43
1.1. Đẩy mạnh cải cách ở Nhật Bản sẽ gia tăng nhu cầu mới trong hợp
tác
Có thể thấy từ sau cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ khu vực
Đông Á Nhật Bản đã có những cố gắng xúc tiến mạnh hơn chương trình cải
cách nền kinh tế của mình. Trên thực tế cuộc khủng hoảng đã làm bộc lộ rõ
những điểm hạn chế trong b
ản thân nền kinh tế Nhật Bản, nhất là trong hệ
thống tài chính ngân hàng buộc Nhật Bản phải có sự cải cách toàn diện.
Nhìn lại các cuộc cải cách trong những năm gần đây ta thấy Nhật Bản
không chỉ chú trọng vào phương diện tạo cầu, kích cầu mà còn chú ý cả
khía cạnh cung của nền kinh tế nhằm tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý trên
cơ sở phát triển mạnh các ngành kinh t
ế kỹ thuật cao.
Trên phương diện cầu, Chính phủ Nhật Bản đã có nhiều chương
trình kích thích kinh tế hàng năm nhằm mở rộng đầu tư. Bên cạnh đó là
những cố gắng tập trung giải quyết các khoản nợ khó đòi, nhằm tạo sự lành
mạnh trong hệ thống ngân hàng, kích thích các hoạt động đầu tư tư nhân.
Trong các chương trình cải cách của các Thủ tướng Nhật Bản tr
ước ông
Koizumi đều chú trọng tăng đầu tư công cộng, nhưng chính quyền ông
Koizumi lại chú trọng kích thích đầu tư tư nhân, hạn chế, giảm tài trợ đầu
tư công cộng nhằm tiến tới cân bằng ngân sách. Chẳng hạn theo dự toán
ngân sách năm tài chính 2002, công trái được phát hành không quá 30
nghìn tỷ Yên, giảm 10% ODA và giảm đầu tư công cộng 10%. Để kích
thích mạnh hơn đầu tư tư nhân chính phủ đã tập trung vào giải quyết nợ
khó đòi thông qua một số giải pháp mạnh có tính khả thi như bán lại nợ,
cho doanh nghiệp chịu nợ phá sản, ngân hàng tự huỷ bỏ một phần nợ. Cùng
với đó thực hiện giảm thuế để kích thích người dân tăng chi tiêu và đầu tư
trọng, song bước chuyển này đòi hỏi thời gian và hiện tại cũng còn đang
gặp rất nhiều khó khăn. Nền kinh tế Nhật Bản thời gian qua trong tình trạng
suy thoái gắn kiền với giảm phát. Giá cả hàng hoá dịch vụgiảm là khó khăn
cho phục hồi sản xuất. Mặc dù nhà nước chú ý kích cầu qua tăng tiêu dùng
công cộng, song mức chi tiêu công cộng cũ
ng có hạn, hơn nữa quy mô của
chúng rất nhỏ bé so với tổng tiêu dùng nói chung. Đầu tư công cộng năm
2000 trên thực tế chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ 7,2 % trong tổng cầu của nền
kinh tế. Chi tiêu cá nhân tuy chiếm tỷ lệ lớn 55,9% tổng cầu nhưng tâm lý
tích luỹ hạn chế chi tiêu trong dân chúng đang tăng lên do tình hình kinh tế
– chính trị không ổn định trong những năm qua làm cho mức gia tăng của
khoản chi này c
ũng ít triển vọng. Rõ ràng trong tình hình này việc mở rộng
thị trường bên ngoài vẫn có ý nghĩa quan trọng với sự phát triển kinh tế.
Có thể thấy ASEAN là thị trường truyền thống của Nhật Bản. Hàng
năm ASEAN nhập khẩu một khối lượng lớn hàng hoá và dịch vừt Nhật
45
Bản. Theo số liệu thống kê năm 1990 tỷ trọng hàng xuất khẩu của Nhật
Bản vào các nước ASEAN chiếm 11,49% tổng mức xuất khẩu của Nhật
Bản, tương đương 33,7% mức xuất khẩu của Nhật Bản vào Châu Á. Tính
trung bình trong thời gian 1990 – 1997 xuất khẩu của Nhật Bản tới ASEAN
5 chiếm khoảng 30%. Trong các sản phẩm xuất khẩu thì các hàng hoá thiết
bị giao thông vận tải, máy móc chiếm tớ
i 96% giá trị hàng xuất khẩu của
Nhật Bản vào ASEAN. Cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ Châu Á 1997
đã tác động đến nhu cầu hàng hoá dịch vụ của ASEAN với nền kinh tế
Nhật Bản, cộng với đó những khó khăn trong nền kinh tế Mỹ, nhất là sau
sự kiện 11/9/2001 làm giảm nhu cầu sản phẩm hàng hoá. Chính điều này
ảnh hưởng đến hoạt động ngoại thương của Nhậ
nghiệp chín muồi sang nền kinh tế mới – kinh tế tri thức. Điều rõ ràng là
Nhật Bản đã có bước phát triển vượt trước các nền kinh tế trong khu vực.
