Luận án Tiến sĩ Thể loại từ trong văn học trung đại Việt Nam - Pdf 40

MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU...................................................................................................................1
1. Lí do chọn đề tài...............................................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu........................................................................................................1
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.......................................................................................2
4. Phương pháp nghiên cứu.................................................................................................2
5. Mô ôt số khái niệm, thuâ ôt ngữ chính được sử dụng trong luâ ôn án
.................................3
6. Đóng góp mới của luâ ôn án...............................................................................................7
7. Cấu trúc luâ n
ô án...............................................................................................................8
Chương 1...............................................................................................................................9
TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THỂ LOẠI TỪ VIỆT NAM..............9
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu thể loại từ Việt Nam..............................................9
1.1.1. Những nghiên cứu trường hợp...............................................................................10
1.1.2. Những nghiên cứu tổng quan về thể loại từ Viê ôt Nam..........................................16
1.1.2.1. Những nghiên cứu ở Việt Nam.............................................................................16
1.1.2.2. Những nghiên cứu ở nước ngoài..........................................................................18
TIỂU KẾT...........................................................................................................................21
Chương 2.............................................................................................................................22
THỂ LOẠI TỪ Ở CÁC NƯỚC TRONG KHU VỰC VÀ THỰC TRẠNG SÁNG TÁC
TỪ TẠI VIÊôT NAM...........................................................................................................22
2.1. Khái niệm thể loại từ...................................................................................................22
2.2. Thể loại từ ở Trung Quốc và sự ảnh hưởng của nó ra các nước Đông Á...................23
2.2.1. Thể loại từ ở Trung Quốc.........................................................................................23
2.2.2. Thể loại từ ở Nhật Bản.............................................................................................26
2.2.3. Thể loại từ ở Triều Tiên...........................................................................................29
2.3. Thực trạng sáng tác từ ở Việt Nam - Khảo biện qua các nguồn tư liệu.................31
2.3.1. Các tiêu chí nhận dạng............................................................................................31
2.3.2. Khảo biện tác giả, tác phẩm từ Việt Nam qua các nguồn tư liệu.........................32
2.3.2.1. Khảo biện qua các truyện kí - tiểu thuyết...........................................................33

3.2.4.6. Nguyên nhân dẫn đến sự sai lệch về cách luật....................................................79
3.2.5. Nội dung và phong cách nghê ô thuâ .ôt......................................................................81
3.2.5.1. Xu hướng dùng từ để tả cảnh...............................................................................83
3.2.5.2. Xu hướng dùng từ để trữ tình...............................................................................86
3.2.5.3. Xu hướng dùng từ để tự sự...................................................................................91
3.2.5.4. Xu hướng dùng từ để triết lí và nói chí...............................................................93
TIỂU KẾT...........................................................................................................................96
Chương 4.............................................................................................................................98
THỂ LOẠI TỪ VIÊôT NAM THẾ KỈ XIX THỪA TIẾP VÀ PHÁT HUY....................98
4.1. Đội ngũ tác giả.............................................................................................................98
4.2. Các nguồn ảnh hưởng đến việc tác từ........................................................................99
4.3. Đô ông cơ sáng tác và mô tô số quan niê m
ô từ học........................................................103
4.3.1. Đô ông cơ sáng tác.....................................................................................................103
4.3.2. Mô ôt số quan niê m
ô từ học của các tác gia hoàng tô ôc triều Nguyễn.....................104
4.3.2.1. Về việc điền từ......................................................................................................105
4.3.2.2. Về tiến trình phát triển của thể loại từ..............................................................107
4.3.2.3. Về từ nhạc và mối quan hệ giữa từ với âm nhạc..............................................108
4.3.2.4. Về thao tác điền từ và từ luật..............................................................................111
4.5. Thể thức......................................................................................................................115
4.5.1. Các điê ôu thức đã được tiếp thu.............................................................................115
4.5.2. Mức đô ô chuẩn xác về từ luâ ôt và nguyên nhân dẫn đến sự sai lê ôch về cách luâ ôt
............................................................................................................................................120
4.6. Nội dung và phong cách nghê ô thuâ .ôt.......................................................................121
TIỂU KẾT.........................................................................................................................142
PHẦN KẾT LUÂôN...........................................................................................................144
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIA..........................148
ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUÂôN ÁN.......................................................148
TÀI LIỆU THAM KHAO...............................................................................................150

