Thành tựu 50 năm con người chinh phục vũ trụ
Từ thời thượng cổ, con người đã muốn tìm hiểu các hiện tượng tự nhiên khi nhìn
lên bầu trời, do đó đã có nhiều câu chuyện huyền thoại về mặt trăng, mặt trời và
các vì sao… Nhưng phải đợi đến thế kỷ XX, nhờ sự phát triển của khoa học và
công nghệ, con người mới có được câu trả lời cho một số vấn đề bí ẩn của vũ trụ.
1. Liên Xô đã mở đầu kỉ nguyên chinh phục vũ trụ
Có thể nói cha đẻ của ngành khoa học du hành vũ trụ là Xiôncôpxki C.E (1857-
1935). Năm 1896, ông đã công bố công trình về tên lửa bay đến các hành tinh.
Ngày 4/10/1957, Liên Xô đã phóng được vệ tinh nhân tạo đầu tiên có trọng lượng
83kg bay quanh trái đất, phát tín hiệu vô tuyến đến khắp nơi trên thế giới. Đây là
một tin chấn động toàn cầu. Tờ Paris Mach có kể rằng: Bà Hilary - vợ cựu Tổng
thống Mỹ Bill Clintơn, hiện là Ngoại trưởng Mỹ, lúc ấy mới 9 tuổi học lớp 3, đã
nói to trong lớp: “Chúng ta phải học thật giỏi để vượt người Nga”. Tháng 1/1958,
Mỹ đã phóng được vệ tinh nặng 17kg. Nếu muốn đưa một vật nặng 1kg lên cao
1km sẽ tốn năng lượng là một vạn Jun, nên việc đưa vệ tinh lên cao hàng trăm km
phải có tên lửa cực mạnh, mạnh hơn tên lửa vượt đại châu.
Tháng 10/1959, Liên Xô lại phóng thành công trạm tự động “Mặt Trăng 3”
(Luna 3) bay vòng quanh phía sau mặt trăng. Mặt trăng là thiên thể gần trái đất
nhất (cách 384.000km) và chỉ quay mặt về phía trái đất nên con người không thấy
được nửa sau của mặt trăng. Trạm “Mặt trăng 3” chụp được hàng trăm bức ảnh
phía sau mặt trăng, lập được bản đồ và đặt tên các biển, các miệng núi lửa… ở
phía sau mặt trăng mà chưa ai nhìn thấy.
Đặc biệt ngày 12/4/1961, Liên Xô đã phóng thành công tàu Phương Đông I do
Gagarin điều khiển, bay vào vũ trụ quanh trái đất ở độ cao 327km. Từ đó, ngày
12/4 hàng năm đã trở thành ngày du hành vũ trụ quốc tế.
2. Chương trình Apollo khám phá mặt trăng
Có người hỏi: Nghiên cứu không gian vũ trụ để làm gì? Mọi khoa học đều có
mục đích yêu cầu cụ thể. Khoa học vũ trụ nhằm tìm hiểu vũ trụ được hình thành
và tiến hoá như thế nào. Từ đó tiến hành sử dụng và khai thác không gian vũ trụ,
đồng thời từ vũ trụ để nghiên cứu trái đất, nhằm phục vụ nhu cầu kinh tế, văn hoá,
xã hội của loài người.
mạng lịch sử và rơi xuống phía Nam Thái Bình Dương vào năm 2000.
Từ năm 1984, cơ quan Hàng không vũ trụ Mỹ (NASA) đã chuẩn bị thực hiện
một trạm vũ trụ có người ở thường xuyên. Đến năm 1987, Mỹ hợp tác với Nga,
đưa được mô-đun Mỹ - Nga lên quỹ đạo, có nhiệm vụ cung cấp điện và làm
thủng tâm điều hành của tổ hợp tương lai. Năm 1998, nó được ghép thêm một
mô-đun lấy từ Trạm Hoà Bình 1 của Nga, dùng làm xưởng và nơi ở, cuối năm
1998 ghép thêm phòng thí nghiệm của Mỹ, năm 2000 ghép thêm hai mô-đun
của Nhật. Đây là trạm vũ trụ quốc tế (viết tắt là ISS) gồm 16 nước: Mỹ, Nga,
các nước Châu Âu, Nhật Bản, Canada Đến năm 2003, việc lắp ráp cơ bản
được hoàn thành với tổng khối lượng 400 tấn. Trạm vũ trụ còn mở ra một
ngành kinh doanh mới là thực hiện các chuyến bay du lịch vũ trụ. Các chuyến
bay du lịch của nam giới với kinh phí 20 triệu USD, một phụ nữ Mỹ gốc Ả Rập
đã đi du lịch trên trạm vũ trụ trong một tuần lễ với khoản chi phí 25 triệu USD
(tương đương 500 tỷ VNĐ). Nga đang chuẩn bị làm khách sạn trong vũ trụ để
phát triển ngành đi du lịch vũ trụ.
