ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
***
ĐỖ THỊ NGỌC LAN
CẢM HỨNG PHÊ PHÁN TRONG VĂN XUÔI
HIỆN ĐẠI VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI
(Qua các tác phẩm của Ma Văn Kháng, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái)
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
HÀ NỘI – 2009
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
***
ĐỖ THỊ NGỌC LAN
CẢM HỨNG PHÊ PHÁN TRONG VĂN XUÔI
HIỆN ĐẠI VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI
(Qua các tác phẩm của Ma Văn Kháng, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái)
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60 22 34
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN VĂN NAM
HÀ NỘI - 2009
LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới TS. Nguyễn Văn Nam (Khoa
Văn học) - người đã tận tình hướng dẫn em hoàn thành luận văn này cùng các
thầy, cô giáo trong Khoa Văn học - Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân
văn Hà Nội đã giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Nhân dịp này, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới người thân, gia đình
và bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
Hà Nội, tháng 11 năm 2009
Tác giả
Đỗ Thị Ngọc Lan
một xã hội với những con người có phẩm chất cao đẹp, sống có nghĩa tình, nhân hậu.
6
2. Lịch sử vấn đề
Tác phẩm của Ma Văn Kháng, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái rất phong phú
về nội dung. Các bài viết nghiên cứu về những tác phẩm của ba tác giả đã khai
thác nhiều vấn đề như đặc điểm cốt truyện, nghệ thuật xây dựng nhân vật, cách
thức trần thuật, nghệ thuật tự sự…Tuy nhiên, vấn đề cảm hứng phê phán chưa
được đề cập tới một cách kỹ lưỡng trong các tác phẩm nghiên cứu.
Ma Văn Kháng thành công cả về thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết. Từ
những năm 80 trở lại đây, các tác phẩm của Ma Văn Kháng thu hút sự quan tâm
của nhiều bạn đọc. Thể loại sáng tác của ông đa dạng hơn, hình thức nghệ thuật
phong phú, nhân vật được xây dựng với nhiều tính cách điển hình cho con người
thời đại mới với tư tưởng hiện đại, tiến bộ. Ở mảng tiểu thuyết thế sự đời tư của
nhà văn, giới nghiên cứu phê bình đánh giá rất cao về những đóng góp của Ma
Văn Kháng bởi ý tưởng sáng tạo và ý thức đổi mới tư duy của tác giả. Ông đã
cho ra mắt bạn đọc 11 cuốn tiểu thuyết, 20 tập truyện ngắn và 3 tập truyện viết
cho thiếu nhi. Năm 2008, tập truyện ngắn mới nhất của Ma Văn Kháng mang tựa
đề Trốn nợ (NXB Phụ nữ - 2008) bao gồm 18 truyện ngắn đã ra mắt và gần đây
(tháng 9-2009), cuốn hồi ký “năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ thương”
được xuất bản đã giành được nhiều tình cảm của bạn đọc.
Với trên 40 năm lao động nghệ thuật, Ma Văn Kháng ý thức được sứ
mệnh là viết để bảo vệ và khẳng định những giá trị chân chính của con người,
của cuộc sống. Các tiểu thuyết viết về mảng thế sự đời tư của Ma Văn Kháng đã
khẳng định được những giá trị nhất định: Các tiểu thuyết “Mưa mùa hạ”, (1982),
“Mùa lá rụng trong vườn” (1985), “Côi cút giữa cảnh đời” (1989), “Đám cưới
không có giấy giá thú” (1988), “Chó Bi đời lưu lạc” (1992), “Ngược dòng nước
lũ” (1999) của ông đã thu hút nhiều sự quan tâm của nhiều độc giả.
Phong Lê nhận định trong Vẫn chuyện văn và người (NXB Văn hoá thông
tin - 1989): “Cuốn sách của Ma Văn Kháng đã vục vào cái sự thật tối tăm oan
khổ như nhiều cuốn sách khác. Nhưng thật lạ, anh lại đưa con người vào quỹ đạo
8
niệm nghệ thuật về con người tự nhiên trong sáng tác của Ma Văn Kháng sau
năm 1975 - Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Cẩm Giang; Cảm hứng bi kịch
nhân văn trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng - Luận văn thạc sĩ của Bùi Lan
Hương…
Đề cập đến cảm hứng phê phán trong sáng tác của Ma Văn Kháng, tác giả
Nguyễn Văn Xuất có công trình nghiên cứu luận án Phó tiến sĩ văn học mang đề
tài Cảm hứng phê phán trong tiểu thuyết hiện đại (qua một số tiểu thuyết ở Liên
Xô và Việt Nam). Đây là công trình nghiên cứu về cảm hứng phê phán trong một
số tác phẩm văn xuôi Liên Xô và Việt Nam. Trong luận án này, tác giả đã nghiên
cứu về cảm hứng phê phán trong tác phẩm Đám cưới không có giấy giá thú của
Ma Văn Kháng dưới tư duy tiểu thuyết của nhà nghiên cứu Đôxtôiepxki.
