CHUYÊN đề KHÁM PHÁ lí TƯỞNG của NGƯỜI NGHỆ sĩ TRONG văn học HIỆN đại VIỆT NAM - Pdf 31

TRƯỜNG THPT CHUYÊN NGUYỄN TẤT THÀNH YÊN BÁI
CHUYÊN ĐỀ: KHÁM PHÁ LÍ TƯỞNG CỦA NGƯỜI NGHỆ SĨ
TRONG VĂN HỌC HIỆN ĐẠI VIỆT NAM
TG: Đỗ Lê Nam
I. Đặt vấn đề
Trong các tác phẩm thơ văn hiện đại, ta thấy xuất hiện nhiều hình
tượng người nghệ sĩ. Hệ thống nhân vật ấy khá phong phú, đa dạng,
độc đáo và có ý nghĩa tư tưởng rất sâu sắc. Theo nghĩa hẹp, ta có thể
hiểu nghệ sĩ là những nhà văn, nhà thơ như: hình tượng “thi gia” trong
“Nhật kí trong tù” của Hồ Chí Minh, thi sĩ Nguyễn Khắc Hiếu trong
“Hầu Trời” (Tản Đà), văn sĩ Hộ trong “Đời thừa”, văn sĩ Điền trong
“Giăng sáng” của Nam Cao, thi sĩ trong “Tiếng hát con tàu” của Chế
Lan Viên… Theo nghĩa rộng, ta còn bắt gặp hình tượng nghệ sĩ trong
các lĩnh vực nghệ thuật khác như: nghệ sĩ viết thư pháp Huấn Cao trong “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân, kiến trúc sư Vũ Như Tô
trong vở kịch cùng tên của Nguyễn Huy Tưởng, nhiếp ảnh gia Phùng
trong truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu,…
Chính điều này đã khiến hình tượng người nghệ sĩ xuất hiện
trong văn học hiện đại với diện mạo rất phong phú, đa dạng và mang
đến cho người đọc nhiều khám phá thú vị, sâu sắc. Đây là những hình
tượng nghệ thuật rất đặc biệt bởi họ không chỉ đóng vai trò như một
nhân vật trong tác phẩm mà còn được xem như hình bóng của chính
tác giả, được tác giả gửi gắm trong đó những thông điệp nghệ thuật
của riêng mình. Vì thế, việc nghiên cứu những hình tượng này sẽ giúp
cho chúng ta hiểu đúng, hiểu rõ và hiểu sâu hơn về giá trị nội dung tư
tưởng lẫn giá trị nghệ thuật của các tác phẩm văn học. Không chỉ giúp
củng cố kiến thức về tác phẩm, việc tìm hiểu các hình tượng này còn
cho ta những kiến thức thực tiễn quý giá trên phương diện lí luận văn
học. Điều này sẽ có ý nghĩa rất lớn đối với công tác bồi dưỡng học
sinh khá giỏi ở bộ môn Ngữ Văn.
Tuy nhiên, vì đây là một vấn đề tương đối rộng nên trong bài viết
này chúng tôi chỉ đi sâu tìm hiểu một khía cạnh nhỏ, đó là lí tưởng

ông”. Thậm chí, khi có biến loạn, Như Tô vẫn không tỉnh mộng: Đan
Thiềm giục đi trốn, nhắc “ông đừng mơ mộng nữa” nhưng ông không
nghe. Dân chúng cho ông là thủ phạm (vua xa xỉ, dân lầm than là vì
ông), ông vẫn nghĩ “họ hiểu nhầm”. Nhìn cảnh đốt phá, nghe tiếng
quân tìm mình phanh thây, ông vẫn cho là “vô lý”. Bị bắt trói về trình
chủ tướng, ông hy vọng có thể “giảng giải” cho người đời hiểu mình.
Chỉ khi Cửu Trùng Đài bị cháy, Vũ Như Tô mới nhận ra bi kịch,
nhưng sự thức tỉnh ấy quá muộn. Cuối cùng, tác phẩm Cửu Trùng Đài


