Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 1b-2007 111
tính năng động nghệ thuật của văn học hiện đại việt
Nam và một cách nhìn hành trình thể loại
Lê Văn Tùng
(a)
Tóm tắt. Bài báo đề xuất phạm trù tính năng động nghệ thuật, một trong năm
đặc điểm loại hình của văn học hiện đại để thấy rõ một quy luật nội tại trong sự vận
động của văn học Việt Nam trên đờng hiện đại hoá. Từ đó góp phần lý giải một số
quan hệ phức tạp trong đời sống văn học hiện đại, đồng thời đa ra một cái nhìn hành
trình vận động, đổi mới của thể loại truớc hết là thơ - từ thế kỷ XX đến đầu thế kỷ này.1. Tính năng động nghệ thuật là
một thuộc tính bản chất, một đặc trng
loại hình của văn học hiện đại. Chúng
tôi đã có dịp nêu vấn đề này nh một
trong năm tiêu chí để hiểu nội dung
khái niệm văn học hiện đại trên Tạp
chí Nghiên cứu văn học số 9/2005 và
sau đó, tháng 3/2006 trong Hội nghị Lý
luận phê bình văn học nghệ thuật toàn
hình văn học trung đại, không phải
không xuất hiện tính năng động nghệ
thuật trong sáng tác. Nhng điều chắc
chắn, tính năng động đó chủ yếu đợc
biểu hiện trong thực tiễn sáng tạo của
nhà văn khi nó có nhu cầu và có khả
năng vợt thoát ở những vị trí nhất
định trên biên giới nghiêm khắc của
luật pháp nghệ thuật thời trung đại.
Nó không có đợc đặc quyền đứng ở
bình diện số một, chiếm u thế. Đặc
quyền ấy thuộc về các phép tắc, các quy
chuẩn nghệ thuật của thời đại. Đảo
ngợc vị thế giữa hai mặt đó sẽ không
còn là loại hình văn học trung đại. Nhìn Nhận bài ngày 28/11/2006. Sửa chữa xong 17/01/2007.
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 1b-2007 112
ở ý nghĩa này, trên hoạt động tổng thể
của nền văn học có thể khẳng định sự
tiến bộ của văn học hiện đại so với văn
học trung đại, trong khi không thể nói
đợc nghệ thuật thơ Xuân Diệu tiến bộ
ra những giới hạn mới cho sự chiếm
lĩnh nghệ thuật, nghĩa là tự nó có nhu
cầu tiếp tục đổi mới để vơn xa hơn khả
năng phát hiện và sáng tạo thế giới
nghệ thuật. Điều đáng nói là quy luật
về tính năng động nghệ thuật cũng chi
phối cả phơng diện phép tắc nếu có
ở mỗi thời kỳ của văn học hiện đại,
biến các phép tắc đó thành một phạm
trù lịch sử nghĩa là bản thân các
phép tắc cũng vận động, thay đổi để
bắt kịp sự phát triển của thế giới hiện
thực và của nghệ thuật. Vì vậy, không
thể nhận thức đợc bản chất của văn
học hiện đại xét trên ý nghĩa toàn thể
cũng nh không thể giải thích một cách
đúng đắn, công bằng những đổi mới,
cách tân của các hiện tợng văn học cụ
thể đã, đang và sẽ xuất hiện nếu không
quan tâm đến tính năng động nghệ
thuật nh một đặc trng loại hình
của văn học hiện đại.
***
3. Tính năng động nghệ thuật của
văn học hiện đại, do đó đã trở thành
một trong những cái nhìn phơng pháp
luận phổ biến trong nhiều công trình
nghiên cứu, khảo sát phê bình các hiện
tợng văn học hiện đại cả một thế kỷ
vừa qua. Nhng chính bản thân nó với
khắt khe trong t duy nghệ thuật trung
đại, nhng đến lợt nó, văn học hiện
đại lại đẻ ra những khuôn mẫu nghệ
thuật của nó, trong khi thực tiễn cuộc
sống xã hội hậu công nghiệp từng giây,
từng phút phá vỡ những giới hạn lý
thuyết đã có trên mọi hoạt động của con
ngời. Trào lu hậu hiện đại ra đời còn
muộn mằn hơn, nhng cũng nh một số
trào lu khác trong văn học thế kỷ XX,
nó mong muốn cắt đứt mối liên lạc giữa
nghệ thuật với hiện thực. ý đồ ly khai
với hiện thực đời sống của một số
khuynh hớng nghệ thuật nào đó, thực
chất là việc phủ nhận một cách chủ
quan quy luật về tính năng động nghệ
thuật của văn học hiện đại.