Trong mảng phê bình nghiên cứu về các tác phẩm thế sự đời tư của Hồ
Anh Thái đáng kể đến là những bài viết của các tác giả Nguyễn Thị Minh Thái,
Nguyễn Anh Vũ, Ngô Thị Kim Cúc, Vân Long, Nguyễn Thị Phương, Trần Duy
Hiển, Phạm Chí Dũng, Hoài Nam, Tuyền Lâm…Trong bài viết Hơn cả sự thật,
Nguyễn Anh Vũ cho rằng: “Với Cõi người rung chuông tận thế, Hồ Anh Thái đã
khai thác triệt để khả năng phản ánh một cách trọn vẹn và sinh động hiện thực
đời sống của thể loại tiểu thuyết. Đọc tiểu thuyết này, ta không khỏi lo ngại trước
lối sống của một bộ phận thanh niên trong xã hội hôm nay. Đó là một lối sống
thực dụng, buông thả, ích kỷ, với những ham muốn điên loạn, cuồng loạn. Rõ
ràng, họ không đại diện cho thế hệ trẻ đang tràn đầy sức sống, tài năng và nhiệt
huyết trong xã hội ngày nay. Thế nhưng, ta vẫn không khỏi xót xa, ngậm ngùi
cho những cảnh sống vô hồn, không hoài bão, lý tưởng đó. Nếu không cảnh báo,
ngăn chặn, rất có thẻ đó sẽ là “mảnh đất màu mỡ” cho cái ác nảy mầm, tồn tại và
phát triển” [38, tr 285-286]. Bàn về tiểu thuyết Mười lẻ một đêm, tác giả Hoài
Nam nhận định: “Bằng tiếng cười, tác giả Mười lẻ một đêm đã phanh phui cái
nhẽ ra không có quyền tồn tại song lại nghiễm nhiên đang tồn tại trong cuộc
sống, và mặt khác, nhà văn cũng buộc người đọc phải nhận thức một sự thật:
cuộc sống này, ở đây, bây giờ đều đang ngổn ngang, và chắc hẳn để có một trật
10
ráo riết mà vẫn mở đường cho nhân vật - người đọc một lối thoát lương tâm [57].
Trong bài viết này, tác giả cũng đưa ra một số nhận định về nhân vật trong tiểu
thuyết Tạ Duy Anh: “Nhân vật của Tạ Duy Anh không có sự trung gian, nhờ
nhờ, xam xám về ngoại hình (…) Nhưng bản chất con người thì luôn luôn ở lằn
ranh giới thiện - ác. Nhân vật nào cũng luôn luôn bị đặt trong trạng thái lựa chọn
- đấu tranh với xã hội, với môi trường, với kẻ thù, với người thân, với chính bản
thân mình. [58].
Ngoài ra, nghiên cứu về tác phẩm của Tạ Duy Anh có bài viết: “Tạ Duy
Anh - gương mặt nổi bật của văn đàn 2004” của Nguyên Trường, cuốn sách: Thế
giới nghệ thuật Tạ Duy Anh của Nguyễn Thị Hồng Giang, Vũ Lê Lan Hương,
Võ Thị Thanh Hà, NXB Hội Nhà văn 2007. Bên cạnh đó có một số luận văn đã
đề cập đến vấn đề nhân vật trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh.
Qua khảo sát kết quả của những người đi trước, có thể nhận thấy những
bài viết nghiên cứu về 3 tác giả Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh và Ma Văn Kháng
chủ yếu liên quan đến những vấn đề về nghệ thuật tự sự, nghệ thuật xây dựng
nhân vật, nghệ thuật xây dựng cốt truyện…Tuy có đề cập đến những vấn đề còn
tồn tại ngổn ngang trong xã hội nhưng những tác phẩm nghiên cứu chưa đề cập
sâu sát đến vấn đề cảm hứng phê phán.
