19
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, Số 49, 2008
THÀNH PHẦN LOÀI LƯỠNG CƯ (AMPHIBIA) VÀ BÒ SÁT (REPTILIA)
PHÍA TÂY T
ỈNH ĐẮK NÔNG
Ngô Đắc Chứng, Trần Hậu Khanh
Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế
TÓM TẮT
Kết quả nghiên cứu đã ghi nhận ở vùng phía Tây tỉnh Đắk Nông hiện có 24 loài lưỡng
cư thuộc 2 Bộ và 6 Họ và 48 loài bò sát thuộc 3 Bộ và 15 Họ. Thành phần loài lưỡng cư và bò
sát ở Tây Đắk Nông ít hơn so với Khu Bảo tồn thiên nhiên Lò Gò- Xa Mát (Tây Ninh), Vườn
Quốc gia Núi Chúa (Ninh Thuận) và các tỉnh phía Tây vùng Đông Nam bộ. Trong số 72 loài
lưỡng cư và bò sát ở Tây Đắk Nông có 27 loài quý hiếm, 12 loài trong Danh lục Đỏ của IUCN
(2004), 19 loài trong Sách Đỏ Việt Nam (năm 2000), 14 loài ghi trong Phụ lục của Nghị định Số
32/2006/NĐ-CP của Chính phủ và 5 loài đặc hữu của Việt Nam.
I. Đặt vấn đề
Động vật hoang dã nói chung, lưỡng cư và bò sát nói riêng là nguồn tài nguyên
tái t
ạo. Chúng tạo nên tính đa dạng sinh học, là mắt xích quan trọng của lưới thức ăn
trong các h
ệ sinh thái tự nhiên và có giá trị lớn trong đời sống con người.
- Quan sát và phỏng vấn: Quan sát động vật sống trên các tuyến khảo sát, ở các
điểm buôn bán động vật hoang dã và các di vật các loài (mai rùa, xác rắn ngâm rượu,…).
Ph
ỏng vấn những người thường tiếp xúc với rừng như: cán bộ kiểm lâm, thợ săn, chủ hộ
mua bán
động vật hoang dã,… kết hợp thNm định bằng bộ ảnh của các loài.
-
Định tên khoa học các loài: Mẫu vật sau khi đã phân tích số liệu về hình thái,
được định tên khoa học dựa vào khóa định loại lưỡng cư, bò sát Việt Nam của Đào Văn
Ti
ến [6],[7],[8],[9],[10]. Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, Nguyễn Quảng Trường [12],…
III. K
ết quả nghiên cứu
3.1. Thành ph
ần loài lưỡng cư, bò sát ở phía tây tỉnh Đắk Nông
Thông qua phân tích các m
ẫu vật và các tư liệu thu thập được, chúng tôi đã
th
ống kê được 72 loài thuộc 21 họ, 5 bộ của lớp lưỡng cư (Amphibia) và bò sát
(Reptilia) (B
ảng 1). Về lưỡng cư, có 24 loài thuộc 6 họ, 2 bộ, trong đó họ có số lượng
loài nhi
ều nhất là Ranidae (họ ếch nhái) với 12 loài. Về bò sát, có 48 loài thuộc 15 họ, 3
b
ộ, trong đó họ có số lượng loài nhiều nhất là Colubridae (họ rắn nước) với 13 loài.
So v
ới toàn quốc (Bảng 2) thì phía Tây tỉnh Đắk Nông có 5 bộ (chiếm 83,33%
t
ổng số bộ so với toàn quốc), 21 họ (65,62%), 48 giống (30,96%) và 72 loài (15,72%).