4. Vì sao nhiều nước phải đưa người bay vào vũ trụ?
Hàng ngàn năm nay, con người chỉ quan sát vũ trụ nhờ ánh sáng. Năm 1609,
Galile (1564-1642) là người đầu tiên dùng kính viễn vọng tự chế tạo để quan sát
thiên văn, đã phát hiện nhiều điều kỳ lạ trong vũ trụ như trên mặt trời có các vết
đen và mặt trời tự quay quanh một trục, trên mặt trăng có các dãy núi và rất nhiều
miệng núi lửa (có hình phễu). Mộc tinh có 4 mặt trăng chạy quanh. Kim tinh có
khi tròn khi khuyết như mặt trăng…
Năm 1932, người ta phát hiện trong vũ trụ có những bức xạ vô tuyến điện. Sau
chiến tranh thế giới thứ hai, kính thiên văn vô tuyến ra đời, giúp các nhà thiên văn
phát hiện những hiện tượng mới lạ trong vũ trụ như Quada (1963), Punxa
(1967)… Đến cuối thế kỷ XX, kính thiên văn vô tuyến đã phát hiện rất nhiều phân
tử hữu cơ trong vũ trụ; ở gần tâm thiên hà, mà hình ảnh trên bầu trời là dải Ngân
Hà có một lượng rượu (C
2
H
0
Đông sẽ tồn tại được khoảng 20 năm. Hiện nay, hơn 90 nước
trên thế giới đã có vệ tinh để thông tin truyền thông giữ được bí mật, khi không khai
thác hết công suất thì cho nước ngoài thuê. Nhờ hệ thống truyền thông toàn cầu nên
mọi thông tin về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá nghệ thuật… được pháttức thời
qua đài phát thanh và vô tuyến truyền hình.
Một phương tiện thông tin liên lạc rất phổ biến hiện nay là điện thoại di động giúp
con người có thể gọi, nhắn tin đến bạn bè hay người thân ở bất kỳ nơi nào trên thế
giới nhờ một hệ thống gồm 66 vệ tinh nằm trên quỹ đạo dọc theo 11 kinh tuyến, các
tín hiệu được phát từ trạm gần người phát lên các vệ tinh rồi truyền đến trạm gần
người dân.
Hệ thống định vị toàn cầu GPS
Đây là một hệ thống nhiềuvệ tinh.Khi ta dùng một máy định vị cầm tay thu tín
hiệu từ vệ tinh sẽ biết được tọa độ nơi ta đang đứng. Hệ thống này có thể giúp cho
việc tìm kiếm cứu nạn trên biển, trên rừng, trên hoang mạc… Mỹ và Nga là những
nước có hệ thống này đầu tiên. Các nước cộng đồng Châu Âuvà Trung Quốc cũng
đang hoàn chỉnh các hệ thống tương tự.
Các vệ tinh phục vụ chuyên ngành
Theo định luật bảo toàn mô-đun động lượng trong vật lí, mặt phẳng quỹ đạo vệ
tinh luôn đi qua tâm trái đất. Nếu vệ tinh được phóng lên làm với xích đạo một góc
nào đó, kết quả trái đất quay dưới quỹ đạo vệ tinh, nên từ vệ tinh có thể nhìn thấy mọi
điểm trên mặt đất. Các loại vệ tinh bí mật quân sự, quan sát thời tiết khí hậu, quan sát
các hiện tượng vật lý địa cầu, quan sát các luồng cá trên biển, theo dõi các vụ cháy
rừng và sâu bệnh phá rừng… đều có quỹ đạo tương tự để quan sát, chụp ảnh được
toàn cầu. Các loại vệ tinh này có hiệu quả kinh tế
rất lớn khó mà tính được.
Sử dụng các công nghệ vũ trụ
Ngày nay có nhiều công nghệ được nghiên cứu và xử lí trong vũ trụ, ở đây chỉ
nêu một vài ví dụ. Trong công nghệ sản xuất hợp kim, các kim loại có khối lượng
riêng khác nhau nên không thể chế tạo hợp kim đồng nhất, nhưng nếu thực hiện