Bằng cách phân tích và tham khảo các ý kiến về tác phẩm của 3 tác giả,
chúng tôi bước đầu nghiên cứu về vấn đề cảm hứng phê phán được thể hiện qua
các tác phẩm nhằm làm sáng tỏ tư tưởng nhân văn tích cực mà các tác giả muốn
gửi gắm tới độc giả.
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
3.1. Mục đích của đề tài
- Phân tích, đánh giá và làm nổi bật được cảm hứng phê phán được thể
hiện qua các tác phẩm của 3 tác giả.
- Chứng minh rằng sự phản ánh hiện thực cuộc sống của các tác giả không
chỉ dừng lại ở việc miêu tả những bề bộn của thế sự - đời tư con người, không
chỉ dừng lại ở việc tố cáo cái xấu cái ác, không phê phán phủ định sạch trơn mà
12
Chương 1
CHÂN DUNG CÁI XẤU TRONG DIỆN MẠO
NHỮNG CON NGƯỜI CỤ THỂ
1.1. Nhu cầu bức thiết của việc vạch trần cái xấu trong cuộc sống
Một trong những chức năng cao đẹp, thanh khiết của văn học chính là
nâng đỡ, thanh lọc tâm hồn con người, hướng con người đến những điều đẹp đẽ
của cuộc sống. Lịch sử luôn luôn biến động không ngừng, mỗi giai đoạn văn học
lại gắn với những nội dung phản ánh khác nhau. Nếu như dòng văn học cách
mạng trước đây thiên về cảm hứng ca ngợi vẻ đẹp của quê hương đất nước, vẻ
đẹp tâm hồn anh dũng bất khuất của con người Việt Nam thì nền văn học hậu
chiến lại dành nhiều trang viết để tiếp cận những mảng khuất của cuộc sống,
những dòng chảy tâm lý bên trong, những nỗi đau nhân thế âm ỉ dai dẳng đã và
đang diễn ra trong cuộc sống thường nhật.
Trong bất cứ giai đoạn xã hội nào đều tồn tại song hành hai thái cực trái
ngược nhau đó là tốt - xấu, chính - tà, thiện - ác. Nhìn nhận và phản ánh về hai
thái cực ấy trong mỗi giai đoạn văn học lại có những biểu hiện khác nhau. Trong
giai đoạn văn học hiện đại, nhà văn đã có được độ lùi xa của khoảng cách thời
gian để nhìn lại một cách toàn diện và sâu sắc hơn những sự kiện, biến cố dồn
dập của quá khứ xa cũng như gần, và phần lớn những trang viết đã đề cập đến
những mảng khuất của cuộc sống vẫn đang ngày đêm âm ỉ sôi trào.
Cảm hứng phê phán trong văn học Việt Nam là vấn đề xuất hiện mạnh mẽ
nhất trong giai đoạn văn học 1930- 1945 dựa trên những mâu thuẫn dân tộc và
những mâu thuẫn giai cấp trong xã hội một cách sâu sắc lúc bấy giờ. Trước
những năm 30 của thế kỷ XX, những tiền đề của chủ nghĩa hiện thực phê phán
đã xuất hiện, trước hết là trong thơ trào phúng của Tú Xương, Nguyễn Khuyến,
Học Lạc, Nguyễn Thiện Kế và sau đó là văn xuôi của Phạm Duy Tốn, Vũ Đình
13
Long, Hồ Biểu Chánh, Trọng Khiêm, Nam Xương….Tuy nhiên, bản thân những
truyện, những tiểu thuyết và kịch của các tác giả nói trên chưa phải là những tác
Tô Hoài, Nguyên Hồng, Nguyễn Khải, Anh Đức, Nguyễn Minh Châu,… Xã hội
mới ở nước ta từ sau Cách mạng Tháng Tám đã biến chuyển một cách hùng hậu
với các sự kiện to lớn diễn ra dồn dập, nhanh chóng vô cùng. Trong 30 năm
chiến tranh cách mạng xảy ra, biết bao con người đã sống chung trong một bầu
không khí tuy mất mát nhưng cũng hiển hách những chiến công vẻ vang nhất
trong lịch sử dân tộc. Khí thế cách mạng như làn sóng lan nhanh làm thay đổi bộ
mặt của từng vùng đất, từng số phận con người. Trong giai đoạn này, bản chất
anh hùng cách mạng được kết tinh một cách rực rỡ trong những hình tượng anh
hùng, chiến sĩ. Những con người đẹp có tâm hồn trong trẻo và hành động cao cả
đã tạo nên một sức hấp dẫn kỳ diệu đối với các nhà văn để chúng ta có thể thấy
được từng nét đẹp trong tâm hồn của những anh hùng chống thực dân Pháp ở
Tây Nguyên, những dũng sĩ diệt Mỹ ở Củ Chi, những nữ anh hùng như Út Tịch
ở Trà Vinh, Nguyễn Thị Hạnh ở Long An, Trần Thị Tâm ở Quảng Trị…và anh
hùng Trần Thị Lý, bà mẹ Suốt, Nguyễn Văn Trỗi, anh giải phóng quân, những
cô gái ở Ngã ba Đồng Lộc… Tất cả họ đã trở thành những hình tượng mang vẻ
đẹp lý tưởng trong thơ Tố Hữu.