được giới nghiên cứu trong và ngoài nước đă ôc biê ôt quan tâm, đã xuất hiê ôn nhiều
công trình, luâ ôn án nghiên cứu về các thể loại văn học trung đại như tiểu thuyết chư
Hán, tiểu thuyết chương hồi, truyê ôn thơ Nôm, thể kí trung đại.... Tuy nhiên, đối với
thể loại tư, đến thời điểm này mới chỉ có nhưng nghiên cứu, mô tả bước đầu, đôi khi
còn nhiều nhầm lẫn, chưa đủ để mường tượng về sự vâ ôn đô ông và phát triển cũng
như đóng góp của thể loại này trong văn học trung đại Viê ôt Nam.
Tư là thể loại văn học có nguồn gốc Trung Quốc. Trong văn học Trung Quốc, đây
là thể loại quan trọng, nhiều thành tựu, đồng thời có ảnh hưởng đối với văn học các
nước Đông Á. Nghiên cứu thể loại tư trong văn học trung đại Viê tô Nam mô tô mă tô có
thể thấy rõ vị trí và sự đóng góp của nó cho văn học dân tô cô , từ đó soi sáng thêm cho
tiến trình văn học sử; mă tô khác, xem xét thể loại tư Viê tô Nam trong sự đối sánh với thể
loại này ở Trung Quốc và các nước Đông Á khác là hướng mở, không nhưng có thể
góp phần làm sáng tỏ quy luật tiếp thu, kế thừa, sáng tạo của văn học dân tộc mà còn
giúp nhìn nhận nền văn học quá khứ của dân tộc trong nhưng tương quan rộng hơn.
Vì nhưng lí do đó, người viết chọn “Thể loại tư trong văn học trung đại Viê ôt
Nam” làm đề tài luâ ôn án của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Luâ ôn án tổng thuâ ôt, nghiên cứu mô ôt cách tổng quan về thể loạitư ở Trung
Quốc, Nhâ ôt Bản, Triều Tiên, xem đó như mô ôt “bối cảnh rô ông” để mường tượng,
định vị, so sánh với thể loại tư tại Viê ôt Nam.
Đối với thể loại tư tại Viê ôt Nam, luâ ôn án sưu tầm, giám định các văn bản có
ghi chép tác phẩm tư hiê ôn còn, làm rõ tính chân ngụy của tác phẩm, phân định rõ về

1


tác quyền cũng như niên đại tác phẩm; trên cơ sở đó tổng kết thành tựu sáng tác tư ở
Viê ôt Nam thời trung đại.
Tiến hành phân kì tư sư Viê ôt Nam, đồng thời nghiên cứu đă ôc điểm của thể
loại tư Viê ôt Nam qua các thời kì.

hiêuê thù học… để đối chiếu, giám định, xác minh văn bản.
Sau khi đã xác minh được vấn đề tác quyền của các tác phẩm, niên đại tác
phẩm, tiến hành hiê ôu khám, hiê ôu thù… người viết xác lâ ôptư sư Viê ôt Nam. Tiến
thêm mô ôt bước, áp dụng loại hình học để nghiên cứu về loại hình tác giả, chú ý ở
các phương diê ôn trình đô ô học vấn, địa vị xã hô ôi, khả năng tiếp xúc với thể loạitư
Trung Quốc, sự tác đô ông ảnh hưởng lẫn nhau giưa các tác giả, đô ông cơ sáng tác và
quan niê ôm tư học của họ…
Đối với các tác phẩm tư, người viết áp dụng tư chương học, thi pháp học, phong
cách học để nghiên cứu chúng từ nhiều phương diê nô khác nhau như mức đô ô tuân thủtư
luâ êt, các dạng thức biến thể của tác phẩm tư Viê tô Nam, quy trình lâ pô ý, ngôn ngư,
phong cách tư học…. Từ đó làm rõ các đă cô điểm của thể loại tư Viê tô Nam thời trung
đại cùng nhưng đóng góp cụ thể của thể loại này vào kho tàng văn học dân tô cô .
Trong khi phân tích, giải mã tác phẩm, luâ ôn án tham khảo các nghiên cứu, phê
bình tác phẩm tư thời cổ trung đại như các quan niê ôm về bản sắc thể loại của Lí
Thanh Chiếu, “dĩ thi vi tư” của Tô Đông Pha, “dĩ văn vi tư” của Tân Khí Tâ ôt, “cảnh
giới nghê ô thuâ ôt” của Vương Quốc Duy… đồng thời căn cứ vào nguồn ảnh hưởng
đến viê ôc tác tư của từng tác giả cụ thể để tiếp câ ôn quan điểm thẩm mĩ của tư nhân
và phong cách nghê ô thuâ ôt của tác phẩm.
Ứng dụng phương pháp luâ ên nghiên cứu văn học sư để xác định vị trí, vai trò
của đối tượng nghiên cứu trong bối cảnh văn hóa, văn học đương thời và trong tiến
trình lịch sử văn học.
Bên cạnh các phương pháp trên, luâ ôn án còn sử dụng các phương pháp khác
như thống kê phân loại, văn hóa học, so sánh văn học, v.v…
5. Mô ôt số khái niệm, thuâ ôt ngữ chính được sử dụng trong luâ ôn án
Bản sắc (本色): hay bản sắc đương hàng (當行本色), chỉ đặc trưng âm nhạc,
trư tình, dụng điển… của tư, phân biệt với thơ ca.
Bi mĩ (悲美): cái bi trong tư, thiên về tình buồn, sử dụng nhiều từ ngư mang
tâm trạng buồn, coi đó như một đặc trưng về cảm xúc và ngôn ngư thể loại.