Hiện thực của cuộc sống hiện đại là
một hiện thực luôn luôn vận động về
phía trớc, về tơng lai. Đó là sức sống
của thực tiễn không ai phủ nhận đợc
mà chính C. Mác từng khẳng định nó
nh một quyền lực, quyền lực của thực
tiễn. Nó chính là nguồn gốc sâu xa
khởi động quy luật về tính năng động
của văn học hiện đại. Do đó, sự xuất
hiện nhiều chủ nghĩa, nhiều xu hớng
nghệ thuật trong thế kỷ vừa qua kể cả
hậu hiện đại, một mặt là những
phơng thức khác nhau của nghệ thuật
học bắt đầu từ khi xuất hiện nền sản
xuất cơ khí đại công nghiệp, lấy xã hội
đô thị làm trung tâm thay thế nền sản
xuất nông nghịêp trung cổ lấy nông
thôn làng xã làm điểm tựa. Hai là hiện
đại nói với nghĩa trình độ cao nhất mà
nền văn minh nhân loại đạt tới hiện
thời (đơng đại). Cả hai cách hiểu này
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 1b-2007 114
không đối lập nhau, cách hiểu thứ hai
nằm trong cách hiểu thứ nhất, bởi theo
quy luật vận động của xã hội hiện đại,
trình độ cao nhất của thời kỳ này bao
giờ cũng là bà đỡ, là bậc thang để nhân
loại vơn tới trình độ cao hơn ở thời kỳ
sau.
***
4. Từ quy luật về tính năng động
nghệ thuật của văn học hiện đại, có thể
hiểu rõ hơn thực chất những bớc
chuyển của văn học Việt Nam thế kỷ
XX. Có ba bớc chuyển lớn:
Bớc thứ nhất: thời điểm 1932: khi
những trào lu văn học hiện đại chính
đây văn học hiện đại cần tiếp tục đổi
mới. Có lẽ không cần đặt một giả định
khác khi cuộc cách mạng tháng Tám
1945 thực sự đã tạo ra một thế giới hiện
thực mới cho văn học hiện đại. Hiện
thực đã năng động đổi mới, văn học
cũng tìm đợc lối thoát mới cho những
bế tắc của mình. Bớc chuyển của văn
học từ sau 1945 trớc hết biểu hiện tính
năng động của nền văn học ở phơng
diện sứ mệnh lịch sử cải tạo thế giới của
nó. ở phơng diện này, văn học cách
mạng và kháng chiến từ 1945 đến 1975
trong chừng mực nhất định đã có nhiều
thành tựu. Nó đă tạo ra đợc thi pháp
đặc thù của thời đại mà không thể nói
là cao hơn hay thấp hơn so với trớc và
sau nó, vì nó giải quyết những bài toán
cuộc sống đặc trng cho thời đại của nó.
Nhng, nh bất cứ thời kỳ nào của
văn học hiện đại, tự thân nền văn học
45-75 cũng bao hàm trong nó những
mâu thuẫn: trong giao thời văn học
trớc và sau 1945, tính năng động nghệ
thuật đã là bà đỡ cho sự lột xác, cho
sự giải thoát bế tắc của nền văn học, thì
từ sau 1945, tính năng động nghệ thuật
của văn học hiện đại theo quy luật của
nó lại bắt đầu va chạm với các quy tắc
miêu tả, những chuẩn mực và định
này đã đợc dự báo từ một số hiện
tợng văn học trớc 1986. Nhng tính
năng động nghệ thuật của văn học hiện
đại thực sự đợc thể hiện một cách
thuận lợi hơn nhờ có sự năng động mở
đờng của t duy chính trị xã hội. Cá
tính sáng tạo tự do của nhà văn dờng
nh tìm đợc chân trời mới của nghệ
thuật. Cá tính sáng tạo của nhà văn
đợc trả lại tính năng động nghệ thuật
vốn có của nó bởi vì nói nh R. Rô lăng:
Hoạt động của tôi (của nhà văn-LVT)
luôn luôn có tính chất năng động. Tôi
bao giờ cũng viết cho những ngời đang
tiến lên phía trớc, bởi vậy bản thân tôi
bao giờ cũng tiến lên phía trớc Đối
với tôi cuộc sống sẽ không là gì cả nếu
nh nó không biểu thị sự vận động, lẽ
cố nhiên là hớng thẳng về phía trớc
[1, tr. 98].
