thiên về trang trọng, tao nhã, đặc biệt là
từ trong các thi tập; đôi khi cũng có tác giả khá chuộng dùng điển, như trường hợp
các bài từ của Nguyễn Huy Oánh. Lãnh cú tự có xuất hiện nhưng rất ít, đến mức
không đáng kể.
3.2.4.4. Phân loại theo loại và phiến
Các tác phẩm từ giai đoạn thế kỉ XVIII, dạng tiểu lệnh - song điệu vẫn chiếm
số lượng lớn nhất. Trong số 88 bài từ giai đoạn này chỉ có 1 bài làm theo lối tam
điệp, toàn bài phân làm ba phiến, đó là bài từ điệu Nguyệt trung hành của Phạm
Nguyễn Du. Thực ra, điệu Nguyệt trung hành theo từ phổ là loại song điệu, có 2 thể:
48 chữ và 50 chữ, xét tổng số chữ theo từ phổ, bài trên vẫn thuộc loại tiểu lệnh,
nhưng khi tiếp thu điệu từ này, Phạm Nguyễn Du đã “chế biến” và “nâng cấp”, biến
nó từ song điệu thành tam điệp; từ số chữ là 48 hoặc 50 đẩy lên thành 82 chữ, tức là
biến điệu Nguyệt trung hành từ loại tiểu lệnh thành loại trung điệu.
3.2.4.5. Mức độ chuẩn xác về từ luật
phả, Hoa viên kì ngộ tập. Nhìn chung các bài từ trong các tiểu thuyết bạo dạn hơn
trong việc ngôn tình, nhất là tình yêu, tiệm cận hơn với phong cách thể loại. Tuy
nhiên, cũng cần lưu ý rằng sở dĩ có hiện tượng đó là do các bài từ này bị chi phối bởi
nội dung các tiểu thuyết.
3.2.5.3. Xu hướng dùng từ để tự sự
Các bài từ viết theo xu hướng này không nhiều, tiêu biểu là một số sáng tác
của Ngô Thì Sĩ và Nguyễn Huy Oánh. Tuy tự sự không phải điểm mạnh, đặc sắc của
từ, nhưng dùng từ để thuật việc mà “thuật lại sự việc như nói ra miệng” , như thế vẫn
được coi là có ý cảnh (Vương Quốc Duy – Nhân gian từ thoại).
3.2.5.4. Xu hướng dùng từ để triết lí và nói chí
Tiêu biểu cho việc dùng từ để triết lí và nói chí chính là Ngô Thì Sĩ. Bài từ
điệu Tô mạc già của ông như sau:
16
Phiên âm: Tạm dịch:
Thiên bao hàm,
Địa trì tải,
Nhân sinh kì trung,
Hựu đệ trì nhất hội.
Trường tồn chính hợp tam tương đối,
Na lý nhân mang,
Địa hòa thiên độc tại.
Thế khuynh triều,
Nhan tuyệt đại,
Chuyển tiệp thành không,
Hốt nhiên như long mại.
Thương mang chỉ tác vô tình đãi,
Thiên cổ hý trường,
Tá cừ đương khổi lỗi.
Trời bao hàm,
Đất che chở,
của âm nhạc để trở thành một dạng thức thơ ca cách luật thì sự phức tạp về cách luật
của nó vẫn là một lực cản khá lớn đối với các tác giả, nhất là các nhà nho Việt Nam
vốn đã phải quá dụng tâm vào các thể thức văn chương cử nghiệp. Thứ ba, từ vốn là
thể thức văn học giải trí trước chén dưới trăng (tôn tiền nguyệt hạ), được tiến hành
trong một môi trường âm nhạc và nữ tính, nội dung thiên về nỗi “thương xuân, bi
thu”, “li sầu biệt hận”, tình yêu trai gái, sắc dục… thể loại này cố nhiên không phù
hợp với quan niệm thẩm mĩ của giới tăng lữ, ngay nhà nho cũng coi là thể loại ủy
mị, thấp kém. Để từ phát triển mạnh trong điều kiện đó, ngoài việc tiếp thu hệ thống
17
từ nhạc, sự am tường từ luật, nó cần một môi trường tiếp nhận phù hợp, đặc biệt là
sự phát triển của các đô thị lớn và các trung tâm giải trí kiểu “ca lâu kĩ quán”, “ca
đài vũ tạ”… mà điều này thực tế phát triển ở Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ
XVIII còn nhiều hạn chế. Thứ tư, ngoài những điểm trên, xét hoàn cảnh Việt Nam,
đến thế kỉ XVIII, tuy môi trường xã hội, quan niệm văn học có nhiều chuyển biến so
với các giai đoạn trước song sự trở lại của thể loại từ giai đoạn này về cơ bản không
có sự kế thừa từ giai đoạn trước, vì vậy để thể hiện tình cảm riêng tư các tác giả Việt
Nam có thể sử dụng các thể loại vốn là quen thuộc, sở trường như thơ cận thể
(chẳng hạn các trường hợp Khuê ai lục, Đoạn trường lục), hay các thể loại văn học
nội sinh như ngâm khúc, hát nói… mà không nhất thiết tìm đến với từ. Hơn nữa đến
giai đoạn này, từ đã thoát li khỏi sự lệ thuộc vào âm nhạc, sáng tác từ không còn
dùng để hát. Do đó, để giải trí, bộc lộ ưu hoài trong các cuộc yến ẩm trước chén
trong hoa, thay vì tìm đến với thể loại từ, các tác giả đương thời có thể tìm đến với
hát nói, là thể thức văn học nội sinh, dễ sáng tác, dễ cảm thụ và cũng dễ biểu diễn.
