Điều chỉnh chính sách Thương mại quốc tế của Việt Nam sau khi gia nhập WTO
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày 11-1-2007 là một dấu mốc hết sức quan trọng trong tiến trình hội nhập
kinh tế quốc tế của nước ta: Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
Ngay sau khi gia nhập WTO, chúng ta cũng đã bắt tay vào xây dựng Chiến
lược hội nhập kinh tế quốc tế. Ðể thực hiện các cam kết khi gia nhập WTO, Việt
Nam đã tiến hành điều chỉnh chính sách thương mại theo hướng minh bạch và
thông thoáng hơn, ban hành nhiều luật và các văn bản dưới luật để thực hiện các
cam kết đa phương, mở cửa thị trường hàng hóa, dịch vụ, cũng như các biện pháp
cải cách đồng bộ trong nước nhằm tận dụng tốt các cơ hội và vượt qua thách thức
trong quá trình hội nhập.
Mặc dù chúng ta đã thực hiện nhiều cải cách về thương mại trong quá trình
hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, nhiều vấn đề còn cần được tiếp tục xem xét
như việc liên kết doanh nghiệp và Chính phủ trong việc hoàn thiện chính sách
thương mại quốc tế; phát huy vai trò của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước
ngoài trong việc thực hiện chính sách; và cách thức vận dụng các công cụ của chính
sách thương mại quốc tế trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Chính sách
thương mại quốc tế phải được hoàn thiện để vừa phù hợp với các chuẩn mực
thương mại quốc tế hiện hành của thế giới, vừa phát huy được lợi thế so sánh của
Việt Nam.
Vì vậy, việc xem xét và điều chỉnh chính sách thương mại quốc tế của Việt
Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh
mới của đất nước có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc góp phần đưa Việt Nam
hội nhập thành công và đạt được mục tiêu về cơ bản trở thành quốc gia công
nghiệp hoá vào năm 2020.
Chính vì vậy, tôi đã lựa chọn vấn đề “Điều chỉnh chính sách thương mại
quốc tế của Việt Nam sau khi gia nhập WTO” làm đề tài nghiên cứu.
Tuy nhiên, do thời gian có hạn, chắc chắn bài viết còn có những thiếu sót
nhất định. Kính mong các thầy cô tham gia đóng góp ý kiến để bài viết được hoàn
thiện hơn.
thường xuyên được bổ sung, hoàn chỉnh phù hợp với những biến đổi mau lẹ của
thực tiễn.
Trần Thế Hà - Lớp CH17G 2
Điều chỉnh chính sách Thương mại quốc tế của Việt Nam sau khi gia nhập WTO
3. Các công cụ chủ yếu của chính sách Thương mại quốc tế
3.1 Hệ thống thuế được xem xét thường bao gồm thuế trực tiếp và thuế gián
tiếp. Các vấn đề được xem xét thường bao gồm thuế nhập khẩu và thuế xuất khẩu
theo dòng thuế, mức thuế, cơ cấu tính thuế, thuế theo các ngành, lịch trình cắt giảm
thuế theo các chương trình hội nhập. Thuế quan trực tiếp là thuế đánh vào hàng
hoá nhập khẩu hay xuất khẩu. Các loại thuế này bao gồm thuế theo số lượng, thuế
giá trị và thuế hỗn hợp. Thuế gián tiếp tác động tới thương mại như thuế doanh thu,
thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt.
3.2 Các hàng rào phi thuế quan bao gồm trợ cấp xuất khẩu, hạn ngạch nhập
khẩu, hạn chế xuất khẩu tự nguyện, các yêu cầu về nội địa hoá, trợ cấp tín dụng
xuất khẩu, quy định về mua sắm của chính phủ, các hàng rào hành chính,
khuyến khích doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài xuất khẩu, khu chế
xuất, khu công nghiệp, các quy định về chống bán phá giá và trợ cấp.
- Trợ cấp xuất khẩu là khoản tiền trả cho một công ty hay một cá nhân đưa
hàng ra bán ở nước ngoài. Trợ cấp xuất khẩu có thể theo khối lượng hay theo giá
trị.
- Hạn ngạch nhập khẩu là sự hạn chế trực tiếp số lượng hoặc giá trị một số
hàng hoá có thể được nhập khẩu. Thông thường những hạn chế này được áp dụng
bằng cách cấp giấy phép cho một số công ty hay cá nhân. Hạn ngạch có tác dụng
hạn chế tiêu dùng trong nước giống như thuế song nó không mang lại nguồn thu
cho chính phủ. Hạn ngạch xuất khẩu thường áp dụng ít hơn hạn ngạch nhập khẩu
và thường chỉ áp dụng đối với một số mặt hàng.
