Luận văn tốt nghiệp : Thương mại quốc tế của Việt Nam sau gia nhập WTO - Pdf 69

Điều chỉnh chính sách Thương mại quốc tế của Việt Nam sau khi gia nhập WTO
TRƯỜNG ………………….
KHOA……………………….
----------
Báo cáo tốt nghiệp
Đề tài: Điều chỉnh chính sách thương mại quốc tế
của Việt Nam sau khi gia nhập WTO
Trần Thế Hà - Lớp CH17G 1
Điều chỉnh chính sách Thương mại quốc tế của Việt Nam sau khi gia nhập WTO
MỤC LỤC
MỤC LỤC....................................................................................................................2
LỜI MỞ ĐẦU..............................................................................................................3
CHƯƠNG 1..................................................................................................................4
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI
QUỐC TẾ .............................................................................................................4
1. Khái niệm về Thương mại quốc tế và Chính sách thương mại quốc tế......4
2. Vai trò của chính sách thương mại quốc tế...................................................4
3. Các công cụ chủ yếu của chính sách Thương mại quốc tế...........................5
4. Những nguyên tắc cơ bản của việc điều chỉnh chính sách Thương mại
quốc tế...................................................................................................................6
5. Các dạng chính sách Thương mại quốc tế điển hình...................................7
CHƯƠNG 2..................................................................................................................9
THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM
SAU KHI GIA NHẬP TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI .......................9
1. Thực trạng chính sách TMQT của Việt Nam sau khi gia nhập WTO......9
6. Đánh giá tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam trong các năm gần
đây.......................................................................................................................14
Nguồn: Tổng cục thống kê......................................................................15

thương mại quốc tế hiện hành của thế giới, vừa phát huy được lợi thế so sánh của
Việt Nam.
Vì vậy, việc xem xét và điều chỉnh chính sách thương mại quốc tế của Việt
Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh
mới của đất nước có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc góp phần đưa Việt Nam
hội nhập thành công và đạt được mục tiêu về cơ bản trở thành quốc gia công
nghiệp hoá vào năm 2020.
Chính vì vậy, tôi đã lựa chọn vấn đề “Điều chỉnh chính sách thương mại
quốc tế của Việt Nam sau khi gia nhập WTO” làm đề tài nghiên cứu.
Tuy nhiên, do thời gian có hạn, chắc chắn bài viết còn có những thiếu sót
nhất định. Kính mong các thầy cô tham gia đóng góp ý kiến để bài viết được hoàn
thiện hơn.
Trần Thế Hà - Lớp CH17G 3
Điều chỉnh chính sách Thương mại quốc tế của Việt Nam sau khi gia nhập WTO
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH
THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
1. Khái niệm về Thương mại quốc tế và Chính sách thương mại quốc tế
Thương mại quốc tế là sự trao đổi hàng hoá và dịch vụ qua biên giới giữa
các quốc gia. Theo nghĩa rộng hơn, thương mại quốc tế bao gồm sự trao đổi hàng
hoá, dịch vụ và các yếu tố sản xuất qua biên giới giữa các quốc gia.
Tổ chức thương mại thế giới (WTO) xem xét thương mại quốc tế bao gồm
thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ và thương mại quyền sở hữu trí tuệ.
Chính sách thương mại quốc tế là hệ thống các quan điểm, nguyên tắc, công
cụ và biện pháp do nhà nước sử dụng để điều tiết và quản lý các hoạt động thương
mại quốc tế của quốc gia nhằm đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của
quốc gia đó trong một thời gian nhất định.
2. Vai trò của chính sách thương mại quốc tế
Chính sách thương mại quốc tế là một bộ phận của chính sách kinh tế xã hội
của Nhà nước, có quan hệ chặt chẽ và phục vụ cho sự phát triển kinh tế xã hội của