Chính vì những nguyên nhân cơ bản trên, ở giai đoạn này chưa thấy có tác
giả nào thực sự thâm nhập vào thể loại từ, vì thế chưa xuất hiện các từ nhân thực
thụ, sáng tác từ mới như một sự thể nghiệm đối với một thể loại văn học vốn dĩ
không thông dụng ở Việt Nam. Và hệ quả kéo theo là thể loại từ ở giai đoạn này
tính ngôn chí và tự sự lấn át tính ngôn tình, chưa đạt mức thuần thục đồng thời có
nhiều biến thái phức tạp về hình thức mà nguyên nhân không phải chỉ là do sự biến
động về văn bản.
thấy khá rõ ràng là vào thế kỉ XIX, nguồn sách vở từ Trung Quốc truyền sang Việt
Nam có phần phong phú hơn các giai đoạn trước, do đó các tác giả Việt Nam có
nhiều điều kiện để tiếp xúc với các tác phẩm từ Trung Quốc, nhất là các tác phẩm từ
thời Thanh, hoặc các sách về từ do người thời Thanh biên soạn, xuất bản. Cho nên
sự phát triển khá mạnh của thể loại từ trong văn học trung đại Việt Nam nửa cuối
thế kỉ XIX có chịu ảnh hưởng nhất định của từ học thời Thanh.
4.3. Động cơ sáng tác và một số quan niệm từ học
4.3.1. Động cơ sáng tác
Về mục đích ứng dụng, tác phẩm từ giai đoạn này được dùng để miêu tả
phong cảnh, chúc tụng, giao đãi, thể hiện tình cảm cá nhân, niềm thương xuân bi thu,
li sầu biệt hận, thậm chí được dùng để thờ tự tổ tiên (như trường hợp tác phẩm từ
khắc trên biển gỗ ở nhà thờ Đại tông dòng họ Nguyễn Huy tại Trường Lưu); tác
phẩm từ cũng được dùng trong hoạt động ngoại giao, hoặc ứng dụng trong các tiểu
thuyết để thể hiện cái tài tình của nhân vật, đồng thời thông qua đó thể hiện tài năng
thơ ca của tác giả. Qua đó có thể thấy quan niệm, thái độ của các tác giả từ giai đoạn
này là khá phức tạp và không đồng nhất. Từ phạm vi ứng dụng từ khá rộng, sự phong
phú về đội ngũ tác giả và tác phẩm, cùng sự xuất hiện của các từ tập chuyên biệt và
các sách chuyên trước về từ, có thể khẳng định ở thế kỉ XIX, đặc biệt là nửa sau thế
kỉ XIX, thể loại từ đã thu hút sự chú ý của nhiều tác giả lớn, trong đó có một số tác
giả đã thực sự dụng công tìm hiểu và trước tác theo thể loại này. Điều đó tạo ra sự
thay đổi quan trọng, và nét khu biệt với thực trạng sáng tác từ các giai đoạn trước.
