1
LỜI NÓI ĐẦU
Trong tiến trình toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ, với những xu thế
vận động và bối cảnh khách quan của nền kinh tế thế giới và khu vực, với
những tác động của tình hình kinh tế, chính trị, xã hội… để tránh khỏi bị tụt
hậu Việt Nam đang đứng trước thời cơ mới và thách thức mới. Đối với Việt
Nam, trong điều kiện chuyển từ n
ền kinh tế theo cơ chế kế hoạch hoá tập
trung sang kinh tế thị trường lại có điểm xuất phát thấp, tốc độ tăng trưởng
kinh tế chưa cao, để đưa đất nước phát triển nhanh Đảng ta đã khẳng định ”
Phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài” Quá
trình tham gia vào hội nhập kinh tế thế giới và khu vực là tất yếu.
Nhật Bả
n là một trong những nước có tầm ảnh hưởng rất lớn trong
nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Nhật Bản là một
cường quốc kinh tế đã trải qua nhiều năm phát triển thần kỳ vào trước thập
niên 90của thế kỷ XX khiến cho cả thế giới khâm phục. Nhiều nước trong
khu vực Châu Á đã phấn đấu noi theo mô hình phát triển của Nhật Bản,
trong đó mộ
t số nước và lãnh thổ Đông Á đã nhanh chóng trở thành con
rồng, con hổ kinh tế, giải quyết thành công nhiều vấn đề đời sống kinh tế –
xã hội, chỉ trong vòng 2 – 3 thập niên.Vì vậy, việc xem xét, nghiên cứu, tìm
hiểu học hỏi những chính sách, biện pháp, giải pháp, chiến lược mà chính
phủ Nhật Bản đã sử dụng để đưa nền kinh tế phát triển mạnh mẽ như vậy
đối với Vi
ệt Nam là rất cần thiết nhằm tạo ra sự tăng trưởng cao và bền
vững cho việc phát triển kinh tế - xã hội.
Sau quá trình thực tập tại Trung tâm Nghiên cứu Nhật Bản em đã
hoàn thành chuyên đề thực tập tốt nghiệp với đề tài: “Cải cách kinh tế của
Nhật Bản và mối quan hệ kinh tế Việt Nam – Nhật Bản”.
chính của Nhật Bản và hiệu quả của nó.
Chương III, Quan hệ kinh tế Việt Nam - Nhật Bản. Một số giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả của các cuộc cải cách đó và triển vọng phát triển
trong tương lai.
3
Kết luận, Trên cơ sở kết quả nghiên cứu phần kết luận khẳng định
những kết quả đạt được và một số kiến nghị nhằm nâng cao mối quan hệ
kinh tế Nhật Bản - Việt Nam trong tương lai.
4
CHƯƠNG I: QUÁ TRÌNH CẢI CÁCH KINH TẾ
CỦA NHẬT BẢN
I. XU HƯỚNG CỦA NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI
Hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang trở thành một trong những xu
hướng quan trọng trong hoạt động kinh tế quốc tế. Các nước đang phát
triển (trong đó có Việt Nam) cùng với việc tranh thủ thu hút các nguồn vốn
để phát triển cũng khuyến khích, đẩy mạnh việc quan hệ hợp tác với các
nước phát triển trên thế giới nhằm h
ọc hỏi kinh nghiệm cũng như mở rộng
thị trường, tận dụng các nguồn tài nguyên, lao động, tăng nguồn thu lợi
nhuận cũng như tăng cường ảnh hưởng với các nước khác và. Chính vì
những lẽ đó mà đã có rất nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế, các cơ quan
nghiên cứu, các nhà khoa học đã đưa ra, tổng kết những kinh nghiệm,
những vấn đề lý lu
ận, thực tiễn và dự báo về xu hướng phát triển của nền
kinh tế thế giới trong đó có Nhật Bản và Việt Nam.
II. NỀN KINH TẾ NHẬT BẢN TỪ CUỐI NHỮNG NĂM 1980 ĐẾN
vấn đề cần được tiếp tục cải cách.
Trong những năm 80 c
ủa thế kỷ XX, cuộc khủng hoảng nợ đã làm
cho nhiều nước đang phát triền lâm vào tình trạng suy thoái nghiêm trọng.