là một công trình tuyệt mĩ nhưng quá cao siêu, đối lập với lợi ích thiết
thực của nhân dân, là một “bông hoa ác” nên bị dân chúng phá hủy.
Còn người nghệ sĩ Vũ Như Tô thì bị người dân hiểu lầm, căm ghét,
sát hại, giấc mộng nghệ thuật hoàn toàn tan vỡ, chết mà vẫn ôm hận:
“Trời ơi! Phú cho ta cái tài làm gì? Ôi mộng lớn! Ôi Đan Thiềm! Ôi
Cửu Trùng Đài”.
Từ bi kịch của Như Tô, hậu thế hiểu ra bài học đau xót cho hành
trình kiếm tìm và thể nghiệm lí tưởng nghệ thuật: nghệ sĩ dù có tài
năng và lí tưởng cao siêu đến đâu thì cũng phải biết vì nhân sinh thì
mới được tồn tại, trân trọng và bảo vệ và ngược lại. Đồng thời, qua bi
kịch của Vũ Như Tô, người đời cũng thấm thía một bài học khác: cần
phải trân trọng và tạo điều kiện để người nghệ sĩ được phát huy tài
năng và thực hành lí tưởng của mình.
Giống như Vũ Như Tô trong “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài”, nhân
vật văn sĩ Hộ trong tác phẩm “Đời thừa” được xây dựng như một
người nghệ sĩ có lí tưởng đặc biệt. Ngay ở nhan đề của tác phẩm ta đã
thấy dụng ý của tác giả. Đời thừa là cuộc đời vô ích, vô nghĩa, có mà
như không. Tuy nhiên, không phải ai cũng đủ trung thực, tỉnh táo để ý
thức về tình trạng sống thừa như thế. Chỉ có những người luôn khao
khát sống cho có ý nghĩa, có ích, có giá trị mới thấy được. Trong tác

hơn ai hết anh đã ý thức rõ được sự thiếu trách nhiệm của mình trong
nghề văn. Anh tự coi mình là kẻ “vô ích”, thậm chí là kẻ “đê tiện” và
“bất lương” trong nghề văn. Tuy đau khổ nhưng Hộ còn có một niềm
an ủi lớn: sự hi sinh đó không phải là vô ích, bởi nó giúp Hộ giữ được
lẽ sống tình thương với mẹ con Từ.
Nhưng sự đổ vỡ lí tưởng không dừng lại ở đây. Bởi từ bi kịch
văn chương thuần túy, Hộ đã sa vào bi kịch tình thương, bi kịch làm
người. Ban đầu, Hộ đã chấp nhận hi sinh nghệ thuật vì muốn giữ tình
thương. Hộ lấy Từ - cô gái nghèo bất hạnh, bị người tình phụ bạc. Hộ
vất vả kiếm tiềm nuôi vợ con đang đói ăn, bệnh tật. Hộ đề cao triết lí
tình thương: kẻ mạnh không phải là kẻ giẫm đạp lên vai người khác để
thoả mãn lòng tham và sự ích kỉ, kẻ mạnh là kẻ giúp đỡ người khác
trên đôi vai mình.
Nhưng vì phải viết cẩu thả, viết vội vàng để kiếm tiền nên Hộ trở
nên cáu bẳn, u uất, bực dọc. Hộ tìm sự khuây khoả trong men rượu.
Trong cơn say, Hộ đã chửi mắng, đánh đuổi vợ con. Sau mỗi lần như
vậy, khi tỉnh rượu, Hộ lại hối hận, khóc xin Từ tha thứ. Vậy là, Hộ đã
đánh mất cả nguyên tắc nghệ thuật lẫn nguyên tắc tình thương. Bi kịch
của Hộ là biết mình chà đạp lên các nguyên tắc cao đẹp đó nhưng
không sao thay đổi được hoàn cảnh. Vì thế, càng ý thức rõ bi kịch ấy
bao nhiêu, Hộ càng đau đớn, khổ sở, giằn vặt bấy nhiêu.