4.3.2. Một số quan niệm từ học của các tác gia hoàng tộc triều Nguyễn
4.3.2.1. Về việc điền từ
Miên Trinh coi từ là hậu duệ của thơ, cũng thuộc phạm vi của thi giáo. Ông
khẳng định điền từ là khá đơn giản nhưng “không dễ làm cho hay”. Tuy Miên Trinh
không tẩy chay thể loại này song hết sức e dè, cho từ “như có hại cho đạo vậy”, hay
khi viết lời bạt cho sách Từ tuyển, ông cũng không tránh khỏi việc liên hệ tạt ngang
đến thói dâm ô của nước Trịnh nước Vệ, còn khi được biết việc Nguyễn Miên Khoan
làm sách Từ thoại và đưa một số sáng tác từ của mình vào sách này, đồng thời thêm
19
với thể loại từ, không dụng công tìm hiểu nó một cách thấu đáo và hệ quả tất yếu
là không thường xuyên sáng tác theo thể từ. Xem xét quan điểm của Miên Thẩm,
Miên Trinh, Tự Đức đối với thể loại từ, kết hợp khảo sát quan điểm của một số tác
giả từ khác trong văn học trung đại Việt Nam như Phùng Khắc Khoan, Ngô Thì
Sĩ… có thể nhận thấy bên cạnh các yếu tố như sự hạn chế trong việc tiếp thu hệ
thống từ nhạc, sự phát triển của kinh tế đô thị và tầng lớp thị dân… thì chính sự e
ngại của nhà nho đối với thể loại từ cũng là một yếu tố đặc biệt quan trọng khiến thể
loại này ít có điều kiện phát triển mạnh mẽ.
20
4.5. Thể thức
4.5.1. Các điệu thức đã được tiếp thu
Tổng kết toàn bộ từ sử Việt Nam, giai đoạn từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XVII,
tác giả Việt Nam sử dụng 4 điệu từ; giai đoạn thế kỉ XVIII, các tác giả Việt Nam sử
dụng 54 điệu; giai đoạn thế kỉ XIX, các tác giả sử dụng 108 điệu, trong đó riêng Cổ
duệ từ của Miên Thẩm đã gồm 114 bài với tất cả 82 điệu.
Trong số các điệu từ được các tác giả từ Việt Nam sử dụng giai đoạn này, có 2
điệu từ do tác giả Việt Nam tự chế tác, vốn chưa được ghi nhận trong các sách về từ phổ,
từ luật. Đó là các bài từ điệu Giang Nam và bài Xuân đình lan của Hồ Xuân Hương.
Về điệu thức, ở giai đoạn này dường như còn có tác giả Việt Nam tự viết nhạc và
điền lời để tạo ra điệu thức mới. Đó là trường hợp của Nguyễn Hành. Cuối sách Minh
quyên thi tập của ông có một bài mang tên Môn tiền quá (門前過), trong sách ghi là
Tự độ khúc (自度曲). Tự độ khúc là khái niệm từ học chỉ việc một tác giả nào đó tự
viết nhạc rồi điền lời vào bản nhạc đó để tạo ra điệu từ mới.
Trong giai đoạn này còn xuất hiện một hiện tượng thú vị mà các giai đoạn
khác chưa từng có. Đó là trường hợp sử dụng chữ Nôm để điền từ. Trong Sơ kính
tân trang, Phạm Thái sáng tác 4 bài từ chữ Nôm theo hai điệu Tây giang nguyệt và
Nhất tiễn mai. Cả bốn bài đều đạt đến trình độ điêu luyện. Đây không chỉ là trường
hợp đặc biệt mà còn là bước đột phá trong từ sử Việt Nam, thể hiện công phu điền
từ, và khả năng Việt hóa thành công đối với thể loại từ bằng cách sử dụng chính
ngôn ngữ dân tộc để điền từ trên cơ sở tương đồng về loại hình ngôn ngữ. Đó là
hai tác giả này đạt độ thuần thục về bút pháp, giàu cảnh giới nghệ thuật. Có thể coi
Đào Tấn là một trong những tác giả từ Việt Nam đã gạt bỏ được quan niệm coi từ là
thể loại văn học dung tục, thấp kém. Trong bài từ điệu Giá cô thiên ông viết: “Tòng
kim thu thập ti hòa trúc / Bất tác phong hoa tuyết nguyệt ca” (Từ nay gom hết đàn
cùng sáo / Chẳng viết phong hoa tuyết nguyệt ca), có thể coi là tuyên ngôn nghệ
thuật của Đào Tấn được thể hiện qua tác phẩm từ. Trong bài từ điệu Ỷ la hương, ông