Để thoát khỏi khủng hoảng, suy thoái các nước đang phát triển đã phải cải
cách kinh tế theo hướng chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, mở cửa
nền kinh tế, thực hiện chiến lược CNH, hướng về xuất khẩu. Và Nhật Bản
cũng không là ngoại lệ
, từ đầu thập niên 1990 đến nay, nền kinh tế Nhật
Bản vẫn chưa thoát hẳn ra khỏi cơn suy thoái kéo dài, cho dù cũng đã có sự
tăng trưởng trở lại của nền kinh tế với chỉ số dự đoán khoảng 2,4% năm
2003 (tạp chí “Times” số tháng 10/2003).
Sự phát triển không ổn định đi liền với khủng hoảng suy thoái kéo
dài là đặc trưng cơ bản của nền kinh tế
Nhật Bản trong khoảng hơn thập
niên vừa qua. khởi đầu của sự phất triển đó được đánh dấu bởi sự đổ vỡ của
nền kinh tế bong bóng Nhật Bản vào đầu thập niên 1990. Tăng trưởng kinh
tế (GDP) của Nhật Bản trong những năm 1990 đã suy giảm liên tục với
động thái tăng trưởng rất chậm chạp và thất thường. Cụ thể
như sau:
- Từ 1990 đến 1996: với động thái tăng trưởng kinh tế: 0,5%; 0,6%;
2,8%; và 3,2%.
- Từ 1997 đến 1999: tiến dần đến tình trạng trầm trọng của khủng hoảng.
Khủng hoảng kinh tế Nhật Bản được gắn liền với ảnh hưởng tiêu cực
của khủng hoảng tài chính – tiền tệ Đông á (1997 – 1998). Lần đầu tiên
kể từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, kinh t
ế Nhật Bản tăng trưởng âm
liên tục trong 2 năm liền(1997: - 0,7% và 1998: -1,1%).Năm 1999: kinh
tế Nhật Bản phục hồi trở lại nhưng tăng trưởng còn mong manh: 0,7%.
- Năm 2000: kinh tế Nhật Bản tăng trưởng khả quan: 2,4%.
ã được áp dụng nhiều lần
trong các thập kỷ trước đây khi nền kinh tế Nhật Bản có biểu hiện suy thoái
theo chu kỳ. Nội dung chủ yếu của nó là bơm thêm tiền vào nền kinh tế
bằng các chương trình kích thích kinh tế trọn gói, tăng đầu tư vào các công
trình công cộng, giảm thuế, giảm tỷ lệ lãi suất chiết khấu chính thức,…
nhằm kích thích nhu cầu trong nước.
7
- Các chương trình kích thích kinh tế trọn gói: Đây là một giải pháp
truyền thống mà Chính phủ Nhật Bản thường sử dung để khác phục khủng
hoảng chu kỳ. Đó là việc dựa vào ngân sách bổ sung hoặc các chương trình
kích thích kinh tế trọn gói nhằm kích cầu trong nước thông quq việc mỏ
rộng các công trình công cộng. Kể từ khi nền kinh tế “bong bóng” sụp đổ,
Chính phủ Nhật Bản đã thực hiện rất nhiều biệ
n pháp cả gói với tổng chi
phí lên tới 107.000 tỷ Yên. Đây chính là những biện pháp can thiệp của
Chính phủ mà theo lý thuyết của Kêyn thì có thể tạo ra những đòn bẩy cho
nền kinh tế.
- Cắt giảm thuế và xoá matt phần nợ cho các công ty kinh doanh bất
động sản: Đây cũng là một giải pháp quan trọng nhằm trợ giúp các công ty
đang đứng trước bờ vực thẳm của sự phá sản sau sự sụp đổ của n
ền kinh tế
bong bóng. Ví dụ, Nội các của thủ tướng Obuchi đã thực hiện giảm thuế
thu nhập 9.000 tỷ Yên (2%GDP). Mức thuế thu nhập cao nhất của cả cấp
quốc gia và cấp địa phương đã được giảm từ 65% xuống còn 50%. Sự giảm
thuế này được hy vọng là sẽ thúc đẩy tiêu dùng cá nhân và kích thích tinh
thần làm việc chung. Việc giảm thuế để khuyến khích xây dựng nhà ở cũng
đã
được tiến hành một cách rộng rãi. Hơn nữa, Chính phủ Nhật Bản đã
quyết định giảm tỷ lệ thuế kinh doanh kết hợp cả quốc gia và địa phương từ
(0,5%) trong suốt nhiều năm liên tục và thậm chí hiện nay đã xuống tới
mức sấp sỉ con số không nhằm phuch hồi và lấy lại sinh khí cho nền kinh
tế.
