u XW Quan hệ quốc tế của Việt Nam thời kỳ
đổi mới
1
LỜI DẪN
Những năm cuối thế kỷ XX, hệ thống xã hội chủ nghĩa lâm vào khủng
hoảng toàn diện và nghiêm trọng dẫn đến sự sụp đổ của bộ phận lớn làm thay
đổi cơ bản cục diện chính trị của thế giới. Bên cạnh đó, chủ nghĩa tư bản tận
dụng được những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiệ
n đại
thiếu sót hạn chế. Mong được sự thông cảm, giúp đỡ, đóng góp ý kiến của các
thầy cô và các bạn.
3
CHƯƠNG 1
NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI
CỦA VIỆT NAM
1.1. TÌNH HÌNH THẾ GIỚI NHỮNG NĂM 80 VÀ ĐẦU THẬP KỶ 90
Từ nửa năm sau những năm 80, quan hệ Xô - Mỹ đã thực sự chuyển từ
đối đầu sang đối thoại. Để giải quyết các vấn đề tranh chấp, Xô - Mỹ đã tiến
hành nhiều cuộc gặp thượng đỉnh giữa Ri-Gan và Goóc-Ba-Chốp, giữa Busơ
và GoócBachốp. Qua đó có nhìêu văn kiện được ký kết trên các lĩnh vực kinh
tế thương mại, văn hoá, khoa học kỹ thuậ
t, nhưng quan trọng nhất là việc ký
kết hiệp ước thủ tiêu tên lửa tầm trung ở Châu Âu năm 1987 (gọi tắt là INF).
Cũng từ năm 1987, hai nước Mỹ và Liên Xô đã thoả thuận giảm một bước
quan trọng cuộc chạy đua vũ trang, từng bước chấm dứt cuộc diện “Chiến
tranh lạnh”, cùng hợp tác với nhau giải quyết các cụ tranh chấp và xung đột
quốc tế.
Cu
ối năm 1989, tại cuộc gặp không chính thức giữa Busơ và Gooc-Ba-
Chốp tại đảo Manta, hai nước Xô - Mỹ đã chính thức tuyên bố chấm dứt cuộc
“chiến tranh lanh” kéo dài trên 40 năm giữa hai nước này.
Mối quan hệ giữa 5 nước lớn: Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp, Trung Quốc, là
5 thành viên thường trực Hội đồng bảo an LHQ có vai trò quan tọng trong
việc duy trì hoà bình, an ninh và trật tự thế giới đã được thiết lập lên. Trong
“chiến tranh lạnh” mặ
c dù là 5 nước lớn nhưng vẫn chỉ là thế “hai cực” Xô -
Trong khu vực Đông Nam Á cũng chứa đựng nhiều nguy cơ xung đột
bất ổn, trong đó vấn đề Campuchia. Những phản ứng từ của các ASEAN,
Trung Quốc và các nước phương Tây khác cho rằng Việt Nam xâm l
ược
Campuchia, họ tiến hành các hoạt động làm cho tình hình khu vực thêm căng
thẳng. Trung Quốc cắt đứt quan hệ ngoại giao với Việt Nam và đưa quân vào
Việt Nam gây nên cuộc chiến tranh ở biên giới phía Bắc nước ta. Một số nước
ASEAN cô lập nước ta ở các diễn đàn, tổ chức quốc tế Về phía Việt Nam,
chúng ta trước sau vẫn khẳng định việc đưa quân vào Campuchia là giúp đỡ
nhân dân Campuchia đánh đuổi bọ
n diệt chủng PonPốt đem lại hoà bình cho
nhân Campuchia.
Cùng với những biến đổi trong tình hình an ninh, chính trị, cộng đồng
thế giới cũng đang đứng trước nhiều vấn đề có tính toàn cầu cấp bách mà
không có một quốc gia riêng lẻ nào có thể giải quyết được cho nên cần phải
15
có sự hợp tác đa phương trong các công việc quốc tế như: bảo vệ môi trường,
bùng nổ dân số, phòng chống bệnh tật hiểm nghèo và nạn khủng bố.