cũng viết: “Hận thư sinh đa phụ thời gian/ Hoàn tác thậm đoạn trường thi cú” (Giận
thư sinh luống phụ thời gian/ Viết chi lắm những câu đứt ruột). Có thể vì quan niệm
đó, Đào Tấn không dùng từ để nói về phong hoa tuyết nguyệt, hay chuyện yêu đương
tình ái, mà nội dung các tác phẩm của ông xoay quanh hai mảng chính là lữ khách
hoài hương và ưu tư quốc nạn, cả hai đều được thống suất bằng niềm bi cảm. Đọc tác
phẩm từ của Đào công có thể thấy niềm cô đơn rợn ngợp, nỗi sầu li hận, nỗi đau vì
đất nước bị xâm lăng mà bản thân mình bất lực. Xét về phong cách nghệ thuật, tác
phẩm từ của Đào Tấn cũng phân làm hai mảng. Mảng thứ nhất là các bài về tâm
trạng cô đơn khắc khoải, nỗi sầu li biệt, tư hương hoài hữu của kẻ lữ khách ngóng
quê xa… Mảng này thiên về phong cách của phái uyển ước, giàu hình ảnh và cảm
xúc. Ở nội dung thứ hai, về niềm ưu tư quốc nạn, sáng tác của Đào Tấn nghiêng theo
phong cách từ của phái hào phóng, giọng điệu mạnh mẽ, kiểu “Sông dài ngàn dặm
lưu dấu tích anh hùng” (điệu Điệp luyến hoa), hay “Bi phẫn ngập lòng / Tám phương
gió lộng / Muôn dặm trường thành khóc” (điệu Thanh ngọc án)… tuy không có cái
thế giới nghệ thuật tên đạn bời bời như trong một số tác phẩm của từ gia Tân Khí Tật
thời Nam Tống song cũng đầy vẻ bi tráng.
Còn Miên Thẩm tự coi mình tiền thân là Thiết Cước đạo nhân - một vị đạo sĩ
thích ăn hoa mai với tuyết, cho cái lạnh, cái thanh khiết ngấm tận gan phổi. Nhưng
đó chỉ là ý hướng, trên thực tế, Miên Thẩm không phải là một đạo sĩ lánh đời, phiêu
diêu ngoài cõi tục, mà là một vị hoàng thân quốc thích theo kiểu “Bán thị u nhân bán
vương giả” (Một nửa là người ở chốn u tịch, một nửa là bậc vương giả - Bài từ vịnh
hoa lan, điệu Thâu thanh mộc lan hoa). Cho nên trong tác phẩm từ của ông vừa có
22
cái ý vị của cuộc sống phiêu diêu thoát tục tìm thú vui nơi sơn thủy, vừa có nét
sang.
Tác phẩm từ thời này về cơ bản khá chuẩn chỉnh về cách luật, bút pháp thuần
thục, có độ sâu cảm xúc. Sự xuất hiện của hai từ tập chuyên biệt là Mộng Mai từ lục
và Cổ duệ từ cho thấy đã có một số tác giả dành nhiều tâm huyết cho việc điền từ,
trở thành các từ gia thực thụ. Đào Tấn dùng từ để thể hiện tuyên ngôn về nghệ thuật,
Miên Thẩm có ý hướng phát huy từ học thời Nguyễn, truy cứu tác phẩm từ cổ kim,
sáng tác có đường hướng, lề lối, có chủ đích rõ ràng về phong cách nghệ thuật;
Miên Trinh, Tự Đức, Miên Kiền, Miên Khoan ngoài sáng tác còn bàn luận về một
số vấn đề có tính chất lí luận từ học…, đó là những điều chưa từng xuất hiện ở các
23
giai đoạn trước. Việc Đào Tấn dùng từ để thể hiện tuyên ngôn về nghệ thuật và sự
dụng công sâu sắc vào từ cho thấy ông là một trong những tác giả hiếm hoi thời
trung đại gạt bỏ được nỗi ám ảnh rằng từ là một thể loại thấp kém và dung tục.
Nếu tác phẩm từ ở giai đoạn thế kỉ XVIII có thể phân chia khá đồng đều qua
bốn mảng thuyết lí, tự sự, trữ tình, tả cảnh thì nhìn chung tác phẩm từ giai đoạn thế
kỉ XIX nội dung có xu hướng thu hẹp vào các nội dung quốc phá gia vong, li sầu
biệt hận, nam nữ tương tư, được thể hiện bằng ngôn từ hoa mĩ, cảm xúc chân thành,
giọng điệu vừa bi thiết vừa khảng khái, hình tượng tài tử giai nhân có vị trí quan
trọng. Các đặc điểm đó khiến tác phẩm từ giai đoạn này tiếp cận gần hơn với các
đặc trưng thẩm mĩ của thể loại.
