Tài liệu Luận văn tốt nghiệp: "Quản lý ngân quỹ tại công ty TBGDI" - Pdf 90


Luận văn tốt nghiệp: "Quản lý ngân quỹ
tại công ty TBGDI"
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng tài
chính

1
LỜI MỞ ĐẦU
ước vào đầu thế kỷ 21 nền kinh tế Việt Nam nói chung và hơn 5000
doanh nghiệp nói riêng đã có nhiều cơ may để phát triển. Nhưng
đồng thời cũng phải đối mặt với không ít thách thức ,xu thế cạnh tranh ngày một
quyết liệt và ngay ngắt. Vì vậy muốn tồn tại được các doanh nghiệp càng phải
đổi mới và tăng cường cách thức tổ chức sản xuất cũng như phương thức quả
n
lý tài chính doanh nghiệp. Nội dung chính của quản lý tài chính là quản lý
nguồn vốn và sử dụng nguồn. Một bộ phận trong tài sản có mối quan hệ biện
chứng với nguồn và sử dụng nguồn ngắn ,trung và dài hạn là ngân quỹ. Để đảm
bảo khả năng thanh toán trong mọi thời điểm và trong trường hợp xảy ra những
biến động bất thường ,doanh nghiệp phải quản lý ngân quỹ. Do đ
ó hoạt động
quản lý tài chính của một doanh nghiệp không thể xem nhẹ vai trò của hoạt
động quản lý ngân quỹ.

ngân hàng tài chính và các cô ,chú phòng kế toán tài chính công ty TBGDI đã
giúp đỡ tận tình giúp em hoàn thành được chuyên đề này.

Hà nội, ngày tháng năm 2005
Sinh viên thực hiện
Đoàn Thị Thanh Mai

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng tài
chính

3
CHƯƠNG I

chính

4
các nguồn sau :thực thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh ,tực thu từ hoạt động
tài chính ,thực thu từ hoạt động bất thường .
Để tìm hiểu chi tiết hơn về nội dung các khoản thực thu và thực chi ngân
quỹ sẽ được trình bầy cụ thể trong mục sau.
1.1.2-Vai trò của ngân quỹ trong hoạt động của doanh
nghiệp :
Một doanh nghiệp muốn tiến hành sản xuất –kinh doanh, cần phải có một
lượng tài sản phản ánh bên tài sản của bảng cân đối kế toán .mọi quá trình trao
đổi đều được thục hiện thông qua trung gian là tiền và khái niệm dòng vật chất
và dòng tiền phát sinh từ đó ,tức là sự dịch chuyển hàng hoá ,dịch vụ và sự dịch
chuyển tiền giữa các đơn vị ,tổ chức kinh tế. Như vậy, tươ
ng ứng với dòng vật
chất đi vào (hàng hoá ,dịch vụ đầu vào) là dòng tiền đi ra, ngược lại , tương ứng
với dòng vật chất đi ra (hàng hoá dịch vụ đầu ra ) là dòng tiền đi vào . quy trình
này được mô tả qua sơ đồ sau :
Sơ đồ 1:
Quy trình trao đổi của doanh nghiệp

Dòng vật chất đi vào Dòng tiền đi ra (xuất quỹ)

Dòng vật chất đi ra Dòng tiền đi vào (Nhập quỹ)

phương tiện để thực hiện thanh toán lại là ngân quỹ . Chính vì vậy Để đảm bảo
khả năng thanh toán của mình tại mọi thời điểm doanh nghiệp không thể không
quan tâm đến ngân quỹ .
Tóm lại, ngân quỹ đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động của một
doanh nghiệp vì nó là nhân tố không thể thiếu trong hai quá trình : mua các y
ếu
tố đầu vào và bán các sản phẩm đầu ra trong mọi loại hình doanh nghiệp . Thứ
hai, nó là nhân tố quyết định trực tiếp đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp
tại mọi thời điểm . Ngoài ra ngân quỹ còn có vai trò khác không kém phần quan
trọng đó là dự phòng và giữ tiền với mục đích đầu cơ .
Dự phòng: để tránh những biến động không thuận lợi :điều đó c
ũng có
nghĩa là nếu khả năng dự báo thu chi băng tiền trong tương lai của doanh nghiệp
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng tài
chính