Mặt khác, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, công nghệ phát triển như
vũ bão và được gọi là nền văn minh hậu công nghiệp hay nền văn minh trí
tuệ. ảnh hưởng của nó ngày càng tác động sâu hơn vào đời sống kinh tế xã
hội, nhất là trong sản xuất. Các phát minh khoa học mà nội dung cơ bản là
cách mạng về công nghệ thông tin, sinh học, năng lượng, vật liệu mới tiếp
tục phát triển nhanh với trình độ cao, làm tăng nhanh lực lượng sản xuất, thúc
đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới, quốc tế hoá nền sản xuất và
đời sống xã hội, làm cho tính chất tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia ngày
những khó khăn không nhỏ cho nhân dân Việt Nam: 1,1 triệu liệt sĩ, 60 vạn
thương binh, 30 vạn người mất tích, gần 2 triệu người dân bị thiệt mạng, hơn
2 triệu người dân bị tàn tật và nhiễm chất độc hoá học
Hai cuộ
c chiến tranh biến giới phía Bắc (1979) và biên giới phía Tây
Nam (1978) lấy đi thêm nhiều tài lực, vật lực của đất nước khiến cho nền kinh
tế của Việt Nam đã khó khăn lại càng thêm khó khăn. Mà hậu quả của nó là
nền kinh tế lâm vào tình trạng khủng hoảng toàn diện, lạm phát tăng phi mã
(774,7%) năm 1986, nền công nghiệp lạc hậu, nông nghiệp đình đốn.
Bên cạnh đó, do những khuyết điể
m chủ quan trên các lĩnh vực nhất là
việc chỉ đạo và thực hiện xây dựng kinh tế xã hội. Mô hình kinh tế tập trung
quan liêu bao cấp bộc lộ nhiềukhuyết điểm yếu kém. Nền kinh tế đất nước rơi
vào tình trạng trì trệ, lạc hậu, khủng hoảng: Công nghiệp yếu kém, manh mún
thiếu rất nhiều ngành công nghiệp tiêu dùng Nền nông nghiệp không đủ chi
dùng trong nước, phải nhập khẩu lương thự
c, thực phẩm và hàng tiêu dùng
thường xuyên khiến cho cán cân xuất nhập khẩu luôn thâm hụt mất cân đối,
thu không đủ chi, dẫn đến phải đi vay từ nước ngoài. Tính chung trong năm 5
năm 1981 - 1985, nguồn vay từ nước ngoài chiếm 22,4% thu ngân sách quốc
gia. Số nợ nhiều như vậy nhưng bội chi ngân sách vẫn lớn và tăng dần: Năm
1980 là 1,8%, năm 1985 là 36,6%. Do bội chi nhiều như vậy nên Chính phủ
buộc phải phát hành thêm tiền mặt để bù
đắp. Cùng với việc không cân đối
được từ thu và chi, do nguồn thu không có vì không có sản phẩm công nghiệp
xuất khẩu. Cộng vào đó là sai lầm về chính sách cải cách giá, lương, tiền đã
làm cho nền kinh tế rơi tự do không kiểm soát được dẫn đến xuất hiện siêu
7
lạm phát ở mức 774,7% (1986), kéo theo giá cả leo thang vô phương kiểm
Với ý nghĩa đó, chính sách đối ngoại đổi mới phải phá thế bao vây cấm
vận, cô lập của các thế lực thù địch từ đó lấy lại vị thế của ta trên trường quốc
tế, tạo điều kiện thuận lợi cho đất nước phát triển, góp sức mình vào sự
nghiệp chung của đất nước.
2: Nguyễn Sinh 12 năm đổi mới (1986-1997). Tạp chí Cộng sản số 6 tháng 3 năm 1998, trang 3
3: Trích lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam - NXB Giáo dục, 1997 trang1
4: Trích lịch sử Đảng CSVN - NXB Giáo dục - 1997 trang 167
8
CHƯƠNG 2
QUAN HỆ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN NAY
2.1. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI ĐỔI MỚI.