Điều quan trọng là qua hai tấn bi kịch đó của nhân vật Hộ, nhà
văn Nam Cao đã làm sáng tỏ lí tưởng nghệ thuật của người nghệ sĩ.
Đó cũng chính là quá trình nhà văn thể hiện những quan điểm nghệ
thuật tiến bộ của mình: quan điểm về giá trị và chức năng văn chương,
những phẩm chất của nghề nhà văn và trách nhiệm của người cầm bút.
Trước hết, một tác phẩm văn chương thực sự phải có giá trị nhân đạo
sâu sắc: phải vượt lên trên tất cả bờ cõi và giới hạn, phải là tác phẩm

trời Hà Nội”, “Đất nước mênh mông đời anh nhỏ hẹp”, “Chẳng có thơ
đâu giữa lòng đóng khép”, cuối cùng là lời ước hẹn “Tâm hồn anh chờ
gặp anh trên kia”. Người đọc nhận thấy dường như nhân vật trữ tình
đang tự phân đôi để đưa ra lời thuyết phục, giục giã, hối thúc chính
mình từ bỏ thế giới cá nhân nhỏ hẹp chôn vùi hồn thơ để đến với miên
đất xa xôi, rộng lớn cho sự sáng tạo.
Chín khổ tiếp theo thể hiện niềm hạnh phúc của tác giả khi được
trở về với nhân dân và sống lại những kỉ niệm về nhân dân trong
kháng chiến. Đầu tiên, tác giả miêu tả hình ảnh mảnh đất Tây Bắc.
Trong quá khứ, đây là mảnh đất kháng chiến đau thương mà anh hùng
với “mười năm máu rỏ” trên “xứ thiêng liêng rừng núi đã anh hùng”.
Đến hiện tại, nơi đây đang hồi sinh mạnh mẽ: “nay dạt dào đã chín trái
đầu xuân”. Trong tương lai, mảnh đất này sẽ thành là ngọn lửa soi
sáng truyền thống yêu nước, bất khuất của cả dân tộc nghìn năm sau.
Đặc biệt, Tây Bắc đã trở thành ngọn nguồn sinh ra nghệ thuật qua suy
nghĩ chân thành của tác giả: “Cho con về gặp lại Mẹ yêu thương”. Để
rồi, nhà thơ đã có niềm hạnh phúc tràn ngập khi được về với nhân dân.
Với thủ pháp so sánh với những hình ảnh thiên nhiên (nai về suối cũ,
cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa) và so sánh với hình ảnh con
người (trẻ thơ đói lòng gặp sữa, nôi ngừng gặp tay đưa) tác giả đã cho
ta thấy Nhân dân là ngọn nguồn thiết yếu của sự sống, nuôi dưỡng,
che chở, cưu mang, nâng đỡ nhân vật trữ tình. Sau đó, rất nhiều kỉ
niệm về nhân dân trong cuộc kháng chiến đã được tái hiện trong tâm
trí của tác giả. Họ là những người giản dị, gian khó, không có tên cụ
thể (người anh du kích, thằng em liên lạc, mế) nhưng hết sức anh
hùng, dũng cảm thầm lặng hi sinh cho đất nước: người anh du kích
đêm công đồn, thằng em liên lạc mười năm tròn chưa mất một phong
thư. Họ còn là những con người đầy nghĩa tình:
“Con với mế không phải hòn máu cắt
Nhưng trọn đời con nhớ mãi ơn nuôi”

xa” của Nguyễn Minh Châu. Được viết sau năm 1975, nhưng những
vấn đề được đặt ra trong tác phẩm vừa là những câu chuyện muôn
thuở của nghệ thuật mà ta đã bắt gặp trong các tác phẩm trước vừa có
những vấn đề mới nảy sinh của thời đại.
Hành trình kiếm tìm lí tưởng nghệ thuật của nghệ sĩ Phùng thể
hiện qua một loạt sự kiện mang tính nhận thức. Trước hết, ta có thể
thấy Phùng vốn là một nghệ sĩ nhiếp ảnh, một ngành nghệ thuật khám
phá cuộc sống thông qua đôi mắt, qua cách nhìn của nghệ sĩ. Tình
huống xảy ra với Phùng bắt đầu trong lần đi công tác để chụp bộ ảnh
lịch. Phùng đã đến một vùng biển miền Trung. Ở đây, anh đã bắt gặp
khung cảnh tuyệt mĩ của thiên nhiên vào thời điểm sáng sớm trên
biển, sương trắng như sữa, pha màu hồng của mặt trời, điểm thêm vài