6
kém thì nhu cầu tiền dự phòng là cao và ngược lại , nếu doanh nghiệp nắm rõ
được dòng tiền vào ra trong thời gian tới thì nhu cầu tiền dự phòng sẽ thấp ...
Đầu cơ: nhằm chuẩn bị sẵn sàng để chớp lấy các cơ hội tốt trong kinh doanh ,
các cơ hội sinh lợi nhiều .
1.2-QUẢN LÝ NGÂN QUỸ TRONG DOANH NGHIỆP :
1.2.1-Khái niệm cuả quản lý ngân quỹ :
Như trên đã phân tích , quản lý ngân quỹ liên quan đến các dòng tiền vào
ra doanh nghiệp , quản lý mức cân đối tiền trong ngân quỹ . Vậy ta có thể rút ra
một khái niệm riêng cho thuật ngữ Quản lý ngân quỹ:
Quản lý ngân quỹ là sự tác động của các chủ thể quản lý trong doanh
nghiệp lên các khoản thực thu và thực chi bằng tiền nhằm thay đổi mức tồn quỹ
thục tế của doanh nghiệp sao cho ngân quỹ doanh nghiệp đạt mức t
ối ưu nhắm

+Bộ phận thứ hai : khoảng thời gian kể từ khi doanh nghiệp giao hàng
cho khách hàng cho đến khi doanh nghiệp thu được tiền về khoảng thời gian này
gọi là Chu Kỳ Chờ Thu Tiền .
Như chúng ta đ
ã biết, thu chi ngân quỹ không xảy ra một cách đồng thời
doanh nghiệp có thể đã nhận nguyên vật liệu nhưng phải một thời gian sau ,
doanh nghiệp mới trả tiền. Khoảng thời gian này là chu kỳ trả tiền . Doanh
nghiệp đã giao hàng cho khách hàng nhưng phải một thời gian sau mới thu
được tiền bán hàng . Khoảng thời gian này được gọi là Chu Kỳ Tiền Mặt . Như
vậy ta có công thức sau:
Chu kỳ kinh doanh = chu kỳ trả tiề
n + chu kỳ tiền mặt
Chu kỳ tiền mặt = chu kỳ kinh doanh – chu kỳ trả tiền
Từ những phân tích trên ta có sơ đồ sau :
Sơ đồ 2:
Chu kỳ kinh doanh và chu kỳ tiền mặt

Giao hàng cho người mua

Bắt đầu dự trữ Thu tiền bán hàng

Chu kỳ dự trữ Chu kỳ chờ thu tiền
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng tài
chính

8
Chu kỳ trả tiền Chu kỳ tiền mặt

9
Vốn lưu động ròng (Net Working Capital-NWC) là phần nguồn dài hạn
được sử dụng để tài trợ cho tài sản lưu động . Nói cách khác vốn lưu động ròng
(NWC) là khoản chênh lệch giữa tài sản lưu động và nguồn ngắn hạn hoặc giữa
nguồn dài hạn và tài sản cố định
NWC=tài sản lưu động – nguồn ngắn hạn
NWC=nguồn dài hạn –tài sản cố định
Nhu cầu vốn lưu độ
ng ròng là lượng vốn ngắn hạn mà doanh nghiệp cần
đẻ tài trợ cho một phần tài sản lưu động (hàng tồn kho và các khoản phải thu )
Nhu cầu vốn lưu động ròng =tồn kho và các khoản phải thu –nợ ngắn hạn
Ngân quỹ =vốn lưu động ròng –nhu cầu vốn lưu động ròng
Như vậy quản lý ngân quỹ đóng một vai trò quan trọng trong các hoạt
động quản lý của doanh nghiệp . Vì , thứ nhất , doanh nghiệ
p cần đảm bảo cho
khả năng thanh toán của mình tại mọi thời điểm ,đặc biệt là khoảng thời gian
giữa thời điểm doanh nghiệp trả tiền cho nhà cung cấp và thời điểm doanh
nghiệp thu được tiền của khách hàng .Thứ hai ,ngân quỹ với hoạt động các yếu
tố sản xuất và tiêu thụ hàng hoá có mối quan hệ biện chứng . Thứ ba , giữa ngân
quỹ , vố
n lưu động ròng và nhu cầu vốn lưu động ròng có mối quan hệ mật thiết
, nếu thay đổi một trong ba yếu tố còn lại cũng sẽ thay đổi theo và tác động đến
toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp .
1.2.3-Nội dung quản lý ngân quỹ :
Quản lý ngân quỹ trong doanh nghiệp sẽ giúp cho doanh nghiệp xác định
được luồng tiền ra vào , các khoản phải thu , phải trả phát sinh trong kỳ , đồng
thời lập kế hoạch tài chính ngắn hạn , dự báo các luồng thu , chi bằng tiền phát
sinh trong các tháng , nhu cầu và khả năng tiền mặt , để chủ động trong đầu tư
hoặc huy động vốn tài trợ .Quản lý ngân quỹ không phải là việc điều hoà ngân
quỹ theo cảm tính hay tuỳ c