Cá tính sáng tạo tự do của nhà văn
ngày càng tìm đợc sự đồng thuận, bình
đẳng với yêu cầu chính trị. Một tác
phẩm văn học hiện đại đích thực ngày
nay phải đợc một sự bảo đảm đầy đủ
cho cá tính sáng tạo của nhà văn, thể
hiện rõ rệt nhất phơng thức cảm thụ
thế giới của chủ thể. Có nh vậy, văn
học hiện đại mới tạo ra đợc những thế
giới nghệ thuật sống động, đỉnh cao,
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 1b-2007 116
một lối riêng tạo ra thế giới nghệ thuật
phong phú, phức tạp cha từng có xét ở
cả hai chiều đồng đại và lịch đại. Dới
đây là bớc đầu nghiệm thu hiệu quả
của thứ năng lực đặc thù đó qua hành
trình vận động đổi mới thể loại hiện
đại.
Thể loại trong văn học nói chung
thờng là điểm gặp, là phạm trù nghệ
thuật hội ngộ các phạm trù khác. Khi ở
ngoài tác phẩm, thể loại là cái khuôn vô
hồn. Khi nhà văn lựa chọn một thể loại
để viết tác phẩm, thì thể loại thành một
yếu tố nghệ thuật mang ý thức văn hoá
của nhà văn trong tác phẩm. Cũng nh
các yếu tố hình thức khác, thể loại của
tác phẩm là một kiểu khúc xạ các dạng
thức, hình thái của hiện thực qua tâm
lý sáng tạo của chủ thể. Thể loại trong
tác phẩm là một phần linh hồn, một
phần chân dung văn hoá của nhà văn.
Thể loại văn học trung đại mang
tính khép kín xét trong cả hệ thống và
từng thể loại. Có vận động, biến đổi ít
nhiều là kết quả của những cá tính
sáng tạo mạnh, không phải do đặc
Phơng thức và quan niệm thể loại
cũng thay đổi. Sau những thể nghiệm
do học tập các thể loại hiện đại phơng
Tây ở bớc đi đầu với tiểu thuyết
Nguyễn Trọng Quản, Hồ Biểu Chánh,
Hoàng Ngọc Phách, truyện ngắn
Phạm Duy Tốn, kịch nói Vũ Đình
Long, Nam Xơng, cùng những cải
biến thể loại truyền thống của Tản Đà,
Phan Bội Châuđến cuối những năm
20 thế kỷ trớc đã có thể nói đến một
sự định hình tính chất mới, hệ thống
thể loại mới của văn học hiện đại [2, tr.
526]. Nhng không nên hiểu định
hình ở đây nh là một sự cố định hoá,
nh là các thể loại đã đợc an bài mà
nên hiểu định hình theo nghĩa khẳng
định xu hớng và quan điểm thể loại
mới chuẩn bị cho một cuộc cách mạng
thật sự về thể loại sắp mở màn. Xa,
cha ông ta tập theo thể loại của văn học
cổ Trung Hoa và hầu nh chủ yếu là
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 1b-2007 117
rập khuôn theo mẫu gốc suốt 10 thế kỷ
đại sang câu thơ điệu nói hiện đại. Chất
văn xuôi tạo câu thơ vắt dòng, ngắt
dòng kiểu mới không chỉ trong thơ Mới
mà cả trong Từ ấy của Tố Hữu. Hiện
tợng câu thơ không tơng ứng với
dòng thơ đă thành phổ biến (trong khi
thơ trung đại câu thơ thờng trùng
khớp với dòng thơ): do yêu cầu diễn tả
đa dạng các kiểu thức lời nói có logíc, có
sự mạch lạc, khúc chiết nhằm truyền
đạt những ý tởng khác nhau: nhân
quả, tơng hỗ, hô ứng, khẳng định -
phủ định, đồng tình tranh biện, và để
trình bày những lý lẽ ấy, thơ hiện đại
sử dụng nhiều h từ, quan hệ từ vốn
không thông dụng trong thơ trung đại:
nh, vẫn, để, nhng, hãy, cứ, chẳng, sẽ,
với, nếu, hay, Đoạn thơ tám dòng sau
đây thực ra là diễn đạt một câu lời nói
dài với một chủ từ: ta và nhiều từ chỉ
hành động của ta: ta hát, ta cời
nói, ta khổ, ta nuốt, ta nao nao, ta
cháy ruột:
Nếu đôi lúc ta hát thầm nho nhỏ
Dới gầm xai, hay cời nói huyên thiên
Nh một thằng trẻ dại, một thằng điên
Là để khổ trong những giờ im lặng
Để nuốt bọt với bao nhiêu mật đắng
Của một đời cách biệt với đời chung
Để nao nao với những mộng không cùng
chính con ngời là phải vay vốn,
hoán vị vốn từng phần cho nhau để