Hiện thực đấu tranh cách mạng trong giai đoạn cách mạng 1945-1975
cũng là mảnh đất màu mỡ cho sự phát triển của thơ ca hiện thực xã hội chủ
nghĩa. Để chiến đấu cho lý tưởng “không có gì quý hơn độc lập tự do”, nhiều
thế hệ đã lên đường hành quân đi cứu nước. Hiện thực cao cả đó là đối tượng của
thi ca, đặc biệt là anh hùng ca. Cảm hứng về Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội, về sự
thắng lợi tất yếu của cách mạng, đó là chất thép, là nguyên tắc cơ bản của thơ ca hiện
thực xã hội chủ nghĩa.
Văn học thời kỳ sau năm 1945 có đặc điểm và quy luật phát triển riêng do
yêu cầu của thời đại cách mạng - phản ánh kịp thời, ca ngợi nhiệt thành chủ
15
nghĩa anh hùng toàn dân, hướng tới miêu tả cái đẹp, cái cao cả. Nguyễn Khải là
tác giả với tư chất của một cán bộ chính trị, một quân nhân từng trải các vấn đề
nóng hổi của xã hội như vấn đề chủ nghĩa cá nhân khoác áo tập thể (Truyện ngắn
Tầm nhìn xa), vấn đề tôn giáo trong đời sống chung (truyện ngắn Xung đột), vấn
linh (truyện ngắn Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành của Nguyễn Minh
Châu). Âm hưởng phê phán - sự phê phán trên tinh thần nhân văn, cầu thị vang
lên mạnh mẽ: truyện ngắn Người không đi cùng chuyến tàu của Nguyễn Quang
Thân, truyện ngắn Bức tranh của Nguyễn Minh Châu, truyện ngắn Gió từ miền
cát của Xuân Thiều…
Trong thời kỳ đổi mới, nhà văn nhìn lại một cách toàn diện và sâu sắc hơn
những sự kiện, biến cố dồn dập của quá khứ. Chính trong thời điểm đầy biến
động này của hiện thực cuộc sống đã giúp nhà văn nhìn rõ những nét bản chất
của hiện thực quá khứ và hiện tại. Nếu như trước đây, nhà văn chỉ kịp thời phản
ánh được một vài khía cạnh của hiện thực, bộc lộ được một vài cảm xúc hoặc ca
ngợi, hoặc phê phán thì giờ đây, bằng sự chiêm nghiệm sâu sắc, các tác giả đã có
thể dựng lại những bức tranh chân thực và rộng lớn với tất cả sự đa dạng của
hiện thực phong phú và phức tạp của đời sống với sự đan xen của cái cao cả và
cái thấp hèn, cái thiện và cái ác… Lúc này hiện thực cuộc sống đã được phản
ánh một cách đa diện, nhiều chiều mà trung tâm của nó là con người thời đại với
những số phận cụ thể gắn liền với vận mệnh của dân tộc, đất nước. Cảm hứng sự
thật được thể hiện là sự gắn kết của cảm hứng sử thi và cảm hứng đời thường.
Những tác phẩm viết theo xu hướng này đã đáp ứng được yêu cầu khách quan
của cuộc sống, giúp người đọc nhìn rõ bản chất của hiện thực trong bối cảnh
cuộc sống trắng đen lẫn lộn, thật giả khó phân tách, khó nhận biết.