thanh toán nên nó được coi là một khoản thực thu ngân quỹ của kỳ này .
+ Thu tiền từ những hoạt động s
ản xuất kinh doanh khác :
Trên bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp , trong mục các khoản phải
thu, ngoài các khoản phải thu của khách hàng doanh nghiệp còn có các khoản
phải thu nội bộ và các khoản phải thu khác. Những khoản tiền thu được từ các
khoản trên cũng được coi là thực thu ngân quỹ từ hoạt động sản xuất kinh
doanh.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng tài
chính

11
* Thực thu từ hoạt động tài chính :
Tất cả những khoản : thu vốn gốc và laĩ đầu tư vào các đơn vị khác; thu
tiền lãi hoặc tiền bán chứng khoán ngắn hạn và dài hạn
Tiền thu do các chủ sở hữu góp vốn; khoản cho vay của ngân hàng ;thu lãi
hoặc vốn gốc của các khoản doanh nghiệp cho vay bằng các quỹ nhàn rỗi ; thu
lãi hoặc gốc tiền gưỉ trong kỳ ; thu tiền lãi từ chênh lẹch tỷ giá hoặc từ việc thực
hiệ
n các nghiệp vụ gia tăng ngân quỹ nhàn rỗi và các khoản thu khác có liên
quan đến hoạt động tài chính của doanh nghiệp đều được coi là các khoản thực
thu từ hoạt động tài chính .
* Thực thu từ hoạt động bất thường :
Thực thu từ hoạt động bất thường của doanh nghiệp là các khoản thu nhập
bất thường mà doanh nghiệp thực thu được , bao gồm :
+ Các khoản nợ phải trả nhưng không còn chủ nợ
+Tài sản thừa doanh nghiệp được hưởng
+ Hoàn nhập dự phòng phải thu khó đòi và giảm giá hàng tồn kho
+Tiền thu do khách hàng , đối tác vi phạm hợp đồng
+Tiền thu nhượng bán , thanh lý tài sản cố định

+ Chi tiền thanh toán cho tiền lương , các chi phí quản lý, chi phí
bán hàng và chi phí thuê ngoài
+ Chi thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước ( thuế, phí và lệ phí )

* Thực chi cho hoạt động bất thường :
Hoạt động bất thường là những hoạt động mà doanh nghiệp không dự
kiến trước được thực hiện trong kỳ kinh doanh , trong doanh nghiệp phát sinh
những khoản thực chi bất thường sau :
+ Chi phí thanh lý nhượng bán tài sản cố định kể cả giá trị còn lại
+ Tiền doanh nghiệp phải nộp phạt do vi phạm cam kế hợp đồng
+ Tiền phải nộp phạt và bị truy thu thuế
+Các khoản mất tài sả
n doanh nghiệp chịu
Hiểu được nội dung các khoản thực thu và thực chi ngân quỹ chỉ là bước
đầu của công tác quản lý ngân quỹ và nó giúp cho doanh nghiệp dự toán được
các khoản thực thu và thực chi ngân quỹ , từ đó , giúp các nhà quản lý tài chính
trong doanh nghiệp dự toán được mức tồn quỹ . Trước khi xác định mức tồn quỹ
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng tài
chính