2. Các chương trình cải cách kinh tế một cách cơ bản và toàn diện
Nguyên nhân sâu xa gây ra tình trạng trì trệ kéo dài của nền kinh tế
Nhật Bản là sự bất cập hay những hạn chế của mô hình kinh tế Nh
ật Bản
trước bối cảnh mới của tình hình kinh tế quốc tế, sự lạc hậu của hệ thống
ngân hàng tài chính mang nặng tính bao cấp, sự cứng nhắc cũng như thiếu
minh bạch của bộ máy hành chính trong việc quản lí và điều hành nền kinh
tế… Chính vì vậy, để khắc phục một cách triệt để tình trạng kinh tế suy
thoái đòi hỏi phải tiến hành những cải cách toàn di
ện hệ thống kinh tế Nhật
Bản. Tuy nhiên, không phải vấn đề này đã được nhận thức và thực hiện
ngay từ đầu thập kỷ1990 sau khi những “bong bóng” kinh tế bất đông sản
sụp đổ đẩy nền kinh tế Nhật Bản lâm vào tình trạng suy thoái nghiêm trọng
và kéo dài. Mà phải đến 1996, sau khi hàng loạt các chương trình kích thích
kinh tế trọn gói, như đã đề cập đến ở trên, không đem lại hiệu qu
ả, Chính
phủ Nhật Bản dưới sự lãnh đạo của Thủ tướng Hashimoto mới ban hành
một loạt các chương trình cải các liên quan đến nhiều mặt hoạt động của
nền kinh tế xã hội Nhật Bản. Có 6 chương trình cải cách lớn đã được đưa
ra, trong đó có 3 chương trình liên quan đến cải cách kinh tế. Đó là: Điều
9
chỉnh chính sách kinh tế; Cải cách cơ cấu kinh tế; và Cải cách hành chính.
Sau đây là một số nội dung cơ bản nhất của các chương trình cải cách này.
Thứ nhất, để thực hiện cải cách cơ câu kinh tế, Chinh phủ Nhật Bản
một mặt đã áp dụng các giải pháp hỗ trợ đối với một số nghành công
nghiệp đang bị sa sút như luyện kim, đóng tầu, hoá chất… nhằm ng
thoái, họ phải co nhỏ lại quy mô họat động kinh doanh để tránh tổn thất và
10
sa thải công nhân. Một số nhỏ các công nhân được thuyên chuyển tới các xí
nghiệp vừa và nhỏ với những công việc mang tính chất tạm thời.
+ Tiến hành thu hẹp và giảm đầu tư vào nhiều khâu sản xuất cần
nhiều lao động, không còn cạnh tranh được với hàng nhập khẩu, đồng thời
chuyển chúng sang các nước Đông Á. Đó là các nghành sản xuất phụ tùng
ô tô, lắp ráp đồ điện, điện tử
, dệt… Hướng thích ứng này đã dẫn tới nguy
cơ của sự “trống rỗng” nền công nghiệp trong nước mà các sách báo đã đề
cập đến rất nhiều. Theo các số liệu thống kê của 14 nghành công nghiệp, tỷ
lệ đầu tư ra nước ngoài trong những năm giữa thập kỷ 90 bình quân đều đạt
trên 27%, vượt xa mức 1,8% vào năm 1986. Trong đó công nghiệp chế tạo
tăng mạnh nhất. Ví dụ
, đằu tư ra nước ngoài trong ngành chế tạo ô tô đã
tăng từ 4,8% năm 1986 lên 38,1% năm 1995 (Tạp chí “Kinh tế hệ” số
tháng 7/1996). Tỷ trọng sản xuất ở nước ngoài (chỉ mối quan hệ giữatổng
ngạch tiêu thụ của các xí nghiệp ở nước ngoài thuộc ngành chế tạo với tổng
ngạch tiêu thụ của ngành chế tạo trong nước) đã tăng từ 3% năm 1985 lên
6,4% nă
m 1990 và 7,4% năm 1993, trong đó nghành sản xuất máy điện
tăng lên 12,6%, máy móc vận tải tăng lên 17,3% (Sách trắng đầu tư, Hội
Chấn hưng mậu dịch Nhật Bản năm 1995).