cùng mở rộng chân trời và năng lực
sáng tạo. Trên là văn xuôi vào thơ, đến
lợt văn xuôi cần chất thơ nh cần
thêm sinh khí mới hình thành loại văn
xuôi trữ tình độc đáo trong tác phẩm
Thạch Lam, Hồ Zdếnh, Thanh Tịnh,
Xuân Diệu Tiểu thuyết Tự lực văn
đoàn cũng đầy chất thơ. Văn học hiện
thực phê phán khi phân tích tàn nhẫn
cái hiện thực thù địch với con ngời vẫn
không chối từ chất thơ. Chất thơ trong
văn Nguyên Hồng rạo rực tình ngời,
trong thế giới phiêu lu của Tô Hoài
(Dế mèn phiêu lu ký) Rồi chất thơ đi
vào vơng quốc của kịch, tạo ra thể kịch
thơ có lịch sử riêng của nó. Phóng sự và
tiểu thuyết hoán vị cho nhau một phần
hồn cốt của mình tạo ra những khả
năng vô tận trong việc lột trần hiện
thực qua tác phẩm Vũ Trọng Phụng và
nhiều nhà văn khác. Chúng tôi đồng ý
với Vũ Tuấn Anh khi sử dụng thuật ngữ
cộng sinh [2, tr. 543]thể loại để nói
hiện tợng trên, nhng muốn chỉ rõ cả
hai bình diện sinh thành và chức năng
của hiện tợng đó nhằm phân biệt với
hiện tợng có vẻ tơng đồng của văn
học trung đại: dòng truyện thơ nôm.
trào nghệ thuật, một sự kiện văn học
sử, thì giá trị mà thơ Mới để lại là vô
tiền khoáng hậu, một giá trị không gì
thay thế đợc. Còn nếu nhìn thơ Mới
nh là một loại hình thơ Việt Nam hiện
đại, thì cũng nh với bất cứ một thể loại
nào khác khi đã phát triển đến rực rỡ,
hoàn chỉnh ở một thời kỳ, không có
nghĩa thể loại đó đã định hình, đã trở
thành kiên cố. Do quy luật về tính năng
động nghệ thuật của thể loại, nó phải
vận động, phải đổi mới, vừa giải thể,
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 1b-2007 119
vừa kiến tạo, vừa hoại thải, vừa sinh
sôi, nếu không nó sẽ yên giấc nh một
số thể loại văn học trung đại đã từng
cáo chung. Giờ đây (cuối thế kỷ XX, đầu
thế kỷ XXI), ta nói về một thời đại mới
của thơ Việt Nam đang hình thành,
đang lớn dậy; biện chứng và công bằng
là nói theo nghĩa đó. Nhà thơ Trần Dần
vào khoảng năm 1996 có nhấn mạnh ý
này: Trung thực một lòng cho đổi mới
văn học. Phải chôn vùi văn học tiền
Hiểu: Khởi đầu biến động thơ hôm nay
có thể từ những bài thơ của Nguyễn
Xuân Sanh trong Xuân Thu Nhã tập
[3, tr. 147]. Vậy là ngay từ trong cuộc
cách mạng về thơ 1932-1945, thơ Việt
Nam (thơ Mới và các xu hớng khác) đã
ngấm ngầm một sức năng động mới để
mở rộng biên giới của thơ. Thơ mới
đơng đại vừa tiếp tục những năng
lợng ấy, vừa đợc bồi dỡng những
năng lợng mới mẻ từ sức sống mới của
thời đại, dân tộc, từ cuộc tiếp giao văn
hoá đa phơng với thế giới hiện đại.
Hớng tới một thời đại văn học thực sự
mới nh niềm khao khát của nhà thơ
Trần Dần thật là chân thành, cảm
động. Nhng cũng nh quan niệm của
bạn ông - nhà thơ Lê Đạt - về tính
không đầy đủ, không toàn vẹn của mọi
hệ kiến giải mà ông diễn từ nguyên lý
bất toàn của Godel (cũng trong Văn
nghệ số 42 2006) thì thời đại văn học
thực sự mới theo ý Trần Dần thực ra
cũng chỉ là tơng đối, không thể toàn
hình, toàn cốt đợc vì hiện thực vẫn
đang vận động qua biên giới của một
kiến giải và quy luật về tính năng động
nghệ thuật của văn học hiện đại sẽ tạo
ra tiếp tục trong thời đại văn học thực
sự mới đó những sức sống ngầm, rồi sẽ
literature on the process of modernization. Hence, it helps to explain some
complicated relations of the modern literature life and to provide an outlook on the
movement, innovation itinerary of genre firstly poetry from the 20
th
century to
the early of this century. (a)
Khoa Ngữ văn, trờng đại học Vinh