3

điêuê 雙調 - 2 đoạn, tam điê êp 三疊 - 3 đoạn…).

4


Lãnh cú (領句): hay lãnh cú tự (領句字), chỉ 1, 2, 3, hoặc mô ôt số chư trong
câu có vai trò dẫn khởi ý nghĩa của câu, hoặc của đoạn trong bài tư.
Liên chương tư (連章詞): Dạng tư được hình thành do sự kết nối từ nhiều bài
khác nhau.
Mạn tư (慢詞): chỉ các bài tư dài. Trong luận án, khái niệm này dùng thông
với khái niệm trường điệu (長調).
Phân cương (分疆): hay thi tư phân cương (詩詞分疆), chỉ sự khác biệt giưa thơ
và tư về thể thức, phạm vi đề tài, hình tượng nhân vật chính, các thủ pháp nghệ thuật…
cùng thái độ coi thơ là mạnh mẽ, tao nhã, tôn quý… coi tư là thấp kém, ủy mị như: thi
trang tư tục (詩莊詞俗), thi nhã tư tục (詩雅詞俗), thi tôn tư ti (詩尊詞卑)…
Phiến (片): một đoạn trong một bài tư. Trong tư, phân chia theo phiến gồm 4
loại: đơn phiến (單片, dùng thông với đơn điệu, gồm 1 đoạn), song phiến (雙片,
dùng thông với song điệu, chỉ các bài tư gồm 2 đoạn), tam điệp (三疊, chỉ các bài
tư gồm 3 đoạn), tứ điệp (四疊, chỉ các bài tư gồm 4 đoạn).
Quá phiến (過片): hay quá biến (過變), câu khởi đầu của đoạn thứ 2 trong
một bài tư hai đoạn (song phiến), có nhiệm vụ thừa tiếp ý của đoạn trên dẫn khởi
cho ý đoạn dưới.
Thi hóa ( 詩化 ): chỉ sự ảnh hưởng của thơ ca cũng như quan niê m
ô thi giáo, thi
ngôn chí… đến tư, khiến tư từ thi dư (詩餘) có xu hướng dịch chuyển về địa hạt của thơ.
Tiểu đạo ( 小 道 ): quan điểm cho tư là “cái đạo nhỏ nho”, bạc kĩ ( 薄 技 )…
không coi trọng thể loại tư.
Tiểu lệnh (小令), trung điệu (中調), trường điệu (長調): sự phân chia tư theo
độ dài tác phẩm, theo quan điểm của Cố Tòng Kính (顧從敬) thời Minh trong Loại
biên Thảo Đường thi dư (類編草堂詩餘): Tiểu lệnh gồm các bài tư dài 58 chư trở

viết nhạc rồi điền lời vào bản nhạc đó để tạo ra điệu tư mới.
Ý cảnh (意境): chỉ sự mô tả hiện thực cuộc sống và sự biểu hiện tư tưởng, tình
cảm trong tư.
Trong luâ ôn án, các khái niệm, thuâ ôt ngưtư học được in nghiêng để phân biê ôt
với các từ ngư thông thường1.
6. Đóng góp mới của luâ ôn án

1

Phần này mang tính chất thích nghĩa một số khái niệm, thuật ngư tư học thường dùng trong luận án. Một số
khái niệm, thuật ngư trên sẽ được trình bày sâu hơn ở Phụ lục 2.1.