+ Tăng cường nhập khẩu các sản phẩm công nghiệp, bán thành
phẩm, và linh kiện, đặc biệt là những sản phẩm được sản xuất từ những cơ
sở chế tạo của Nhật B
ản ở nước ngoài và nâng cao hơn nữa giá cả hàng
xuất khẩu để bù lại những thiệt hại do sư tăng giá của đồng Yên gây ra. Ví
dụ trong năm 1995, nhiều công ty xuất khẩu của Nhật Bản đã tăng giá hàng
này là:
+ Mở rộng sự lựa chọn cho các nhà đầu tư và những người đi vay.
+ Cải tiến chất lượng phục vụ của các trung gian tài chính và thúc
đẩy sự cạnh tranh giữa các ngân hàng.
+ Phát triển một th
ị trường đem lại nhiều lợi ích hơn.
+ Thiết lập những khung khổ pháp lý và những quy định đáng tin
cậy cho sự giao dịch bình đẳng, minh bạch.
Trên cơ sở những hướng cải cách cơ bản nói trên, Chính phủ Nhật
Bản đã ban hành và thực hiện hàng loạt các chính sách và biện pháp cải
cách cụ thể đối với từng lĩnh vực của hệ thống tài chính. Trong đó, đặc biệt
là các chính sách cơ cấu lại Bộ Tài Chính, chính sách tăng cường vai trò
của Ngân hàng trung ương Nhật Bản, chính sách cơ cấu lại các ngân hàng
thương mại, chính sách nới lỏng các quy chế tạo điều kiện cho sự phát triển
của các thị trường vốn độc lập và sự thâm nhập vào các công việc kinh
doanh lẫn nhau của các cơ quan tài chính nhằm tăng cường khả năng cạnh
tranh của chúng, các chính sách về lãi suất tín dụng, tỷ giá đồ
ng Yên, và thị
12
trường chứng khoán, các chính sách về thuế, thu chi ngân sách và bảo
hiểm…(Hệ thống tài chính Nhật Bản: những đặc trưng cơ bản và cuộc cải
cách hiện nay; chủ biên Trần Quang Minh, Nxb KHXH, Hà Nội, 2003).
Chi tiết quá trình thực hiện cải cách tài chính “Bing Bang” của Nhật Bản
được chỉ rõ trong bảng sau:
Tiến trình thực hiện “Big Bang” của Nhật Bản
Các khoản mục
1997 1998 1999 2000 2001
1. Mở rộng sự lựa chọn cho các
2/97
4/98
10/98
12/98
12/98
9/98
12/98
2. Cải tiến chất lượng các loại
dịch vụ và đẩy mạnh cạnh
tranh
- Khai thác sử dụng các công
10/99
10/99
10/99
3. Sử dụng thị trường thân
thiện, nhiều hơn
- Cải tiến mua bán ngoại tệ
và xoá bỏ mức ấn dịnh cho
các loại chứng khoán có
trong danh sách
- Tăng cường chức năng của
thị trường đăng ký qua máy
- Xoá bỏ thuế giao dịch
chứng khoán và thuế ở thị
trường hối đoái
- Xoá bỏ một phần thuế của
nh
ững người có JGBs 12/98
12/98 3/0115
CHƯƠNG II: MỘT SỐ THÀNH CÔNG BƯỚC ĐẦU
CỦA CẢI CÁCH KINH TẾ Ở NHẬT BẢN
Có thể thấy tư sau cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ khu vực
Đông á Nhật Bản đã có những cố gắng xúc tiến mạnh hơn chương trình cải
cách nền kinh tế của mình. Trên thực tế cuộc khủng hoảng đã làm bộc lộ rõ
những điểm hạn chế trong bản thân nền kinh tế Nhật Bản, nhất là trong hệ
thống Tài chính Ngân hàng buộc Nhật Bản phả
i có sự cải cách toàn diện.
Nhìn lại các cuộc cải cách trong những năm gần đây ta thấy Nhật Bản
không chỉ chú trọng vào phương diện tạo cầu, kích cầu mà còn chú ý cả
khía cạnh cung của nền kinh tế nhằm tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý trên
cơ sởphát triển mạnh các ngành kinh tế kỹ thuật cao.