- Hạn chế xuất khẩu tự nguyện là một biến thể của hạn ngạch nhập khẩu.
Nó là một hạn ngạch thương mại do phía nước xuất khẩu đặt ra thay vì nước nhập
khẩu. Trong khuôn khổ các hiệp định của WTO, các biện pháp phi thuế quan bao
gồm các hạn chế định lượng, hàng rào kỹ thuật, các biện pháp baả vệ thương mại
trong nước với các công ty, các doanh nghiệp nước ngoài về tất cả các biện pháp áp
dụng trong chính sách TMQT bao gồm: đánh thuế, các biện pháp hỗ trợ, các thủ tục
hành chính, các quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật, các biện pháp chống bán phá giá
và đảm bảo cạnh tranh bình đẳng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển
quan hệ thương mại toàn thế giới. Do đó có thể khai thác tốt những nguồn lực phát
triển.
Ngoài hai nguyên tắc trên, trong quá trình xây dựng và hoàn thiện chính sách
TMQT của các quốc gia, Chính phủ các nước luôn luôn lưu ý đến việc thực hiện
nguyên tắc có đi có lại. Tức là việc đảm bảo lợi ích cho các doanh nghiêp, các công
ty trong nước, đồng thời phải đảm bảo lợi ích cho các công ty, doanh nghiệp nước
ngoài, nhằm hạn chế những mâu thuẫn, xung đột trong quan hệ thương mại.
Trần Thế Hà - Lớp CH17G 4
Điều chỉnh chính sách Thương mại quốc tế của Việt Nam sau khi gia nhập WTO
5. Các dạng chính sách Thương mại quốc tế điển hình
1.1. Chính sách hướng nội ban đầu.
Chính sách hướng nội ban đầu nhằm thúc đẩy tính tự lực quốc gia, thể hiện ở
việc tăng cường sản xuất lương thực, các nông sản và khoáng sản mà chúng không
được nhập khẩu. Qua đó đảm bảo sự an toàn lương thực. Sử dụng các biểu thuế
nhập khẩu hoặc quota nhập khẩu lương thực, khi đó thuế lương thực không phải
chủ yếu nhằm nâng cao nguồn thu mà là thuế bảo hộ. Chính phủ còn đánh thuế vào
hàng hoá xuất khẩu để tăng phần thu, qua đó làm giảm thu hút tương đối của nền
nông nghiệp định hướng xuất khẩu so với nền nông nghiệp hướng nội.
Duy trì chính sách hướng nội sẽ dẫn đến tình trạng tỉ giá hối đoái tăng do kết
quả của sự bảo hộ và sẽ khuyến khích nhập khẩu sản phẩm chế tạo. Khi ấy nếu khu
vực nông thôn phat đạt thì sẽ gây tổn thất cho nhà sản xuất công nghiệp.
1.2. Chính sách hướng ngoại ban đầu.
Đặc điểm của chính sách này là nhiều nước đang phát triển trong giai đoạn
đầu hướng vào xuất khẩu những loại hàng nông sản truyền thống và người ta thực
hiện chính sách thuế nhập khẩu tương đối thấp để tăng nguồn thu cho chính phủ, vì
ở giai đoạn này không có khả năng lựa chọn các loại thuế khác. Điều này đưa tới
Trong giai đoạn này, Việt Nam thực hiện công nghiệp hoá không rõ ràng
nhưng có xu hướng thay thế nhập khẩu và cởi bỏ dần các hạn chế xuất khẩu, thực
hiện hoàn thiện các chính sách tài chính, thuế như mở cửa sàn giao dịch ngoại hối
vào năm 1991, ban hành thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế doanh
thu, thuế lợi nhuận vào năm 1990.
Chính sách xuất nhập khẩu và các quy định về thương mại được thông
thoáng hơn theo đó các doanh nghiệp tư nhân được trực tiếp tham gia vào
thương mại quốc tế vào năm 1991 và thành lập các khu chế xuất. Tuy nhiên, một số
hàng hoá vẫn bị giới hạn xuất khẩu ở một số ít công ty và các tổng công ty xuất
khẩu vẫn phải đăng ký nhóm hàng hoá xuất khẩu với cơ quan quản lý nhà nước.
1.1.2. Giai đoạn khởi động hội nhập (1992-2000)
Tính đến năm 2000, các doanh nghiệp tham gia vào thương mại quốc tế ở
Việt Nam vẫn chủ yếu là các doanh nghiệp nhà nước. Chính sách thương mại quốc
tế của Việt Nam có xu hướng thay thế nhập khẩu. Đặc điểm nổi bật trong
việc hoàn thiện chính sách thương mại quốc tế của Việt Nam ở giai đoạn này
là không có một lịch trình giảm thuế cụ thể.