Mốc quan trọng nhất quyết định cho chính sách đối ngoại đổi mới là
“Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng” họp tại Hà Nội.
Với quan điểm nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật. Đại hội
VI đã thẳng thắn và khách quan chỉ ra những sai lầm thiếu sót trong chính
sách kinh tế, sự lạc hậu về nhận thức lý luận và v
ận dụng các quy luật đang
hoạt động trong thời kỳ quá độ. Sau khi nghiêm khắc kiểm điểm Đại hội cho
rằng để khắc phục những sai lầm, khuyết điểm và những bất cập dẫn đến
khủng hoảng Kinh tế - Xã hội đòi hỏi phải đổi mới tư duy, trước hết là tư duy
quy luật sống còn và phát triển của ba dân tộc anh em”.
Chúng ta tiếp tục tăng cường quan hệ hợp tác h
ữu nghị với các nước
thành viên Hội đồng tương trợ kinh tế. Chúng ta cũng mở rộng quan hệ với
các nước xã hội chủ nghĩa anh em khác như Anbani, Triều Tiên
Là một thành viên của phong trào không liên kết, chúng ta phấn khởi
trước sự trưởng thành và vai trò của ngày càng to lớn của phong trào trong
đời sống chính trị quốc tế.
Đảng ta chủ trương tích cực góp phần vào việc tăng cường đoàn kết của
phong trào trên cơ
sở chủ nghĩa Mac - Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản.
Chúng ta ủng hộ mạnh mẽ cuộc đấu tranh anh dũng của giai cấp công nhân và
nhân dân ở các nước tư bản chủ nghĩa phát triển. Ủng hộ mạnh mẽ đối với
nhân dân Châu Phi đang kiên cường đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, chủ
nghĩa thực dân, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa Apacthai.
Đoàn kết
10
chặt chẽ với nhân dân các nước anh em như: An-giê-ri và Cộng hoà dân chủ
nhân dân Y-ê-men đang xây dựng cuộc sống mới.
Đảng và Nhà nước ta kiên trì thực hiện chính sách đối ngoại hoà bình
và hữu nghị. Chúng ta chủ trương và ủng hộ chính sách cùng tồn tại hoà bình
giữ các nước có chế độ chính trị xã hội khác nhau, loại trừ chiến tranh xâm
lược và mọi hình thức của chủ nghĩa khủng bố.
Với Trung Quốc, Việt Nam s
ẵn sàng đàm phán với Trung quốc bất kỳ
lúc nào, bất cứ cấp nào và bất cứ ở đâu nhằm bình thường hoá quan hệ giữa
hai nước, vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì hoà bình ở Đông Nam Á và trên
thế giới.
Nhà nước ta chủ trương tăng cường và mở rộng quan hệ hữu nghị với
Không ngừng củng cố, phát triển quan hệ đoàn kết và hữu nghị đặc biệt
giữa Đảng và nhân dân ta với Đảng và nhân dân Lào, Đảng và nhân dân
Campuchia anh em. Đổi mới phương thức hợp tác, chú trọng hiệu quả theo
nguyên tắc bình đẳng, tôn trọ
ng độc lập, chủ quyền và lợi ích chính đáng của
nhau. Phấn đấu góp phần sớm đạt được một giải pháp chính trị toàn bộ về vấn
đề Campuchia trên cơ sở tôn trọng chủ quyền của Campuchia và Hiến chương
LHQ.
Thúc đẩy quá trình bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc, từng
bước mở rộng sự hợp tác Việt - Trung, giải quyết những vấn đề tồn tại giữa
hai nước thông qua thương lượng.
Củng cố và phát triển quan hệ hữu nghị, đoàn kết, hợp tác với Cu - Ba
và các nước xã hội chủ nghĩa khác.