13
tối ưu, các nhà quản lý tài chính phải dự toán được nhu cầu tiền trong kỳ tới . Từ
đó, kết hợp với mức tồn quỹ tối ưu đã tính được họ sẽ lập kế hoạch quản lý ngân
quỹ cho kỳ kinh doanh tiếp theo .
1.2.3.3-Dự Toán Nhu Cầu Tiền :
Trước hết , chung ta cần phải dự toán được tiền thu vào ngân quỹ. Tiền
thu vào ngân quỹ của doanh nghiệp bắt nguồn từ doanh thu bán hàng được dự
toán theo các tháng, quỹ của năm. Ta biết rằng doanh thu trở thành các khoản
phải thu trước khi nó trở thành tiền. Mỗi khách hàng được doanh nghiệp áp dụng
thời gian trả tiền trung bình khác nhau. Phần lớn các doanh nghiệp đều cố gắng

xuất kinh doanh ,chiến lược phát triển trong tương lai cũng như đề ra các mục
tiêu , phương hướng phát triển. Có nhiều cách để xác định mức dự trữ tối ưu
nhưng có hai cách hay được dùng nhất trong thực tế là xác định mức ngân quỹ
tối ưu khi doanh nghiệp dự đoán được tương đối chính xác các khoản thực thu
và thực chi của mình và xác định mức ngân quỹ tối ưu khi doanh nghiệp không
dự đoán được chính xác .

* Xác định mức tồn quỹ tối ưu trong trường hợp
doanh nghiệp dự toán tương đối chính xác các khoản
thực thu và thực chi ngân quỹ
+ Mô hình Baumol:
Việc giữ tiền mặt trong quỹ là rất cần thiết để chi trả cho các hoá đơn một
cách đều đặn. Tuy nhiên dự trữ của doanh nghiệp cũng phát sinh ra những chi
phí nhất định. Có thể chia chi phí để dự trữ ra thành hai loại: chi phí cơ hội và
chi phí đặt hàng .
Chi phí cơ hội bao gồm : chi phí của vốn đầu tư bỏ vào dự trữ và các chi
phí khác. Khi đó, chi phí cơ hội cận biên là chi phí cơ hội mà doanh nghiệp b

ra để dự trữ thêm một đơn vị sản phẩm . Khi tăng thêm một đơn vị sản phẩm thì
mức dự trữ bình quân tăng lên là 0,5 đơn vị sản phẩm . Như vậy , chi phí cơ hội
cận biên là :
Chi phí cơ hội của một đơn vị sản phẩm
Chi phí cơ hội cận biên =
2
Chi phí đặt hàng: là khoản chi phí mà doanh nghiệp phải bó ra để thực
hiện đượ
c một lần đặt hàng.Ta thấy, nếu quy mô mỗi lần đặt hàng tăng lên sẽ
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng tài
chính


2
gọi quy mô một lần đặt hàng tối ưu là Q, ta có:

Q
= 2*mức tiêu thụ*Chi phí cho một lần đặt hàng
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng tài
chính

16
Chi phí cơ hội của một đơn vị dự trữ Theo giả định ban đầu , toàn bộ tiền nhàn rỗi sau khi đã tính lượng tiền dự
trữ hợp lý được đầu tư toàn bộ vào tín phiếu kho bạc nên áp dụng cho trường
hợp này ta suy ra được công thức tính lượng tiền dự trữ tối ưu như sau :

Q
= 2*Mức TM giải ngân hàng năm* CP cho 1 lần bán tín phiếu
Lãi suất Theo mô hình này, tỷ lệ lợi tức càng cao thì mức dự trữ tiền mặt càng
thấp. Nói chung, khi lãi xuất cao thì người ta giữ tiền mặt ít hơn . Mặt khác , nếu
nhu cầu sử dụng tiền mặt cuả doanh nghiệp nhiều hoặc chi phí bán các tín phiếu
kho bạc cao thì doanh nghiệp có xu hướng giữ tiền nhiều hơn.
Tuy nhiên mô hình trên chỉ áp dụng cho những doanh nghiệp nhỏ , ch

hoạt động trong điều kiện doanh nghiệp dự trữ tiền mặt một cách đều đặn .
Nhưng điều này thường không xảy ra trên thực tế . Mặt khác , mô hình này giả
định việc chi trả các hoá đơn là đều đặn , chủ động mà không tính đến sự bất