6


Trên cơ sở kế thừa, tiếp thu thành tựu nghiên cứu của giới nghiên cứu tư học
Nhâ ôt Bản, Triều Tiên và đă ôc biê ôt là các nhà nghiên cứutư học Trung Quốc, luâ ôn án
tổng thuâ ôt, nghiên cứu mô ôt cách tổng quan về thể loạitư ở Trung Quốc, Nhâ ôt Bản
và Triều Tiên làm cơ sở để so sánh với thể loại tư tại Viê ôt Nam.
Cho đến thời điểm này, luâ ôn án là công trình sưu tâ ôp đầy đủ nhất về thể loạitư
trong văn học trung đại Viê ôt Nam, đồng thời đây cũng là công trình có sự nỗ lực xử
lí, giám định văn bản mô ôt cách riết ráo nhất.
Trên cơ sở khảo sát cụ thể, tổng kết thành tựu sáng tác tư tại Viê ôt Nam thời
trung đại, luâ ôn án tiến hành phân kì tư sư, nghiên cứu sâu từng giai đoạn sáng tác tư
về các phương diê ôn: đô ôi ngũ tác giả, các nguồn ảnh hưởng đến viê ôctác tư, quan
niê ôm - đô ông cơ sáng tác, quan niê ômtư học, thể thức đã tiếp thu, các dạng thức biến
cách, nô ôi dung và khuynh hướng nghê ô thuâ ôt, từ đó làm rõ đă ôc điểm của thể loạitư ở
Viê ôt Nam qua mỗi giai đoạn.
Đây là công trình nghiên cứu, tổng kết về thể loại tư tại Viê tô Nam, có thể dùng
làm tài liê uô tham khảo cho nhưng người nghiên cứu, giảng dạy văn học cổ trung đại

tư Trung Hoa - Nhâ êt Bản (1996) của Nguyễn Chí Viễn, Tống tư (1999) do Nguyễn
Xuân Tảo dịch, Chế Lan Viên giới thiê ôu, Cổ duệ tư - Khúc hát gõ mái chèo (1999)
của Phan Văn Các, v.v… Tuy nhiên, đáng chú ý là trong sách này, kiến thức về tư
mới chỉ được giới thiê ôu mô ôt cách sơ lược, đôi khi còn nhiều sai lầm3; thảng hoặc có
2

Như: Dư Truyền Bằng (余傳棚) nghiên cứu về các lưu phái tư thời Đường - Tống [175], Lưu Nghiêu Dân
(劉堯民) nghiên cứu về mối quan hê ô của tư với âm nhạc [186], Trương Trọng Mưu (張仲謀) nghiên cứu về
tư sư thời Minh [207], Đường Khuê Chương (唐圭章) sưu tâ ôp thành tựu sáng tác tư thời Tống [181], v.v…
3

Chẳng hạn trong Quốc văn cụ thể, trong số 4 ví dụ về tư - khúc mà tác giả đưa ra chỉ có một bài thuộc thể
tư, theo điệu Hành lộ nan (điệu này ít gặp). Cũng trong sách này không hiểu tác giả trích dẫn theo nguồn tư
liệu nào, chỉ biết rằng tác phẩm trích dẫn không đúng thể thức của điệu tư được tư phổ ghi nhận. Về đặc
trưng thể loại, trong một đoạn văn ngắn 6 dòng, thông tin do tác giả cung cấp ít nhất đã sai 3 điểm căn bản.
Cho rằng: “Lối tư - khúc của Tầu có nhiều điệu, song đều là biến thể của cổ thi cả”, cách hiểu như vậy mơ
hồ, dường như chỉ căn cứ vào hình thức của thể tư và thể khúc nên đã dẫn đến nhận định sai về nguồn gốc thể
loại. Lại nói: “Tuy mỗi một khúc có một tên riêng, song có thể gọi tóm lại là Trúc chi tư, đặt câu dài ngắn,
nhiều ít không có luật nhất định”. Nhâ ôn định đó hoàn toàn sai lầm. Tư và khúc đều có nhiều điệu khác nhau.
Trúc chi tư chỉ là một trong mấy ngàn thể thức khác nhau của tư, hơn nưa cũng không phải thể thức đặc trưng
cho lối câu “dài ngắn không đồng đều” (trường đoản cú), vì thế từ khi thể loại tư xuất hiê ôn cho đến nay, chưa
từng có tác giả nào dùng tên điệu Trúc chi tư làm tên gọi chung cho thể loại tư, huống chi là cả thể tư và thể
khúc! Hơn nưa, tư luâ êt chă ôt chẽ, không có cái được gọi là “nhiều ít không có cách luật nhất định”. v.v…
Nếu ở Quốc văn cụ thể Bùi Kỉ cho tư - khúc là dạng thức biến thể từ cổ thi, thì các tác giả sách Thơ ca Việt
Nam hình thức và thể loại lại nhầm lẫn khi cho “tư - khúc là tên gọi chung cho tất cả nhưng bài hát cổ của
Trung Quốc, hoặc có tính chất dân gian, hoặc do văn nhân nghệ sĩ dựa theo lối Sở từ, nhạc phủ mà sáng tác”.
Thể loại tư được vận dụng trong sáng tác từ thời Đường, đến Vãn Đường số lượng tác phẩm dần tăng hơn
trước, nhưng số lượng chưa thật lớn, cho nên các tác giả cho rằng vào giai đoạn này tư “phát triển có đến
hàng mấy trăm điệu, không thể kể xiết” cũng là nhâ ôn xét rất không chuẩn xác.