Cảm hứng phê phán trong văn học là một vấn đề đã được bàn đến từ lâu
khi nói về văn học hiện thực XHCN và được xác định như một nhiệm vụ song
song bên cạnh nhiệm vụ khẳng định, ca ngợi cái đẹp, cái anh hùng. Đồng chí
17
Phạm Văn Đồng đã khẳng định: “Chúng ta cần khuyến khích sự phê phán và có
nhiệm vụ phê phán những cái xấu, cái không đúng còn tồn tại trong xã hội ta, để
loại trừ nó, để phá bỏ nó” (Xây dựng nền văn hóa văn nghệ ngang tầm vóc dân
tộc ta, thời đại ta, NXB Sự Thật, H. 1979, tr47). Nền văn học hiện thực XHCN
đã vượt qua văn học hiện thực phê phán ở nhiệm vụ lịch sử mới của nó là khẳng
định xu thế phát triển theo chiều hướng tiến bộ và chiến thắng của hiện thực mới
ngợi, cổ vũ của xã hội thì cũng cần lên án, phê phán những khiếm khuyết, những
kẽ hở của xã hội đã tạo điều kiện cho cái xấu, cái ác nảy nở, hoành hành. Một
trong những điều nhức nhối mà văn học hiện đại đề cập đến chính là thực tế một
số không nhỏ con người đang ngày càng biến chất, tha hoá nhân cách vì mải mê
chạy theo chủ nghĩa vật chất, chủ nghĩa danh lợi. Trong cuộc sống hiện nay,
không ít “con người vì cái lợi vật chất đang hèn đi, tầm thường đi” (Ma Văn
Kháng). Nói đến những yếu tố khiến con người rơi vào tình trạng tha hoá nhân
cách thì không thể không kể đến sức mạnh của đồng tiền. Đồng tiền có sức mạnh
chi phối đời sống vật chất và đời sống tinh thần của con người. Đứng trước sự
cám dỗ của đồng tiền, con người không biết kìm hãm lòng tham và dễ dàng trở
thành nô lệ của đồng tiền, trở nên tha hoá nhân cách.
1.2.1.1. Nhân vật trí thức tha hoá về nhân cách
Ma Văn Kháng, Tạ Duy Anh và Hồ Anh Thái là một trong số các tác giả
thường đi sâu khai thác về mảng đề tài thế sự đời tư của con người hiện đại. Qua
những tác phẩm của ba nhà văn, ta thấy một xã hội đa chiều, đa màu sắc được tái
hiện một cách sinh động dưới ngòi bút đậm tình người, với chiều sâu của tâm tư,
với khao khát cháy bỏng về một cuộc sống nhân ái, tốt đẹp. Trong tác phẩm của
Ma Văn Kháng, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, bên cạnh nội dung ca ngợi những trí
thức giàu phẩm chất, tâm huyết thì các tác giả còn chú trọng tới việc xây dựng
19
nên loại trí thức tha hoá về nhân cách. Trí thức tha hoá về nhân cách là những
con người vốn mang danh là trí thức nhưng nhân cách đã bị huỷ hoại mạnh mẽ
bởi đồng tiền, bởi danh vị, họ đã lợi dụng quyền lực của mình để gây ra bao nỗi
éo le, bi kịch cho những người có tài, có tâm, những con người có đạo đức trong
xã hội. Đáng tiếc và đau đớn nào bằng sự tha hoá của kẻ có học lại bắt nguồn, có
mầm, cõ rễ từ những ham hố cá nhân và trước sức mạnh của vật chất thì sự tha
hoá của người tri thức còn đáng sợ gấp ngàn lần hơn sự tha hóa của kẻ vô học.
Ma Văn Kháng bắt đầu đến với văn chương từ năm 1959 với truyện ngắn
Phố cụt trong thời điểm cuộc chiến tranh của dân tộc đang diễn ra cam go, khốc
liệt. Trong mỗi giai đoạn khác nhau của lịch sử, Ma Văn Kháng có quan niệm
Huy Thiệp, Lê Minh Khuê, Ma Văn Kháng đã không ngần ngại nhấn mạnh giá
trị vật chất của đồng tiền ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhân tính của con người. Một
trong những tác phẩm đề cập đến vấn đề này của ông là: Đám cưới không có
giấy giá thú (1988), Côi cút giữa cảnh đời (1989) và Ngược dòng nước lũ
(1999).