Trong
1. Ichthyophiidae Họ ếch giun
1
Ichthyophis bannanicus
(Yang, 1984)
Ếch giun ĐT V
ANURA BỘ KHÔNG ĐUÔI
2. Megophryidae Họ cóc bùn
2
Brachytarsophrys intermedius
(Smith, 1921)
Cóc mắt trung gian ĐT
3. Bufonidae Họ cóc
3
Bufo melanostictus
(Schneider, 1799)
Cóc nhà M
21
4. Ranidae Họ ếch nhái
4
Hoplobatrachus rugulosus
(Wiegman, 1835)
Ếch đồng M
Chẫu M
13
Rana macrodactyla
(Gunther 1859 “1858”)
Chàng hiu M
14 Rana nigrovittata (Blyth, 1855) Ếch suối ĐT
15
Rana taipehensis
(Van Denburgh, 1909)
Chàng đài bắc M
5. Rhacophoridae Họ ếch cây
16
Rhacophorus annamensis
(Smith, 1824)
Ếch cây trung bộ M VU17
Nyctixalus pictus
(Peters, 1871)
Nhái cây Ciamôn ĐT
18
Polypedates leucomystax
(Gravenhorst, 1829)
Ếch cây mép trắng M
6. Microhylidae Họ nhái bầu
1
Cyrtodactylus irregularis
(Smith, 1921)
Thạch sùng ngón vằn
lưng
ĐT
2 Gekko gecko (Linnaeus, 1758) Tắc kè M T
3
Hemidactylus frenatus
(Schelegel, in Dumeril et Bibron,
1836)
Thạch sùng đuôi sần M
4
Hemydactylus garnoti
(Dumeril et Bibron, 1836)
Thạch sùng đuôi dẹp M
2. Agamidae Họ nhông
5
Bronchocela orlovi
(Hallerman, 2004)
Nhông đuôi dài óc lốp ĐT
6
Calotes mystaceus
(Dumeril et Bibron, 1837)
Nhông xám ĐT
7
Calotes versicolor
Họ thằn lằn chính
thức
13
Takydromus sexlineatus
(Daudin, 1802)
Liu điu chỉ QS
5. Varanidae Họ kỳ đà
14
Varanus bengalensis
(Gray, 1831)
Kỳ đà vân M V I IIB
15 Varanus salvator (Laurenti, 1786)
Kỳ đà hoa M V II IIB 6. Typhlopidae Họ rắn giun
16
Ramphotyphlops braminus
(Daudin, 1803)
Rắn giun thường ĐT
7. Xenopeltidae Họ rắn mống
17
Rắn rào đốm ĐT
22
Chrysopelea ornata
(Shaw, 1802)
Rắn cườm M
23
Dendrelaphis pictus
(Gmelin, 1789)
Rắn leo cây ĐT
24 Elaphe radiata (Schlegel, 1837) Rắn sọc dưa M IIB
25 Elaphe taeniura (Cope, 1861) Rắn sọc đuôi M
26
Enhydris enhydris
(Schneider, 1799)
Rắn bông súng M
27 Enhydris plumbea (Boie, 1827) Rắn bồng chì M
28
Oligodon mouhoti
(Boulenger, 1914)
Rắn khiếm mu hô M
29 Ptyas korros (Schlegel, 1837) Rắn ráo thường M T
30 Ptyas mucosus (Linnaeus, 1758) Rắn ráo trâu M V II IIB
31
Rhabdophis subminiatus
(Schlegel, 1837)
Rắn hoa cỏ nhỏ M
32
Xenochrophis piscator
Calloselasma rhodostoma
(Boie, 1827)
Rắn choàm quạp
M
39
Trimeresurus albolabris
(Gray, 1842)
Rắn lục mép trắng
M
24
TESTUDINATA BỘ RÙA 12. Emydidae Họ rùa đầm
40
Cuora amboinensis
(Daudin, 1802)
Rùa hộp lưng đen
M VU V II
41 Cuora trifasciata (Bell, 1825) Rùa hộp ba vạch ĐT CR E II IB
42
Cyclemys tcheponensis
(Bourret, 1939)
Rùa đất sêpôn
M LR
43 Heosemys grandis (Gray, 1860) Rùa đất lớn M VU V II IIB
15. Crocodylidae Họ cá sấu
48
Crocodylus siamensis
(Schneider, 1801)
Cá sấu nước ngọt
QS CR E I IIB
Ghi chú: Cột 4: M: mẫu. QS: quan sát. ĐT: điều tra. Cột 5: IUCN: Danh lục Đỏ IUCN
(2004). CR: Cực kỳ nguy cấp. EN: Nguy cấp. LR: Ít nguy cấp.VU: Sẽ nguy cấp. DD: Thiếu dẫn
liệu. Cột 6: SĐVN: Sách đỏ Việt Nam (2000). E: Đang nguy cấp. V: Sẽ nguy cấp. R: Hiếm. T: Bị
đe dọa. Cột 7: CITES: Công ước CITES (2006). Cột 8: NĐ32: Nghị định 32/2006/NĐ-CP. IB:
Nghiêm cấm khai thác và sử dụng. IIB: Hạn chế khai thác và sử dụng.