Đảng cộng sản Việt Nam chủ trưng tăng cường quan hệ với các Đảng
cộng sản và công nhân, góp phần tích cực vào sự đoàn kết và hợp tác giữa các
Đảng anh em trên cơ sở chủ nghĩa Mac - Lênin, đấu tranh vì những mục tiêu
cao cả của thờ
i đại.
Đoàn kết với lực lượng đấu tranh cho hoà bình, độc lập dân tộc, dân
chủ và tiến bộ xã hội, sẵn sàng thiết lập và mở rộng quan hệ với các đảng xã
hội - dân chủ, các phong trào dân chủ và tiến bộ trên thế giới.
12
Phát triển quan hệ đoàn kết, tin cậy và nâng cao hiệu quả hợp tác nhiều
mặt với Ấn Độ. Tiếp tục mở rộng hợp tác với các nước đang phát triển khác.
Tiếp tục củng cố và tăng cường phong trào không liên kết. Phát triển quan hệ
hữu nghị với các nước ở Đông Nam Á và Châu Á - Thái Bình Dương, phấn
đấu cho một Đông Nam Á hoà bình, hữu nghị và hợp tác.
Mở rộng s
ự hợp tác bình đẳng cùng có lợi với các nước Bắc Âu, Tây
Trước những thành tựu của đường lối đố
i ngoại đổi mới Đại hội VI và
VII, Đại hội VIII tiếp tục đường lối đối ngoại đổi mới chỉ ra đường lối chính
sách đối ngoại tới mọi chủ thể trên thế giới.
Đại hội VIII chỉ rõ: “ Nhiệm vụ đối ngoại trong thời gian tới là củng cố
môi trường hoà bình và tạo điều kiện quốc tế thuận lợi hơn nữa
để đẩy mạnh
phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, phục vụ
sự nghiệp xây dựng và bảo vệc tổ quốc, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh
chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ
xã hội.
Tiếp tục thực hiện chính sách đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa
phươ
ng hoá, đa dạng hoá với tinh thần Việt Nam muốn là bạn của tất cả các
nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển.
Mở rộng quan hệ quốc tế, hợp tác nhiều mặt, song phương và đa
phương với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực trên nguyên tắc tôn
trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào
công việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi, thông qua thương lượng để
tìm những giải pháp phù hợp giải quyết những vấn đề tồn tại và các tranh
chấp, đảm bảo hoà bình, ổn định, an ninh, hợp tác và phát triển.
Tăng cường quan hệ với các nước láng giềng và các nước trong tổ chức
ASEAN, không ngừng củng cố quan hệ với các nước bạn bè truyền thống, coi
trọng quan hệ với các nướ
c phát triển và các trung tâm kinh tế - chính trị trên
14
thế giới. Đồng thời luôn nêu cao tinh thần đoàn kết anh em với các nước đang
phát triển ở Châu á, Châu Phi, Mỹ Latinh và phong trào không liên kết.
Tăng cường quan hệ với các tổ chức của Liên Hợp Quốc và các tổ chức
Ngay sau khi đưa chính sách đối ngoại vào thực hiện, Đảng và nhà
nước đã “đưa vấn đề Campuchia ra để giải quyết bằng con đường hoà bình”.
Những giải pháp đưa ra trong chính sách để giải quyết vấn đề Campuchia, đã
có tác động thúc đẩy tác động đến một giải pháp chung trong vấn đề
Campuchia đi đến một giải pháp hoà bình toàn diện, đến năm 1989 thì cơ bản
hoàn thành bằng tuyên bố về một giả
i pháp chính trị toàn diện cho xung đột ở
Campuchia. Việt Nam và ASEAN cùng tìm ra một giải pháp đồng bộ cho vấn
đề này, từ đây 2 nhóm nước hiểu nhau hơn, tin tưởng nhau hơn. Điều đó có ý
nghĩa rất to lớn trong việc mang lại ổn định an ninh cho khu vực và làm giảm
nguy cơ xung đột tại khu vực Đông Nam Á vốn đang tiềm tàng nhiều mâu
thuẫn giữa các nước. Đây chính là thành công đầu tiên của chính sách đối
ngoại đổ
i mới. Bắt đầu từ thành công này tình hình ở Đông Nam Á được cải
thiện từ đối đầu sang đối thoại, tạo xu thế hoà bình, hữu nghị, hợp tác. Với
các nước Đông Nam Á, nước ta chủ trương mở rộng quan hệ về mọi mặt trên
nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội
bộ của nhau, hai bên cùng có lợi. Những năm qua cũng đã ghi nhận nh
ững cố
gắng to lớn của nhà nước ta trong việc cải thiện quan hệ với các nước khu vực
Đông Nam Á - ASEAN.