Nhìn sơ đồ trên , mức tồn quỹ dao động lên xuống và không thể dự toán
được cho đến khi đạt được giới hạn trên. Doanh nghiệp sẽ can thiệp bằng cách
sử dụng số tiền vượt quá mức so với mức tồn quỹ thiết kế để đầu tư vào các
chứng khoán hay đầu tư ngắn hạn khác và lúc đó , cân đố
i tiền trở về mức thiết
kế .
Giới hạn trên
Mức tiền mặt
theo thiết kế
Giới hạn dưới
Thời gian
Mức cân đối tiền mặt
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng tài
chính

18
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp , cân đối
tiền lại tiếp tục dao động cho đến khi tụt xuống dưới giới hạn dưới là lúc doanh
nghiệp phải có sự bổ sung tiền để đáp ứng cho những hoạt động cần thiết ,
chẳng hạn việc bán một lượng chứng khoán để đáp ứng nhu cầu tiền của mình .

chính

19
Trên thực tế , việc sử dụng mô hình Miller-0rr rất dễ dàng , gồm các bước
sau :
+ Bước 1: doanh nghiệp phải xác định cho mình mức tồn quỹ tối thiểu (
giới hạn dưới )
+ Bước 2: doanh nghiệp phải ước tính được phương sai của thu chi ngân
quỹ
+ Bước 3: xác định lãi suất và chi phí giao dịch của một lần mua bán
chứng khoán
+ Bước4: Tính giới hạn trên và mức tồn quỹ theo thiế
t kế . Và đưa ra các
quyết định quản lý .
Sau khi đã dự toán được nhu cầu tiền và xác định được mức tồn quỹ tối
ưu hay với khoảng biến động mức tồn quỹ (theo mô hình Miller-Orr). Từ đó ,
lập ra kế hoạch quản lý ngân quỹ cho tháng tới .
1.2.3.5-Lập kế hoạch quản lý Ngân Quỹ :
* Khi mức tồn quỹ thực tế lớn hơn mức tồn quỹ tối
ưu hoặc đạt giới hạn trên
(theo mô hình quản lý ngân quỹ của
Miller-orr) :
Khi mức tồn quỹ của doanh nghiệp vượt quá mức tồn quỹ tối ưu hoặc đạt
giới hạn trên ( theo mô hình Miller-orr), trong ngân quỹ của doanh nghiệp sẽ có
một khoản tồn quỹ nhàn rỗi . Nhà quản lý tài chính trong doanh nghiệp sẽ làm gì
với khoản tồn quỹ nhàn rỗi đó? Khi đó, nhà quản lý tài chính sẽ tìm cách gia
tăng khoản tồn quỹ nhàn rỗi. Doanh nghiệp có thể sử d
ụng một số cách thức sau:
+ Đầu tào chứng khoán dễ bán trên thị trường chứng khoán và các giấy
tờ có giá khác ( tín phiếu kho bạc , chứng chỉ tiền gửi , hợp đồng mua lại ...)

ững cam kết tín dụng của người mua đối với người bán trước khi hàng hoá
được chuyển đến. Những giấy tờ này là những giấy tờ có giá thuộc các khoản
tương đương tiền của doanh nghiệp ,
Có thể dùng làm nguồn tài trợ cho nhu cầu tiền mặt phát sinh dương bằng
cách đem chiết khấu ở ngân hàng .
Nói chung, mục tiêu của việc đầu tư các khoản tiền dư thừa là phải đạt
đượ
c khả năng sinh lời tối đa trên cơ sở mức rủi ro đã được xác định trước .
* Các nguồn tài trợ cho nhu cầu tiền mặt dương của
doanh nghiệp .
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng tài
chính

21
Khi ngân quỹ của doanh nghiệp phát sinh nhu cầu tiền mặt dương, cán bộ
quản lý quỹ cần phải tìm kiếm những nguồn tài trợ tạm thời cho nhu cầu đó ,
đảm bảo khả năng thanh toán cho doanh nghiệp. Những nguồn tài trợ này có thể
được huy động theo những cách sau :

+ Tín dụng thương mại : là tín dụng phát sinh một cách tự nhiên trong
quá trình mua bán hàng hoá , dịch vụ việc doanh nghiệp nhận chính sách tín
dụng thương mại của nhà cung cấp bằng cách ký vào hoá đơn mua hàng hay ký
hối phiếu , phát hành lệnh phiếu ... sẽ làm cho cân đối tiền mặt của ngân quỹ bớt
căng thẳng do doanh nghiệp không cần phải chi ngay các khoản tiền mua hàng .
Tuy nhiên tài trợ cho ngân quỹ bằng cách này , doanh nghiệp phải rất thận trọng
vì khoản tiền doanh nghiệ
p trì hoãn chi trả trong quý này rất có thể trở thành
gánh nặng cho ngân quỹ ở các quý sau .