Đám cưới không có giấy giá thú (1988) ra đời được bạn đọc đón nhận một
cách nồng nhiệt. Đọc tiểu thuyết này, độc giả khó có thể quên được cảm giác xót
xa đến não nề dâng trào trong lòng mình bởi vô vàn những trái khoáy ập vào số
phận của từng nhân vật. Đây là một tác phẩm phản ánh sâu sắc hình ảnh những
con người bị cơn lốc ham muốn vật chất cuốn đi trong nền kinh tế thị trường có
vô vàn điều cám dỗ lòng người. Họ đã bị những dục vọng tầm thường, những
cơn lốc của ham muốn cuốn trôi một cách mạnh mẽ. Trước thực tế ấy, nhiều
người đã bị mất nhân cách, bản lĩnh của mình.
Ma Văn Kháng tập trung phản ánh hiện tượng những trí thức bị tha hoá,
tự đánh mất giá trị bản thân mình một cách sinh động với một tâm trạng buồn
đến da diết. Sự sùng bái đồng tiền trở thành biểu hiện bằng cuộc chạy đua đầy
cuồng vọng đuổi bắt những món lợi vật chất tầm thường hàng ngày. Sau những
21
năm tháng chiến tranh gian khổ, con người trở về với một cuộc sống bình yên
nhưng cũng phải đối mặt với không ít những khó khăn. Đối mặt với mọi cám dỗ
của đồng tiền, nếu không kiên định, con người sẽ trở nên mất phương hướng, rơi
vào bóng tối của sự tha hoá biến chất là lẽ đương nhiên. Hình ảnh những nhân
vật trong Đám cưới không có giấy giá thú cho ta thấy được một bức tranh đủ
màu sắc về những con đường dẫn nhân cách người trí thức rơi vào bùn lầy. Ta
thấy ở đó bóng dáng của Xuyến, Trình, Quỳnh, Thảnh, Thầy Thuật. Đối với Ma
Văn Kháng, bên cạnh việc ca ngợi những trí thức được nâng lên thành kiểu mẫu
của giá trị thì ông còn tập trung bóc tách nhân cách của những trí thức bị tha hoá,
tự đánh mất bản ngã của mình. Với những cán bộ, thầy giáo, học sinh trong miêu
tả của ông phần nhiều bị chìm trong lối sống lạnh nhạt, thiếu tình người, một
cách sống thờ ơ và vô trách nhiệm với chính tư cách bản thân mình. Ma Văn
nó. Đời sống hiện thực được phản ánh trong ba cuốn tiểu thuyết của anh: Lão
Khổ (1992), Đi tìm nhân vật (2004), và Thiên thần sám hối (2005) là muôn vàn
mặt trái, mặt mâu thuẫn và phức tạp của cuộc sống. Anh đã phản ánh trong tác
phẩm của mình hiện thực con người đối xử với nhau bằng sự nhẫn tâm, sự vô
tâm và vô ơn. Những dòng suy tưởng, những câu hỏi được đưa ra với sự chua
xót khôn nguôi: “Cuộc sống này tồn tại phải chăng bằng sự vờ vĩnh? Chao ôi,
bao giờ con người mới gỡ được chiếc mặt nạ phải đeo vào kể cả khi ngủ với tình
nhân? Đối với lão, ông Bùi bí thư huyện - chỉ là một thằng ăn cắp mạt hạng. Ông
ta ăn cắp từ cái dăm cối cho đến lòng tin của lão và hàng vạn người” [1,61]. “Ai
đó chết chứ không phải ta: thằng bé đánh giầy nào đó chết chứ không phải con
cháu ta…Thậm chí ý nghĩ ấy khiến chúng ta hoan hỉ, sự hoan hỉ của những
người đứng ngoài nỗi bất hạnh, hoặc không khỏi có lúc ta tặc lưỡi “cho chúng nó
chết đi, bọn lưu manh” [2,6]. “Đứa nào chết mặc mẹ chúng nó. Không thích sống
thì chết liên quan gì đến tôi! Buổi sớm ông đừng có nói chuyện chết chóc nghe
chưa? [2,10]. “Án mạng à? Thì đã sao? Liên quan gì đến con Miss của tôi?