Bảng 2: Độ đa dạng về thành phần loài của khu hệ lưỡng cư, bò sát phía Tây tỉnh Đắk Nông
Nhóm
Thành phần phân loại học
Bộ Họ Giống Loài
Số
lượng
% so
với cả
nước
Số
lượng
% so
với cả
nước
Số
lượng
phân
loại
Vườn
quốc gia
Lò Gò -
Xa Mát
(Tây
Ninh)
Vườn
quốc gia
Núi
Chúa
(Ninh
Thuận)
Các tỉnh
phía Tây
miền Đông
Nam Bộ
(Bình
Dương, Bình
Phước, Tây
Ninh)
Phía Tây tỉnh Đắk Nông
Số
loài
Chung
với vườn
quốc gia
Lò Gò -
ếm 19,44 %) ghi trong các phụ lục của Nghị định 32/2006/NĐ-CP, gồm 2 loài
ghi trong ph
ụ lục IB, 12 loài ghi trong phụ lục IIB (Bảng 1).
Có 5 loài
đặc hữu của Việt Nam gồm: Brachytarsophrys intermedius,
Rhacophorus annamensis, Cyrtodactylus irregularis, Bronchocela orlovi, Lygosoma
carinatum.
S
ự tồn tại của các loài quý hiếm phản ánh mức độ đa dạng và giá trị bảo tồn của
khu h
ệ lưỡng cư, bò sát ở phía tây tỉnh Đắk Nông. Đây là chỉ tiêu quan trọng cho công
tác ho
ạch định chính sách bảo tồn nguồn tài nguyên động vật hoang dã cho khu vực.
IV. K
ết luận
-
Đã thống kê được ở phía tây tỉnh Đắk Nông có 72 loài (chiếm 15,72% so với
toàn qu
ốc) thuộc 5 bộ (83,33%) và 21 họ (65,62%). Trong đó, có 24 loài lưỡng cư (2 bộ,
6 h
ọ) và 48 loài bò sát (3 bộ, 15 họ). Thành phần loài lưỡng cư, bò sát phía tây tỉnh Đắk
Nông th
ấp hơn so với các khu hệ lân cận: khu hệ vườn quốc gia Lò Gò - Xa Mát (Tây
Ninh), v
ườn quốc gia Núi Chúa (Ninh Thuận) và khu hệ các tỉnh phía Tây miền Đông
26
Nam Bộ (Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh). Có số bộ bằng với khu hệ các tỉnh phía
tây mi
ền Đông Nam Bộ và cao hơn so với hai khu hệ còn lại.
- Trong 72 loài l
(1982), 5 - 9.
11. Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, Nguyễn Quảng Trường (2005). Danh lục ếch nhái và
bò sát Việt Nam. Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội.
12. Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, Nguyễn Quảng Trường và Lê Vũ Khôi (2005). Nhận
dạng một số loài bò sát, ếch nhái ở Việt Nam. Nxb. Nông nghiệp, TP. Hồ Chí Minh.
13. Orlov N.L., Murphy R.W., Anajeva N.B., Ryubov S.A. and Ho Thu Cuc. Herpetofauna
of Vietnam, a Checklist. Part I. Amphibia, Russian Journal of Herpetology, 9(2), (2002),
81-104.
27
SPECIES COMPOSITION OF AMPHIBIANS AMD REPTILES
FROM THE WEST OF DAKNONG PROVINCE
Ngo Dac Chung, Tran Hau Khanh
College of Pedagogy, Hue University
SUMMARY
According to the statistics we have made in the west of Dak Nong province, there are 24
amphibian species which belong to 6 families, 2 orders and 48 reptile species which belong to
15 families, 3 orders in this area. The herptile species composition of the west of Dak Nong
province is lower than that of the Lo Go-Xa Mat National Park (Tay Ninh) and the Nui Chua
National Park (Ninh Thuan) and the west provinces of Dong Nam Bo area. The herptile orders
composition of the west of Dak Nong province is higher than that of Nui Chua National Park
(Ninh Thuan) and Lo Go-Xa Mat National Park (Tay Ninh) but it is as high as that from the
west provinces of Dong Nam Bo area. Among these 72 herptile species in the west of Dak Nong
province, 27 species are precious, with 12 species listed in the IUCN Red List (2004), 19 species
in the Red Data Book of Vietnam (2000), 16 species in the CITES appendices (2006) and 14
species in the Governmental Decree No, 32/2006/NĐ-CP. Five species are endemic of Vietnam.