thêm, đặc biệt là sự biện giải về chính thể và biến thể và sự khái quát của tác giả
trên cơ sở 2 bài được coi là biến thể của tư điệu Nguyễn lang quy, từ đó đi đến khái

10


quát về khả năng biến thức mà ông gọi là “sóng dao động” của tư. Lê Mạnh Thát
trong phần “Khuông Việt với công tác ngoại giao” (trong sách Lịch sư Phật giáo
Việt Nam tư Lý Nam Đế (544) đến Lý Thái Tông, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh,
2001) xác định tên điệu của bài tư là Nguyễn lang quy [101]. Tác giả dựa vào tư
luật để hiệu chỉnh một số câu chư, lấy Thiền uyển tập anh làm nền, lại tham khảo
Đại Việt sư kí toàn thư để đưa ra một văn bản mà ông cho là khả thủ. Trong bài viết,
tác giả đồng thời cũng khẳng định “vị trí có một không hai trong lịch sử ngoại giao
và văn học dân tộc”của bài tư [101, tr.452].
Nghiên cứu văn bản bài tư trên còn có bài viết “Bài tư Ngọc lang quy của
Khuông Việt đại sư (933-1011) và vấn đề văn bản học” của Alexandre Lê (Thời đại
số 6 - 2002). Tác giả bài viết sau khi khảo sát bốn dị bản gồm: Đại Việt sư kí toàn
thư, Thiền uyển tập anh, Việt sư tiêu án và Lịch triều hiến chương loại chí, tiến
hành một số thao tác như hiệu chỉnh về niêm luật, về ngư nghĩa, ngôn từ... cuối
cùng cũng đưa ra một văn bản khảo đính mà tác giả cho là hợp lý [59]. Trước
Alexandre Lê, đã có ít nhất 4 tác giả tiến hành khảo đính văn bản bài tư, bốn văn
bản họ đưa ra không hoàn toàn giống nhau, tất nhiên cũng không giống văn bản mà
Alexandre Lê xác lập.
Do bài tư của Khuông Viê tô đại sư được ghi chép trong các thư tịch không hoàn
toàn thống nhất về niên đại, vì vâ yô , trong bài “Về bài tư Ngọc lang quy của Khuông
Việt” (Tạp chí Hán Nôm số 5 - 2005), Nguyễn Đình Phức dựa vào sử liệu Việt Nam
và Trung Quốc khẳng định niên đại bài tư của Ngô Chân Lưu vào năm Thiên Phúc
thứ 8 (987) là chuẩn xác. Niên đại theo Thiền uyển tập anh (Thiên Phúc thứ 7) là
nhầm lẫn [82]. Tác giả tiếp tục biện giải về mấy chư “Ngọc lang quy” như Hoàng
Văn Lâu đã có lần đặt ra [67], cho ba chư “Vương lang quy 王郎歸” ở bản Thiền

mĩ của nó [14]. Tiến thêm mô ôt bước mới, trên tạp chí Khuông Việt, số 10, tháng 5 2010, chúng tôi đi sâu phân tích “Ngôn ngư và cách lập ý trong bài tư điệu Nguyễn
lang quy của Khuông Việt đại sư” để chỉ ra sự tinh tế trong viê ôc dùng từ, lâ ôp câu,
quy trình lâ ôp ý của bài tư, sự hô ứng của thượng phiến và hạ phiến [15].
Trên Tạp chí Hán Nôm số 1 năm 2010, Nguyễn Đình Phức tiếp tục trở lại bài
tư này với mô ôt số nhâ ôn định, giả thuyết mà tác giả coi là “phát hiê ôn mới”. Chẳng
hạn tác giả đă ôt vấn đề phải chăng “Ngọc lang quy” là tên tư điê êu do Khuông Viê ôt
đại sư chế tác trên cơ sở điê ôu Nguyễn lang quy? Phải chăng văn bản bài tư trong