Xét tổng quan các yếu tố, có thể thấy giai đoạn thế kỉ XIX là giai đoạn phát
triển cao nhất của thể loại từ ở Việt Nam mà đỉnh cao chính là ở nửa sau thế kỉ XIX.
PHẦN KẾT LUẬN
Qua các phần đã trình bày, thể loại từ trong văn học trung đại Việt Nam đã
được sưu tập, khảo sát, nghiên cứu từ các phương diện: thành tựu sáng tác, sự phân
kì từ sử, đặc điểm về đội ngũ tác giả, các nguồn ảnh hưởng đến việc tác từ, động cơ
sáng tác, quan niệm từ học, thể thức, nội dung và phong cách nghệ thuật của mỗi
giai đoạn Từ những nghiên cứu cụ thể đó, có thể đi đến các kết luận như sau:
Về thực trạng sáng tác: Từ là một thể loại văn học đặc sắc của Trung Quốc,
cùng sự ảnh hưởng của văn hóa, văn học Trung Quốc, từ đã truyền sang các nước
về cơ bản đều là những người giàu cá tính, có học vấn cao: hoặc là các nhà khoa
bảng thành danh, các nhân vật chính trị, hoặc là các bậc tài tử phong lưu (Tất nhiên
sự khu biệt này chỉ có tính chất tương đối). Đa số các tác giả từ cũng là những tác
gia quan trọng trong văn học trung đại. Theo đó, có thể thấy ở Việt Nam thời trung
đại, từ không phải thể loại thông dụng, thể loại này bị chi phối, hạn chế bởi nhiều
yếu tố khác nhau, và vì thế, sáng tác từ như một sự “vượt ngưỡng” về học vấn và cá
tính sáng tạo. So sánh sáng tác của hai nhóm tác giả trên, sáng tác từ của các bậc
phong lưu tài tử có xu hướng tiệm cận hơn với bản sắc thể loại. Vào nửa sau thế kỉ
XIX tuy đã xuất hiện các từ tập chuyên biệt, cho thấy một số tác giả có dụng công
nhất định trong việc điền từ; tuy vậy, tính chất “không chuyên” vẫn là một đặc điểm
quan trọng và khá nổi bật.
Về các nguồn ảnh hưởng đến việc tác từ: nguồn ảnh hưởng đến việc tác từ của
các tác giả Việt Nam có thể quy về các yếu tố chính: do ảnh hưởng từ sự học qua việc
tiếp xúc với các sách vở Trung Quốc, do ảnh hưởng lẫn nhau giữa các tác giả và ảnh
hưởng trực tiếp qua việc đi sứ. Tuy nhiên, nguồn ảnh hưởng không phải là yếu tố
quyết định hoàn toàn đến việc lựa chọn sáng tác theo thể loại từ, bên cạnh đó còn có
các yếu tố khác như môi trường văn hóa và tâm thái tiếp nhận của chủ thể sáng tác.
Về thể thức: Trong văn học trung đại Việt Nam, các tác giả đã sáng tác 304
bài từ, theo 133 điệu. Các điệu từ được tiếp thu đều thuộc loại đơn phiến và song
phiến, là những điệu từ ngắn, dễ triển khai hơn các điệu thuộc loại tam điệp, tứ điệp.
Mỗi một điệu từ tương ứng với một dạng thức cách luật riêng biệt. Do vậy,
tuy số lượng tác phẩm từ Việt Nam không lớn nhưng 133 dạng thức cách luật mà
thể loại này đóng góp, bổ sung cho văn học trung đại lại là con số khổng lồ so với
một số lượng rất hữu hạn của những dạng thức cách luật mà các tác gia trung đại
Việt Nam vốn quen dùng. Các điệu từ được sử dụng đều là các điệu có sự kết hợp
của các câu dài ngắn đan xen, giàu tiết tấu, cách thức gieo vần biến đổi qua từng
điệu, rất khác biệt với thơ cận thể, thậm chí là thơ cổ phong, vì thế trong phạm vi
văn học trung đại Việt Nam, sự xuất hiện của các điệu từ đồng thời là sự xuất hiện
của những dạng thức cách luật tân kì.
25