Trong giai đoạn này, nhận thức về mối quan hệ giữa tự do hoá và bảo hộ
mậu dịch của Việt Nam trong chính sách thương mại quốc tế không có nhiều thay
đổi so với giai đoạn thăm dò hội nhập. Việt Nam vẫn theo đuổi một chiến
lược công nghiệp hoá không rõ ràng. Việt Nam vừa muốn thực hiện công
nghiệp hoá thay thế nhập khẩu vừa muốn hướng vào xuất khẩu. Xu hướng
hướng vào xuất khẩu được ưu tiên hơn thể hiện ở việc thông thoáng hơn thủ tục
xuất khẩu và thủ tục nhập khẩu như bãi bỏ hầu hết các giấy phép nhập khẩu chuyến
vào năm 1995, dỡ bỏ quyền kiểm soát buôn bán gạo vào năm 1997, khuyến khích
Trần Thế Hà - Lớp CH17G 7
Điều chỉnh chính sách Thương mại quốc tế của Việt Nam sau khi gia nhập WTO
các doanh nghiệp xuất khẩu trong đó có doanh nghiệp FDI. Kể từ năm 1998,
các doanh nghiệp FDI được xuất khẩu những hàng hoá không có trong giấy phép
đầu tư. Năm 1993, Chính phủ cho phép nợ thuế đầu vào xuất khẩu. Các lệnh cấm
nhập khẩu tạm thời hàng tiêu dùng hay cấm nhập khẩu đường vào năm 1997 trong
Điều chỉnh chính sách Thương mại quốc tế của Việt Nam sau khi gia nhập WTO
3 năm kể từ ngày cam kết. Với cam kết này, những đối tượng khác chịu thuế tiêu
thụ đặc biệt ngoài rượu và bia sẽ không có thay đổi nào về nghiã vụ thuế TTĐB.
Đối với thuế nhập khẩu, câu trả lời tại sao hàng hoá nhập khẩu trở nên rẻ
hơn và dễ tìm mua hơn là do Việt Nam cam kết ràng buộc mức trần cho toàn bộ
biểu thuế nhập khẩu với 10.600 dòng thuế sẽ có mức thuế bình quân giảm khoảng
3% - từ 17,4% còn 13,4%. Lộ trình cắt giảm trong vòng 5-7năm kể từ thời điểm
cam kết. Đặc biệt là mặt hàng nông nghiệp đã từ lâu ta xem là mặt hàng chủ lực cuả
Việt Nam bị cắt giảm tương tự- từ 23,5% xuống còn 20,9% trong vòng 5 năm. Với
hàng công nghiệp là .từ 16,8% xuống còn 12,6% trong thời gian từ 5-7năm. Mức
cắt giảm bình quân thuế nhập khẩu Việt Nam tuân thủ mức cắt giảm thuế chung tại
vòng Urugoay là vào khoảng 27% (30% cho hàng nông sản, 24% co hàng công
nghiệp) đối với các nước đang phát triển.
Theo mức cam kết cụ thể thì có khoảng hơn 1/3 số dòng thuế bị cắt giảm
chủ yếu là dòng thuế suất cao trên 20% chẳng hạn như sản phẩm thịt, sữa, bia,
rượu, thuốc lá, hoặc xe ôtô, xe máy, xi măng, máy điều hoà, máy giặt trong khoảng
thời gian 2-12 năm tới đây sẽ có được mức giá rẻ nhất so với thị trường vào thời
điểm hiện nay do đạt đến mức thuế suất cam kết thấp nhất. Tuy nhiên những mặt
hàng trọng yếu vẫn được duy trì mức bảo hộ nhất định. Ngành có mức thuế suất
được giảm nhiều nhất là dệt may, cá, sản phẩm cá, gỗ và giấy, máy móc và thiết bị
điện-điện tử. Bên cạnh đó cũng có trường hợp Việt Nam cam kết mức thuế trần cao
hơn mức đang áp dụng với nhóm hàng xăng dầu, kim loại, hoá chất và phương tiện
vận tải.
Theo cam kết cắt giảm thuế tuân thủ một số hiệp định tự do theo ngành của
WTO yêu cầu giảm thuế xuống còn 0% hoặc ở mức thấp. Đây là hiệp định tự
nguyện nhưng các nước mới gia nhập đều phải tham gia một số ngành. Việt Nam
cam kết ngành đối với sản phẩm công nghệ thông tin , dệt may và thiết bị y tế và
tham gia một phần với thời gian thực hiện 3-5 năm đối với ngành thiết bị máy bay,
hóa chất và thiết bị xây dựng.
Hạn ngạch thuế quan không phải là thuế nhưng có mối quan hệ với việc xác