+ Tín dụng ngân hàng : là khoản tín dụng mà doanh nghiệp yêu cầu ngân

quả của quản lý ngânquỹ .
1.3- HIỆU QUẢ CỦA QUẢN LÝ NGÂN QUỸ:
1.3.1-Khái niệm hiêụ quả quản lý ngân quỹ :
Theo quan điểm hiện đại , ta có thể hiểu ‘’ hiệu quả quản lý ngân quỹ là
đại lượng đo lường kết quả đạt được từ quản lý ngân quỹ trên một đơn vị chi phí
cho hoạt động này nhằm đạt được những mục tiêu nhất định .
Thông qua khái niệm trên ta thấy , quan điểm rõ ràng của việc quản lý
ngân quỹ trong doanh nghiệp là việc nâng cao khae năng thanh toán của doanh
nghiệp , giảm thiếu r
ủi ro thanh khoản cho doanh nghiệp , tăng uy tín của doanh
nghiệp với nhà cung cấp và khách hàng ... Vì vậy , khi đánh giá hiệu quả quản lý
ngân quỹ là đánh giá những kết quả đạt được trong tương quan với những chi
phí bỏ ra để có được những kết quả đó . Để làm được điều đó các nhà quản lý tài
chính trong doanh nghiệp phải lập ra một hệ thống các chỉ tiêu nhất định .
Thông qua hệ thống chỉ tiêu này h
ọ có thể đánh giá được hiệu quả của quản lý
ngân quỹ trong khoảng thời gian nhất định .
1.3.2-Hệ thống các chỉ tiêu đánh gía hiệu qủa quản lý
ngân quỹ .
1.3.2.1-Các chỉ tiêu đánh giá khả năng chi trả của
doanh nghiệp :
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng tài
chính

23

* Khả năng thanh toán tức thời :
Khả năng thanh toán tức thời đo lường khả năng thanh toán ngay bằng
tiền cho các khoản nợ đã đến hạn thanh toán .


24
Tỷ lệ nợ này cho biết một đồng nợ ngắn hạn của doanh nghiệp được đảm
bảo bằng bao nhiêu đồng giá trị tài sản lưu động .

* Vốn lưu động ròng và nhu cầu vốn lưu động ròng
:
Để đánh giá khả năng thanh toán các hkoản nợ ngắn hạn khi đến hạn , các
nhà phân tích còn quan tâm đến chỉ tiêu vốn lưu động ròng và nhu cầu vốn lưu
động ròng.

Vốn lưu động ròng ( Net Working Capital- NWC )
Là khoản chênh lệch giữa tổng tài sản lưu động và tổng nợ ngắn hạn
hoặc giữa nguồn dài hạn và tài sản cố định :
NWC= tài sản lưu động – nguồn ngắn hạn
NWC = nguồ
n dài hạn – tài sản cố định
Vốn lưu động ròng có thể âm hoặc dương hoặc bằng không .
+ Trong trường hợp NWC = 0 nhận định rằng tình hình tài chính của
doanh nghiệp lành mạnh.
+ Trong trường hợp NWC < 0 thì tài sản cố định của doanh nhgiệp được
tài trợ bằng nguồn không ổn định. Phần tài sản lưu động lúc này không đủ cho
doanh nghiệp thanh toán các khoản nợ ngắn . Trong khi đó , doanh nghiệp
không thể bán các tài sản cố
định để trả các khoản nợ ngắn hạn . Nhất thời
doanh nghiệp sẽ mất khả năng thanh toán .
+ Trong trường hợp NWC >0 thì doanh nghiệp có đủ khả năng thanh
toán các khoản nợ ngắn hạn khi các khoản này đến hạn , đồng thời tài sản cố
định của doanh nghiệp được đầu tư bằng nguồn ổn định .
Nhu cầu vốn lưu động ròng chính là lượng vốn ngắn h
ạn doanh nghiệp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status