Tháng giêng năm 1989, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh tuyên bố “Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam sẵn sàng quan hệ hữu nghị với các nước
ASEAN và các nước khác trong khu vực
6
. Từ đây các cuộc đi thăm lẫn nhau
của các nhà lãnh đạo cấp cao Việt Nam và của các nước ASEAN đã đạt được
những thoả thuận quan trọng và đặt nền móng cho một thời kỳ mới trong
quan hệ giữa nước ta với các nước ASEAN. Ngày 22 tháng 7 năm 1992, Việt
Nam tham ký hiệp ước thân thiện Bali và trở thành quan sát viên của ASEAN.
gian để điều chỉnh. Các nước ASEAN đã đồng ý kéo dài thời hạn giảm thuế
quan của Việt Nam đến năm 2006 thay vì 2003 như các thành viên khác.
Mặc dù được đánh giá là khu vực phát triển năng động của Châu Á -
Thái Bình Dương và của thế
giới, nhưng cuộc khủng hoảng tiền tệ năm 1997
đã ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển chung của khu vực, đối phó với vấn
đề này là rất khó, đòi hỏi các nước ASEAN nói chung và Việt Nam nói riêng
cần phải nghiên cứu, rút kinh nghiệm và đề ra những giải pháp mang tính
phòng ngừa hữu hiệu, xây dựng mô hình phát triển bền vững hơn, ổn định
hơn cho từng thành viên của toàn khu vực.
Tóm lại, vi
ệc gia nhập ASEAN của Việt Nam là hướng đúng. Về kinh
tế, ta có thể tranh thủ được vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý từ các
7: ĐHKTQD kinh tế quốc tế - NXB Thống kê - Hà Nội, 1998 trang 139
17
nước ASEAN tiên tiến. Tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển,
mở rộng thị trường trong khu vực.
Về an ninh, chính trị, Việt Nam tham gia vào diễn đàn khu vực ASEAN
chuyên bàn về những vấn đề an ninh khu vực ASEAN (ARF), khi tham gia
vào ASEAN chúng ta có thể góp phần củng cố môi trường xung quanh mình,
tạo dựng một vành đai an toàn mang tính chiến lược, bên cạnh đó khi tham
gia vào ASEAN tiếng nói của Việt Nam sẽ có thế và lực h
ơn trên thị trường
quốc tế. Hơn nữa, nếu các nước ASEAN gạt bỏ được những bất đồng tranh
chấp không đáng kể để đi tới một đồng thuận trong việc giải quyết vấn đề
tranh chấp ở Biển Đông đối với Trung Quốc thì tình hình sẽ bớt đi căng
thẳng, nhanh
*Đối với Trung Quốc
mở cửa biên giới cho hai bên giao lưu buôn bán hàng hoá thì hàng hoá Trung
Quốc tràn vào Việt Nam rất nhiều, nhất là hàng tiêu dùng với giá cả mẫu mã
phong phú.
Có thể đánh giá nhu cầu hai bên về vi
ệc bình thường hoá quan hệ là rất
cần thiết. Nhất là đối với Việt Nam, việc bình thường hoá quan hệ với Trung
Quốc giúp nước ta có thêm bạn bè, tạo môi trường thuận lợi để phá vỡ thế bao
vây cô lập Khôi phục và phát triển quan hệ với Trung Quốc là nhiệm vụ
trọng tâm của nước ta trong chính sách đối ngoại đối nội.