bóng im phăng phắc như pho tượng trước mui thuyền. Tất cả như bức
tranh mực tầu của danh hoạ thời cổ hài hoà, thực đơn giản mà toàn
bích. Chứng kiến khung cảnh đó, Phùng cảm thấy vô cùng bối rối, trái
tim như có ai bóp thắt trong trạng thái xúc động cực điểm. Lúc này,
anh đã có khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn và một niềm hạnh
phúc tràn ngập do cái đẹp tuyệt đỉnh mang lại. Điều đó đã khiến
Phùng tin rằng “cái đẹp chính là đạo đức”, cái Mĩ chính là cái Thiện.
Chi tiết này cho thấy, Phùng là một người có tố chất nghệ sĩ ở phương
diện biết khám phá và say mê cái đẹp, nhưng tiếc rằng, cái nhìn của
anh về cuộc sống còn quá giản đơn.
Sau đó, một sự kiện kinh hoàng xảy ra đã khiến nhận thức của
Phùng có bước ngoặt lớn. Đó là, trên nền thiên nhiên tuyệt bích kia,
Phùng đột nhiên chứng kiến cảnh bạo lực dã man của một người đàn
ông hàng chài với vợ. Phùng kinh ngạc đến mức đứng há mồm ra nhìn
trong mấy phút. Sau đấy, anh đã lao vào can ngăn vì không thể dửng
dưng trước nỗi đau của con người. Nhưng điều đáng nói nhất là tâm

chắn (cái đẹp của sức sống mạnh mẽ), lẫn vào đám đông (cái phổ
biến, bị che lấp đòi hỏi sự khám phá). Tới lúc này, thực sự Phùng đã
thấm thía sứ mệnh của nghệ thuật: không chỉ thấy vẻ đẹp bề ngoài mà
còn thấy cả hiện thực đau khổ, đặc biệt là vẻ đẹp ẩn sâu bên trong
cuộc sống, trong con người lao động. Muốn vậy, người nghệ sĩ phải
có cái nhìn đa chiều, sâu sắc về cuộc đời.
III. Kết luận
Qua những điều đã phân tích ở trên, có thể thấy hình tượng người
nghệ sĩ trong tác phẩm văn học hiện đại là một đối tượng rất quan
trọng. Từ việc khái niệm về người nghệ sĩ có thể được hiểu theo nhiều
nghĩa, nhiều cấp độ đến việc nhân vật này được xây dựng một cách đa
chiều trong các tác phẩm (có cả mặt tích cực lẫn tiêu cực, cả thành
công lẫn thất bại) đã giúp ta thấy rằng kiểu nhân vật này mang trong
mình tất cả sự đa dạng, phức tạp của một hình tượng nghệ thuật điển
hình. Thực tế đó đỏi hỏi các nhà nghiên cứu phê bình, các giáo viên
giảng dạy và cả người học cần phải có sự nhìn nhận và khám phá đối
tượng ấy một cách nghiêm túc, bài bản và có tính hệ thống.
Một trong những điều quan trọng nhất khi nói tới nhân vật người
nghệ sĩ trong các tác phẩm văn học là ta phải hiểu lí tưởng nghệ thuật
của họ. Cuộc hành trình kiếm tìm và thực hiện lí tưởng của họ rất dài
lâu, gian khổ, bởi lí tưởng không phải là thứ nhất thành bất biến, càng
không dễ thực hiện trọng cuộc sống. Quá trình đó hết sức đòi hỏi con
người phải đi qua nhiều thử thách, thăng trầm. Để rồi sau mỗi lần vấp
ngã, sau mỗi đắng cay và bi kịch họ mới dần vỡ lẽ và tỉnh ngộ. Sự
thức nhận có thể là kịp thời (Hộ, Phùng) nhưng cũng khi đã quá muộn


(Vũ Như Tô) nhưng đều để lại những bài học vô cùng quý giá cho
những người đi sau. Bài học ấy ở thời nào cũng vậy, dù biểu hiện dưới
muôn hình vạn trạng qua phong cách nghệ thuật của từng nghệ sĩ hay

ngược lại Bá Nha cũng đòi hỏi Tử Kì phải có một đôi tai tuyệt vời.


Nhóm Ngữ Văn – Trường THPT Chuyên Nguyễn Tất Thành




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status