hàng ra bán ở nước ngoài. Trợ cấp xuất khẩu có thể theo khối lượng hay theo giá
trị.
- Hạn ngạch nhập khẩu là sự hạn chế trực tiếp số lượng hoặc giá trị một số
hàng hoá có thể được nhập khẩu. Thông thường những hạn chế này được áp dụng
bằng cách cấp giấy phép cho một số công ty hay cá nhân. Hạn ngạch có tác dụng
hạn chế tiêu dùng trong nước giống như thuế song nó không mang lại nguồn thu
cho chính phủ. Hạn ngạch xuất khẩu thường áp dụng ít hơn hạn ngạch nhập khẩu
và thường chỉ áp dụng đối với một số mặt hàng.
- Hạn chế xuất khẩu tự nguyện là một biến thể của hạn ngạch nhập khẩu.
Nó là một hạn ngạch thương mại do phía nước xuất khẩu đặt ra thay vì nước nhập
khẩu. Trong khuôn khổ các hiệp định của WTO, các biện pháp phi thuế quan bao
gồm các hạn chế định lượng, hàng rào kỹ thuật, các biện pháp baả vệ thương mại
tạm thời, các biện pháp quản lý về giá; các biện pháp nhập khẩu.
- Các yêu cầu về tỷ lệ nội địa hoá là một quy định đòi hỏi một số bộ phận
của hàng hoá cuối cùng phải được sản xuất trong nước. Bộ phận này được cụ thể
hoá dưới dạng các đơn vị vật chất hoặc các điều kiện về giá trị.
Trần Thế Hà - Lớp CH17G 5
Điều chỉnh chính sách Thương mại quốc tế của Việt Nam sau khi gia nhập WTO
- Trợ cấp tín dụng xuất khẩu cũng giống như trợ cấp xuất khẩu nhưng
dưới hình thức một khoản vay có tính chất trợ cấp dành cho người mua.
- Quy định về mua sắm của chính phủ hay doanh nghiệp có thể hướng
việc mua sắm trực tiếp vào các hàng hoá được sản xuất trong nước ngay cả khi
những hàng hoá đó đắt hơn hàng nhập khẩu.
- Các hàng rào hành chính và kỹ thuật là việc các chính phủ sử dụng các
điều kiện về tiêu chuẩn y tế, kỹ thuật, an toàn và các thủ tục hải quan để tạo nên
những cản trở thương mại.
- Các quy định về chống bán phá giá và trợ cấp là các thủ tục, biện pháp
áp dụng đối với các hàng hoá bị coi là bán phá giá hay trợ cấp.
- Các khu công nghiệp và khu chế xuất tạo điều kiện cho các nhà sản xuất
vì nó có những ưu đãi như tiền thuê đất, hệ thống cơ sở hạ tầng (điện, nước, viễn

nhập khẩu hoặc quota nhập khẩu lương thực, khi đó thuế lương thực không phải
chủ yếu nhằm nâng cao nguồn thu mà là thuế bảo hộ. Chính phủ còn đánh thuế vào
hàng hoá xuất khẩu để tăng phần thu, qua đó làm giảm thu hút tương đối của nền
nông nghiệp định hướng xuất khẩu so với nền nông nghiệp hướng nội.
Duy trì chính sách hướng nội sẽ dẫn đến tình trạng tỉ giá hối đoái tăng do kết
quả của sự bảo hộ và sẽ khuyến khích nhập khẩu sản phẩm chế tạo. Khi ấy nếu khu
vực nông thôn phat đạt thì sẽ gây tổn thất cho nhà sản xuất công nghiệp.
1.2. Chính sách hướng ngoại ban đầu.
Đặc điểm của chính sách này là nhiều nước đang phát triển trong giai đoạn
đầu hướng vào xuất khẩu những loại hàng nông sản truyền thống và người ta thực
hiện chính sách thuế nhập khẩu tương đối thấp để tăng nguồn thu cho chính phủ, vì
ở giai đoạn này không có khả năng lựa chọn các loại thuế khác. Điều này đưa tới
ảnh hưởng xấu là tăng giá cả tiêu dùng và một số ngành hàng sản xuất thay thế
nhập khẩu trở nên phi hiệu quả. Tuy nhiên nhờ nguồn thuế tăng lên người ta có thể
chi tiêu nhiều hơn vào cơ sở hạ tầng để hỗ trợ cho hoạt động xuất khẩu.
1.3. Chính sách hướng nội tiếp theo.
Chính sách thương mại nông nghiệp hướng nội sẽ đưa tới sự mở rộng cho các
ngành công nghiệp nhỏ với sự trợ cấp của Chính phủ dần dần khuyến khích nền
nông nghiệp thay thế nhập khẩu. Bên cạnh chính sách bảo hộ chung người ta có thể
thực hiện sự hỗ trợ có lựa chọn cho nền công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu, đó là
một nền công nghiệp non trẻ. Yêu cầu đặt ra với chính sách này là phải tránh được
lệch lạc kéo theo cho người tiêu dùng, tránh sự lựa chọn sai các ngành non trẻ để
hỗ trợ, can thiệp để khắc phục được những khiếm khuyết của công nghiệp non trẻ.
Trần Thế Hà - Lớp CH17G 7
Điều chỉnh chính sách Thương mại quốc tế của Việt Nam sau khi gia nhập WTO
1.4. Chính sách hướng ngoại tiếp theo.
Các nước đang phát triển thường chuyển sang các chính sách hướng ngoại đối
với các ngành chế tạo máy sau khi hoàn thành tới những giai đoạn ban đầu của việc
thay thế nhập khẩu. Khi nào còn hỗ trợ cho việc thay thế nhập khẩu thì việc xuất
khẩu sẽ còn bị cản trở do sự tăng tỉ giá hối đoái. Để các chính sách hướng ngoại

đổi so với giai đoạn thăm dò hội nhập. Việt Nam vẫn theo đuổi một chiến
lược công nghiệp hoá không rõ ràng. Việt Nam vừa muốn thực hiện công
nghiệp hoá thay thế nhập khẩu vừa muốn hướng vào xuất khẩu. Xu hướng
hướng vào xuất khẩu được ưu tiên hơn thể hiện ở việc thông thoáng hơn thủ tục
xuất khẩu và thủ tục nhập khẩu như bãi bỏ hầu hết các giấy phép nhập khẩu chuyến
vào năm 1995, dỡ bỏ quyền kiểm soát buôn bán gạo vào năm 1997, khuyến khích
Trần Thế Hà - Lớp CH17G 9


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status