Các cuộc gặp cấp cao Việt Trung từ tháng 9/1990 diễn ra tại Thành Đô
(Trung Quố
c)
8
đã mở ra một trang sử mới trong việc khai thông quan hệ giữa
hai nước, đến trung tuần tháng 11 năm 1991 tại Bắc Kinh hai bên đã ra thông
cáo chung: việc bình thường hoá quan hệ Việt - Trung phù hợp với lợi căn
bản, lâu dài của nhân dân hai nước, có lợi cho hoà bình ổn định ở khu vực,
đây là sự kiện “khép lại quá khứ, mở ra tương lai” hai nước là đồng chí,
không phải là đồng minh. Tranh chấp giữa hai nước cần được được gi
ải quyết
theo hiến chương LHQ và luật pháp quốc tế, thông qua thương lượng hoà
bình, không được sử dụng vũ lực hoặc đe doạ sử dụng vũ lực.
8: Trích Lưu Văn Lợii: 50 năm NGVN Tập II - NXB Công an nhân dân trang 209 19
Tuy nhiên các vấn đề cần giải quyết giữa hai nước là: vấn đề biên giới
trên bộ, tranh chấp ở biển Đông, phân định vịnh Bắc Bộ. Tháng 10 năm 1993
Tổng bí thư Đỗ Mười đã tuyên bố “Việt Nam chủ trương giải quyết tranh
9: Trích Lưu Văn Lợi: 50 năm NGVN Tập II - NXB Công an nhân dân trang 219-220
20
Một thành công của công tác đối ngoại trong giai đoạn đổi mới là việc
Việt Nam bình thường hoá quan hệ với Mỹ vào ngày 11-7-1995, khép lại một
quá khứ đau thương và mở ra tương lai trong quan hệ hai nước.
Trước sự thay đổi của thế giới, trước chính sách đối ngoại đổi mới rộng
mở cùng tồn tại hoà bình của Việt Nam (1986) và những thiện chí của Việt
Nam trong vấn đề POW và MIA (ngườ
i Mỹ mất tích trong cuộc chiến tranh ở
Việt Nam), chính quyền Mỹ đã phải thay đổi chính sách của mình, đã tuyên
bố xoá bỏ cấm vận đối với Việt Nam (3-2-1994). Thủ tướng Chính phủ nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng ra tuyên bố hoan nghênh tuyên bố
của Chính phủ Mỹ và bày tỏ sẵn sàng “khép lại quá khứ, hướng tới tương lai”.
Ngày 11-7-1995, Tổng thống Mỹ Clinton tuyên bố về việ
c bình thường
hoá quan hệ với Việt Nam “Hôm nay tôi loan báo việc bình thường hoá các
quan hệ ngoại giao với Việt Nam ”
10
Đầu tháng 8/1995, Hoa Kỳ và Việt Nam đã chính thức lập quan hệ
ngoại giao và mở đại sứ quán ở thủ đô hai nước.
Có thể thấy rằng chiến lược của Mỹ đối với Việt Nam hiện nay là một
bộ phận nằm trong chiếm lược toàn cầu của Mỹ. Mỹ rất chú trọng đến vị trí
chiến lược của Việt Nam ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương trong đ
ó bao
gồm cả Đông Nam Á.
Nội dung chiến lược của Mỹ đối với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
bao gồm những trọng điểm sau:
- Bình thường hoá quan hệ với Việt Nam giúp cho Mỹ có cơ hội xoá bỏ
hiện đa dạng hoá, đa phương hoá các quan hệ đối ngoại, tranh thủ sức mạnh
của thời đại kết hợ
p với việc phát huy nội lực đất nước và con người Việt
Nam, nhất định chúng ta sẽ thực hiện thành công sự nghiệp dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Mọi âm mưu nham hiểm của các thế lực
thù địch nhất định sẽ bị thất bại.