12


Đại Viê êt sư kí toàn thư được xác lâ ôp từ thời Lê Văn Hưu? Tuy nhiên, trong Đại Viêtê
sư kí toàn thư không thấy có ý kiến của Lê Văn Hưu bàn về sự kiê ôn liên quan đến
bài tư, thêm nưa bản Viê êt sư lược thời Trần không ghi tác phẩm này… Thực tế cho
thấy nhưng vấn đề do tác giả bài viết đă ôt ra phần lớn không có gì thực sự mới mẻ,
đồng thời các giả thuyết mà tác giả bài viết đă ôt ra rốt cục chỉ là sự giả định, mô ôt số
không hưu lí, mô ôt số khác không thể kiểm chứng được bằng thực tế sáng tác tư ở cả
Trung Quốc và Viê ôt Nam. Trong Kỉ yếu Hôiê thảo khoa học quốc tế Quốc sư Khuông Viêtê
và Phâtê giáo Viêtê Nam đầu kỉ nguyên đôcê lâpê do Trường Đại học KHXHNV - Đại học
Quốc gia Hà Nô iô và Học viê nô Phâ tô giáo Viê tô Nam tại Hà Nô iô - Giáo hô iô Phâ tô giáo Viê tô
Nam tổ chức tại Hà Nô iô , tháng 3 năm 2011, trong bài “Ngọc lang quy của Quốc sư Khuông
Viê tô trong quan hê ô vớitư học Trung Quốc”, Nguyễn Đình Phức đă tô tác phẩm của Khuông
Viê tô đại sư trong quan hê ô vớitư học Trung Quốc, ngõ hầu tiếp tục chứng minh mô tô số nhâ nô
định mà tác giả đã đưa ra trong các nghiên cứu trước….
Ngoài các bài viết trên đây còn mô tô số bài khác viết về tác phẩm tư của Khuông Viê tô
đại sư, song vấn đề không có gì mới bởi dường như các tác giả không chú ý nhiều đến lịch
sử vấn đề nghiên cứu nên đa số lă pô lại các vấn đề đã được đề câ pô hoă cô giải quyết từ nhiều
năm, thâ m
ô chí là nhiều chục năm trước, hoă cô thiên về bình tán, ít có giá trị tham khảo.
Sau Nguyễn lang quy của Khuông Viê ôt, trọng điểm thứ hai thu hút sự chú ý

chính nhưng sai lầm về tư điệu, tư đề các bài tư trong tư tập và chỉnh lí một số sai
sót khác về văn bản [33, tr.471-477]. Cũng trong hô ôi thảo trên, Trần Nghĩa có bài
“Khi Đào Tấn thử thách trên lĩnh vực điền tư”, đánh giá cao Đào Tấn về phương
diê ôn điền tư. Tiếp tục nghiên cứu về Mô êng Mai tư lục dưới góc đô ô văn bản học, trên
Tạp chí Hán Nôm số 4 năm 2009, Trần Nghĩa có bài “Thơ và tư Đào Tấn dưới góc
nhìn văn bản học”, cuối bài tác giả có đưa ra “Bảng trình bày kết quả giám định văn
bản các bài tư trong Mô êng Mai tư lục”, song đáng tiếc là tuy tiếp câ ôn bô ô phâ ôn sáng
tác tư của Đào Tấn dưới góc đô ô văn bản học nhưng tác giả lại không lưu ý đến
phương pháp biê ôn ngụy học, vì vâ ôy “bảng trình bày” nói trên vẫn chỉ là sự tổng kết
của công tác chỉnh lí văn bản tác phẩm, nhưng chưa triệt để bằng nghiên cứu do
chúng tôi đã công bố trước đó 2 năm, đồng thời cũng không chỉ ra được hiê ôn tượng
4

Trần Văn Tích, “Vấn đề văn bản học của một số bài tư Đào Tấn”, Văn học (Tạp chí tiếng Việt xuất bản ở
Cali, Mỹ), số 203, 204, tháng 3, 4. 2003.

14


chép lẫn tác phẩm tư của Trung Quốc trong tư tâ êp này. Cùng thời gian, trên Nghiên
cứu Văn học số 9 năm 2009, chúng tôi tiến thêm một bước trong việc giám định văn
bản Mộng Mai tư lục. Trong bài “Sự thực nào cho Mộng Mai tư lục”, chúng tôi đã
chỉ ra 38 trong số 60 bài thuô ôc Mộng Mai tư lục vốn chỉ là các bài chép tác phẩm tư
của các tác giả Trung Quốc từ thời Tống đến thời Thanh; trong 22 bài còn lại, 13 tác
phẩm tương đối đáng tin là tác phẩm đích thực của Đào Tấn, 8 tác phẩm không có
yếu tố nào khả dĩ có thể khẳng định chắc chắn là tác phẩm của Đào Tấn, nhưng nhất
thời chưa thấy chúng xuất hiện trong bất cứ tài liệu nào khác ngoài Mộng Mai tư
lục, nên chỉ có thể “tạm coi” chúng là tác phẩm của Đào Tấn, chờ khảo cứu thêm,
và 1 bài tồn nghi là tác phẩm của tư gia Cung Tường Lân (龔翔麟) thời Thanh [12,
tr.69-78]. Tiếp tục nghiên cứu Mô êng Mai tư lục theo hướng văn bản học, trên Tạp