23
[2,12]. “Cô sinh viên oằn mình móc trong túi ra những tờ giấy màu xanh mà tôi
đã kể. Ông bác sĩ lạnh lùng đếm lại rồi bỏ vào túi áo blu của ông ta. Khiếp cái
tay vừa lầy nhầy máu giờ đã lại trắng muốt. Những tờ giấy màu xanh khiến ông ta
phấn chấn hẳn lên, miệng huýt sáo một giai điệu rất nhộn” [3,18]. Chính sự thản
nhiên, vô tư, thờ ơ, ích kỷ của con người và lối đối xử vì đồng tiền đã dẫn đến những
hậu quả khôn lường, là nguồn gốc cho những bi kịch của số phận con người.
Đi tìm nhân vật là hành trình tìm kiếm chính mình, tìm kiếm bản chất của
con người và là tiểu thuyết mang đậm màu sắc triết lý, luôn đặt ra cho bản thân
và độc giả phải trả lời câu hỏi: Tôi là ai? Ai là tôi? Tôi là hắn? Hắn giết tôi?
Trong tác phẩm này, nhà văn đã đi tìm những mẫu nhân vật mới phù hợp với con
người hiện đại. Con người hiện đại đang có những thay đổi cơ bản và mạnh mẽ
cả về hình thức lẫn bản chất. Những thay đổi đến chóng mặt đã khiến cho chúng
ta không còn nhận ra mình là ai nữa. Có người nói rằng, tiểu thuyết Ði tìm nhân
vật của Tạ Duy Anh mở đầu như một tiểu thuyết trinh thám: một kẻ tình cờ vớ
ngoài. Dường như đó cũng là một hình phạt dành cho hắn, N đã phải sống từ giả
dối này kéo theo giả dối khác, và giả dối đã được đẩy lên thành cực điểm trong
mối quan hệ với vợ mình. Ông nhận thấy mình thực sự là một con người đê tiện,
ngay cả khi ngủ với vợ, ông cũng phải sống giả dối để rồi khi đồng hồ điểm 4h
sáng, ông lại bước vào căn phòng làm việc và tự đối diện với chính mình với sự
dày vò day dứt khôn nguôi. Không thể chịu đựng được những cuộc “tra tấn tinh
thần” khi ông đặt chân vào phòng làm việc, vào 4h sáng của một ngày, tiến sĩ N
đã giết vợ và tự kết thúc cuộc đời, kết thúc cuộc sống dằng dặc cô độc và giả dối.
Viết về cái xấu trong xã hội, Hồ Anh Thái là một trong những tác giả tiên
phong của nền văn học hiện đại. Bắt đầu cầm bút từ khi là cậu sinh viên 17 tuổi
và thành danh khá sớm khi chưa đầy 20 tuổi, Hồ Anh Thái trở thành một trong
những hội viên Hội Nhà văn trẻ tuổi nhất vào thời điểm lúc bấy giờ. Từ những
tác phẩm đầu tiên, Hồ Anh Thái đã viết về những chủ đề sắc bén về các vấn đề
25
xã hội và nhân tình thế thái. Những sáng tác đầu tay của Hồ Anh Thái thường
gắn với chủ đề cuộc sống của lớp thanh niên trí thức trên con đường lựa chọn
hướng đi cho mình. Khi đất nước bước vào con đường mở cửa, Hồ Anh Thái lại
hướng về đề tài viết về những nỗi đa đoan của cuộc sống và con người miền đô
thị với bao trăn trở. Một trong những số đó là Người và xe chạy dưới ánh trăng,
Cõi người rung chuông tận thế, Mười lẻ một đêm.
Người và xe chạy dưới ánh trăng có bối cảnh là khu nhà tập thể, một tổ
dân phố, là một bức tranh thu nhỏ của xã hội thời hậu chiến. Bên cạnh việc miêu
tả những con người có lối sống trong sáng, có nhân cách, có ý chí; thể hiện niềm
tin yêu của tác giả đối với thế hệ trẻ, tác giả đã khắc hoạ một cách chân thực chân
dung của những con người có lối sống tham lam, vị kỷ, chạy theo dục vọng cá
nhân nổi bật nhất là nhân vật Khuynh-Diệu. Khuynh là một nhân vật được Hồ
Anh Thái miêu tả cặn kẽ từ hình dáng đến tính cách. Tuổi thơ Khuynh đã mang
sự lọc lõi của một con người, “Khuynh sống một tuổi thơ sung sướng, những ý
thích oái oăm đều được thỏa mãn, và một thời thanh niên thoải mái, buông thả”
[36,172]. Để gột rửa tàn dư của những điều xưa cũ, “Khuynh đã lao vào cuộc