Trong quan hệ với Mỹ, Chính phủ Việt Nam luôn luôn xuất phát từ lập
trường nguyên tắc là đảm bảo “ cho quan hệ giữa hai nướ
c trên cơ sở bình
đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của
22
nhau, cùng có lợi và phù hợp với các nguyên tắc phổ biến của luật pháp quốc
tế.
11
Đến ngày 19-7-2000 hai nước Việt Nam - Mỹđã hoàn thành việc ký kết
Hiệp định thương mại giữa hai nước, đánh dấu sự phát triển hơn nữa quan hệ
thương mại giữa hai nước. Và gần đây nhất, chuyến đi thăm lịch sử lần đầu
tiên của Tổng thống Mỹ W.J.Clinton từ ngày 16 đến ngày 19-11-2000 đã
đánh dấu mong muốn hơn nữa phát triển trong quan hệ giữa hai n
ước trên tinh
thần “Khép lại quá khứ, hướng tới tương lai” phấn đấu vì lợi ích của nhân dân
hai nước.
Tóm lại, bình thường hoá quan hệ với Mỹ là một thành công quan trọng
của ngoại giao Việt Nam. Việt Nam đã đánh bại âm mưu cô lập, cấm vận về
kinh tế của các thế lực thù địch đối với Việt Nam và các nước, các tổ chức
quốc tế khác. Bình thường hoá quan hệ Việt - Mỹ
mở ra cho Việt Nam những
cơ hội mới, đồng thời cũng tạo ra những thách thức mới. Việt Nam cần khai
12
. Ngày
17-7-1995, tại trụ sở EU ở Bruxcells (Bỉ) Bộ trưởng ngoại giao Việt Nam
Nguyễn Mạnh Cầm và Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng liên minh Châu Âu
Javier Salana đã ký chính thức hiệp định hợp tác giữa Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam và Cộng đồng Châu Âu trước sự chứng kiến của 15 bộ
trưởng ngoại giao của 15 nước thành viên EU. Hiệp định này quy định những
điều khoả
n về đầu tư, thương mại, buôn bán trao đỏi, cho vay giữa EU và
Việt Nam, tạo dựng một môi trường thuận lợi để mở rộng quan hệ hợp tác
trên nhiều lĩnh vực giữa hai bên. Tháng 9-1996, Uỷ ban hỗn hợp Việt Nam -
EU họp tại Hà Nội đã ký hai văn kiện quan trọng, đó là: Chiến lược hợp tác
Việt Nam - EU 1996-2000 và chương trình hành động có định hướng 3 năm
1996-1998, lập ra 3 tổ công tác hỗ hợ
p phụ trách các lĩnh vực hợp tác phát
triển, kinh tế, đầu tư. Tháng 3-1997, Việt Nam chính thức tham gia hiệp định
hợp tác ASEAN - Eu. Hai bên đã thực hiện nhiều chuyến thăm cấp cao, tăng
cường hợp tác chính trị. Là một nước thành viên của ASEAN, Việt Nam đã
tham dự cuộc gặp cấp cao Á - Âu lần thứ nhất (1996) và lần thứ hai (1998)
gọi tắt là ASEM-1 và ASEM-2, lần thứ ba tại Xơun (Hàn Quốc) - ASEM 3.
Đây là một cơ
chế hợp tác liên châu lục, giữa một châu Âu hiện đại đang phát
triển, giầu tiềm năng.
Tóm lại, việc mở rộng quan hệ, thúc đẩy hợp tác giữa Việt Nam và Eu
là chủ trương đúng đắn phù hợp với quan điểm đa dạng hoá, đa phương hoá
12: Nguyễn Minh Hằng - Cải cách Kinh tế ở CHND Trung Hoa - Lựa chọn mới cho sự phát triển - NXB
1995 trang 19 -Hội thảo khoa học: 50 năm NGVN dưới sự lãnh đạo của Đảng - Viện QHQT, 1995 trang 19
24