Trung Quốc các giai đoạn khác nhau; trong bài “Một số hiện tượng bất ổn trong văn
bản Lưu Hương kí” (Nghiên cứu Văn học, số 11, năm 2008), chúng tôi tiến hành
giám định văn bản mô ôt số bài tư trong Lưu Hương kí, chỉ ra rằng các bài này đều có
nhưng vấn đề đáng ngờ về văn bản, cần được kiểm chứng thêm.
Bên cạnh đó chúng tôi cũng đã công bố một số kết quả nghiên cứu về tác
phẩm tư của Nguyễn Huy Oánh [10, tr.274-292], quan niê ôm tư học của Miên Trinh
[18, tr.61-76], v.v...
1.1.2. Những nghiên cứu tổng quan về thể loại từ Viê tô Nam
1.1.2.1. Những nghiên cứu ở Việt Nam
Trên Tạp chí Hán Nôm số 1/2001, Thế Anh có bài “Tư Trung Hoa và ảnh
hưởng của nó ở Việt Nam”. Trong bài viết này, tác giả mới chỉ đưa ra một vài thông
tin sơ giản về thể tư ở Trung Hoa; phần viết về “ảnh hưởng của nó ở Việt Nam”
cũng chỉ dừng lại ở mức độ mô tả rất phổ thông, đơn giản và rời rạc, chứng tỏ đối
với vấn đề này tác giả chưa dụng công khảo cứu, về cơ bản, bài viết thu thập một số
thông tin từ các sách đã in trước đó và hệ thống lại để đưa đến cho độc giả một sự
mô tả có tính tổng hợp cao hơn mà thôi.
Trên Tạp chí Văn học số 9 - 2004, Trần Ngọc Vương và Đinh Thanh Hiếu có
bài “Tư - một chủng loại văn học ít được biết tới”, trình bày khái quát về tư sư
Trung Quốc từ khi hình thành đến thời cận đại, cung cấp cho độc giả một số tri thức
cần thiết về thể loại tư đồng thời còn đưa ra “nhưng đề nghị về việc nghiên cứu tư ở

16


Việt Nam”, xem đó như là “giả thiết công tác”, ngõ hầu có thể từ đó đi sâu nghiên
cứu thể loại này trong văn học dân tộc.
Người thực sự đi đầu trong viê ôc mô tả mô ôt cách tổng quan về thể loại tư tại
Viê ôt Nam là Trần Nghĩa. Trong bài “Thể loại tư Trung Quốc du nhập vào Việt Nam
và ảnh hưởng của nó đối với văn học bản địa” (Tạp chí Hán Nôm, số 5 - 2005),
thông qua việc khảo sát nguồn tư liệu Hán Nôm, thống kê tác giả, tác phẩm tư, Trần

hưng, chúng tôi giới thiê ôu nhưng nét cơ bản về nguồn gốc, sự vâ ôn đô ông của thể
loại tư ở Trung Quốc về phương diê ôn sáng tác và lí luâ ôntư học, các đă ôc điểm bút
pháp của thể loại tư. Đối với thể loại tư Viê ôt Nam, tác giả luâ ôn văn sưu tâ ôp, giám
định văn bản tác phẩm tư Viê ôt Nam từ khởi đầu đến đầu thế kỉ XX. Trọng tâm
nghiên cứu của luâ ôn văn là các vấn đề liên quan đến thể loại tư từ khởi đầu đến hết
thời Lê trung hưng (hết thế kỉ XVIII), đă ôc biê ôt là giai đoạn thời Lê trung hưng (từ
thế kỉ XVI đến hết thế kỉ XVIII). Cùng với bài viết “Một số nét cơ bản về thể loại
tư ở Việt Nam” (Tạp chí Hán Nôm, số 4, năm 2009), chúng tôi đã trình bày kết quả
nghiên cứu tổng quan về thể loại tư ở Viê ôt Nam, đă ôc biê ôt đã phác họa khá rõ nét về
tiến trình thể loại, sự phân chia thể loại tư Viê ôt Nam thành các giai đoạn (tư sư) và
đă ôc điểm chính của các giai đoạn đó. Hướng nghiên cứu này tiếp tục được chúng
tôi triển khai và cụ thể hóa trong bài “Thể loại tư ở Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế
kỉ XVIII” đăng trên Nghiên cứu và Phát triển số 6/2012. Hơn nưa, trên cơ sở
nghiên cứu tổng quan về thể loại tư ở Viê ôt Nam, người viết còn tiến hành so sánh
với thể loại tư ở khu vực Đông Á.
Trong luâ ôn văn cao học Tìm hiểu về thể loại Tư trong văn học cổ điển Viêtê
Nam (bảo vê ô tháng 12 năm 2009), Vũ Thị Thanh Trâm trên cơ sở kế thừa, câ ôp nhâ ôt
các sưu tâ ôp, nghiên cứu về tư của các tác giả đi trước, chủ yếu là của Trần Nghĩa,
các kết quả nghiên cứu chúng tôi đã công bố và học giả Trung Quốc Hà Thiên Niên
(何仟年), tiến hành tổng hợp, nghiên cứu về thể loại tư ở Viê ôt Nam thời quân chủ,
có thêm mô ôt số lí giải về thể loại tư ở Viê ôt Nam.
1.1.2.2. Những nghiên cứu ở nước ngoài
Thể loại tư ở Viê ôt Nam tuy thành tựu không thâ ôt cao song vẫn thu hút sự
quan tâm nhất định của giới nghiên cứu tư học Trung Quốc. Năm 2004, trên tờ Giải
phóng quân Ngoại quốc ngữ học viênê học báo, Tưởng Quốc Học (蔣國學) có bài
“Tư tại Viê ôt Nam vị năng hưng thịnh đích nguyên nhân thám tích” (Tìm hiểu về