Trong bước chuyển này, một mặt Nhật Bản phải đầu tư nghiên cứu các
công nghệ mới xây dựng các ngành công nghiệp mới; mặt khác sẽ phải
đồng thời chuyển giao các công nghệ của nền công nghiệp hoá, cái mà
Nhật Bản đang có thế mạnh và các quốc gia khu vực trong đó có Việt Nam
đang rất cần. Trên thực tế
quá trình chuyển giao công nghệ của Nhật Bản
đã được thực hiện ngay trong những thập niên trước đây và dặc biệt được
đẩy mạnh sau năm 1985 khi mà đồng Yên tăng giá mạnh.
Việc chuyển giao các cơ sở công nghệ của nền công nghiệp hoá
không chỉ là yêu cầu dặt ra trong bước đường cải cách cơ cấu mà thông qua
các hoạt động chuyển giao này Nhật Bản có thể thâm nhập thị trường, phát
huy ưu th
ế về công nghệ để tăng lợi nhuận, qua đó có điều kiện cải cách cơ
cấu, phát triển các hoạt động kinh doanh mới.
Tình trạng suy thoái kinh tế kéo dài, tỷ xuất lợi nhuận thấp, nhất là
tình trạng giải pháp vẫn chưa khác phục được đã không tạo ra được môi
trường kích thích các hoạt động đầu tư nội địa. Việc tăng các hoạt động
kinh tế đối ngo
ại, kể cả đầu tư và thương mại sẽ được xem như một kích
thích từ bên ngoài đối với các hoạt động bên trong, tạo điều kiện cho các
giải pháp khắc phục suy thoái.
Trong quan hệ với Việt Nam, Nhật Bản nhìn nhận Việt Nam là thị
trường đầu tư tiềm năng còn ít được khai thác so với các quốc gia lân cận.
Nhật Bản có nguồn tài chính lớn cần có nơi đầu tư. Vi
ệt Nam có thể tiếp
nhận các nguồn vốn và kỹ thuật của Nhật Bản để xây dựng các ngành kinh
tế của mình. Trong những năm qua đầu tư của Nhật Bản vào thị trường
Việt Nam tuy chiếm tỷ lệ cao trong các đối tác đầu tư vào Việt Nam nhưng
vào thị trường Nhật Bản ngày một tăng.
Điều đáng chú ý là bên cạnh những sản phẩm hàng hoá phục vụ nhu
cầu sản xuất và tiêu dùng, do sự thay đổi trong cơ cấu sản xuất và cơ cấu
dân số làm cho nhu cầu nhập khẩu lao động nước ngoài trong đó có nhập từ
Việt Nam gia tăng, năm 1993 ở Nhật Bản có tới 23 vạn lao động nước
ngoài, năm 1999 là 28 vạn. Đối với Việt Nam trong thời gian từ 1992 –
2000 đã xuất khẩu sang Nhật Bản 7500 lao động. Thực tế cho thấy với sự
phát triển của các ngành và lĩnh vực sản xuất gắn với công nghệ cao đã thu
hút giớ
i trẻ Nhật Bản, còncác lĩnh vực dịch cụ lao động giản đơn ít
48
đượcchú ý nên đẩy đến tình trạng thiếu lao động trong khu vực này. Bản
thân quá trình già hoá dân số không những đặt ra nhu cầu lao động mà còn
làm thay đổi cơ cấu nhu cầu trong dân cư đòi hỏi được thoả mãn. Măt khác
chính quá trình cải cách mở cửa, gia tăng giao lưu đã phá vỡ tính khép kín
của thị trường lao động Nhật Bản dẫn đến gia tăng lao động nước ngoài.
Trong xu thế này khong chỉ là gia tăng nhu cầu lao động giản đơn mà c
ả
lao động phức tạp, lao động trong các ngành công nghệ cao. Bản thân Nhật
Bản cũng có chính sách thu hút chất xám bên ngoài phục vụ nhu cầu
nghiên cứu và phát triển công nghệ mới. Chính vì vậy trong tương lai nhu
cầu nhập khẩu lao động của v tiếp tục gia tăng và đây cũng là cơ hội gia
tăng lao động Việt Nam sang thị trường Nhật Bản. Việc này một mặt giải
quyết tình trạngdư thừa lao độ
ng ở Việt Nam, mặt khác qua thực tếngười
lao độnh có thể tiếp thukỹ thuật kinh nghiệm quản lý của Nhật Bản.
1.1.4. Nhu cầu gia tăng hợp tác kinh tế với Việt Nam xuất phát từ lợi ích
chiến lược phát triển chung của Nhật Bản
Nhật Bản hiện nay không chỉ đang phải phục hồi nền kinh tế mà còn