18



19


tư của Viê ôt Nam mà Hà Thiên Niên đưa ra chủ yếu thuô ôc thời Nguyễn, dường như
tác giả không biết gì thêm về sáng tác tư giai đoạn trước đó ngoài bài Nguyễn lang
quy của Ngô Chân Lưu sáng tác thời Tiền Lê và mô ôt bô ô phâ ôn sáng táctư của Phan
Huy Ích thuô ôc giai đoạn Tây Sơn, do vâ ôy sự mô tảtư sư Viê ôt Nam của tác giả tuy
có chi tiết hơn Tưởng Quốc học song vẫn rất phiến diê ôn. Thêm nưa, ngay cả các
sách chép tác phẩm tư mà tác giả đưa ra, cùng số lượng các bài tư trong đó cũng
không hoàn toàn chuẩn xác, nguyên nhân chủ yếu là do tác giả không nhâ ôn dạng
đúng tác phẩm tư. Trong bài, Hà Thiên Niên dựa vào bộ Việt Nam Hán Nôm văn
hiến mục lục đề yếu (越南漢喃文獻目錄提要) của Vương Tiểu Thuẫn (王小盾)
xuất bản tại Đài Loan, thống kê được 7 tác giả tư Viê ôt Nam với 129 bài; như vâ ôy,
thống kê của Hà Thiên Niên về tác giả tác phẩm tư Viê ôt Nam kém hơn so với thống
kê mà Trần Nghĩa đã thực hiê ôn và công bố trước đó 3 năm. Điều cần lưu ý là tuy
Hà Thiên Niên từng phê phán về nhưng nhầm lẫn học thuật xung quanh sự xuất
hiện của tư tại Viê ôt Nam, song trong bảng thống kê của mình, do không xác định
đúng về thể loại nên vẫn có nhầm lẫn, đó là trường hợp 10 bài điệu Trúc chi tư
trong Lương Khê thi thảo, vốn chỉ là thơ cận thể, không phải tư; còn trường hợp 1
tác phẩm trong Việt hành ngâm thảo của Như Bá Sĩ mà tác giả bài viết đưa vào
thống kê của mình chỉ là thơ trường đoản cú. Do đó, trừ đi nhưng nhầm lẫn trên,
thống kê của Hà Thiên Niên chỉ còn 5 tác giả với 111 bài tư. Nhiều nhâ ôn xét về
nguồn ảnh hưởng đến viê ôc điền tư của các tác giả Viê ôt Nam hoă ôc không chuẩn xác,
hoă ôc chưa thuyết phục.

20


TIỂU KẾT
Tại Việt Nam, do tư không phải thể loại có thành tựu nổi bật nên ít thu hút sự

Xét về hình thức, các bài tư chủ yếu dùng lối câu dài ngắn không đồng đều
(trường đoản cú), với hàng ngàn thể thức (điệu, thể) khác nhau. Tư có thủ pháp
nghệ thuật, phạm vi đề tài và giá trị thẩm mĩ riêng [Xem thêm ở Phụ lục 2.1]. Từ
khi ra đời, trải hơn ngàn năm, thể loại này tồn tại song hành cùng các thể thơ truyền
thống như thơ cổ phong, cận thể… xác lập vị trí quan trọng trong lịch sử văn học
Trung Quốc. Không chỉ vậy, cùng ảnh hưởng của chư Hán, văn hóa Hán, tư còn ảnh
hưởng lan tỏa sang các nước Đông Á trong đó có Việt Nam, tạo ra một thể loại văn
học mang tính chất khu vực.
5

Âm nhạc của tư là yến nhạc (宴樂), một dạng thức âm nhạc hình thành thời Tùy - Đường, là sự kết hợp
giưa âm nhạc ngoại vực và Trung nguyên, chuyên dùng trong việc vui chơi, yến ẩm; phân biệt với nhã nhạc
(雅樂) và thanh thương nhạc ( 清商樂), vốn là loại nhạc có tính “chính quy”, thường dùng trong các hoạt
động có tính chất chính thống, quan phương.

22



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status