Trên phương diện cầu, Chính phủ Nhật Bản đã có nhiều chươ
ng
trình kích thích kinh tế hàng năm nhằm mở rộng đầu tư. Bên cạnh đó là
những cố gắng tập trung giải quyết các khoản nợ khó đòi, nhằm tạo sự lành
mạnh trong hệ thống ngân hàng, kích thích các hoạt động đầu tư tư nhân.
Trong các chương trình cải cách của Thủ tướng Nhật Bản trước ông
Koizumi lại chú trọng kích thích đầu tư tư nhân, hạn chế, giảm tài trợ đầu
t
ư công cộng nhằm tiến tới cân bằng ngân sách. Chẳng hạn theo dự toán
NHẬT BẢN
Nhìn một cách tổng thể, cải cách kinh tế ở Nhật Bản đã thu được
những kết quả tươ
ng đối khả quan. Các cuộc cải cách này đã và đang dẫn
tới những thay đổi mạnh mẽ cơ cấu kinh tế Nhật Bản, làm cho khu vực tài
chính Nhật Bản đã trở lên có sức cạnh tranh mạnh hơn và, sự thâm nhập
của nước ngoài vào nền kinh tế Nhật Bản cũng trở nên ít khó khăn hơn.
Các cuộc cải cách này cũng đã dẫn tới sự cơ cấu lại các công ty và s
ự phát
triển mạnh của các thị trường vốn độc lập. Hơn 10 năm trước dây, người
Nhật Bản không thể nghĩ rằng sự xuất hiện của thị trường vốn sẽ là một lực
lượng quan trọng thúc đẩy sự cơ cấu lại nền kinh tế Nhật Bản và làm thay
đổi phong cách quản lý truyền thống trong các công ty của Nhật Bản. Sự ra
đời của m
ột ban giám đốc độc lập và quyền lợi của các cổ đông là những
vấn đề đáng chu ý hiện nay ở các công ty Nhật Bản. Chế độ làm việc suốt
đời và trả lương theo thâm niên cũng đã trở nên không còn thích hợp nữa.
Nếu như trong những năm 1980, người ta không thể tuyển mộ sinh viên
giỏi từ một trường đại học có tiếng ở Nhật Bản vào làm việc cho một công
ty mà không phải là lớn hoặc không phải Bộ tài chính; và người Nhật Bản
cũng không thích thú vào làm việc trong các công ty nước ngoài, thì trong
những năm gần đây, tình hình đã hoàn toàn khác. Những sự thay đổi này,
một phần chính là kết quả của những cuộc cải cách kinh tế trong những
năm 1990, đặc biệt là cuộc cải cách hệ thống tài chính trong những năm
gần đây của Nhật Bản.
17
đạo bằng cách đưa vào các giám đốc từ bên ngoài. Bằng cách này các nhà
quản lý có thể nghe được nhiều ý kiến khác nhau và không thiên vị về
chiến lược công ty của họ, cho phép họ thực hiện những thay đổi làm tăng
khả năng cạnh tranh hơn. Việc làm này cũng góp phần tăng cường vai trò
của lãnh đạo vì nó tách chức năng kiểm tra khỏi chức năng hoạt động kinh
doanh.
18Thứ tư, việc quản lý các nguồn nhân lực cũng đang có sự thay đổi.
Nhiều công ty hiện nay nhấn mạnh vào khả năng làm việc hơn là sự thâm
niên và thuê mướn suốt đời. Ví dụ, theo một nghiên cứu, chỉ có 6,3% người
Nhật cho rằng hệ thống trả lương theo thâm niên cần được duy trì, trong
khi đó 53,8% cho rằng tiền lương cần được trả trên cơ sở công việc thực tế
.
Bên cạnh những nhân tố kể trên, sự phát triển mạnh của đầu tư nước
ngoài vào Nhật Bản cũng là một động lực khác cho sự thay đổi cơ cấu các
ngành. Đặc biệt là cuộc cải cách tài chính Big Bang đã và đang dẫn tới
những thay đổi cơ cấu sâu sắc ở Nhật Bản. Khu vực tài chính Nhật Bản trở
nên có sức cạnh tranh mạnh hơn và sự thâm nhập củ
a nước ngoài vào khu
vực này cũng trở nên ít khó khăn hơn. Theo các số liệu thống kê, đầu tư
trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Nhật Bản trong những năm gần đây đã tăng
rất mạnh. Trong đó khoảng 34,1% tổng vốn FDI là vào khu vực tài chính,
và khoang 24% vào kỹ thuật thông tin và các ngành thương nghiệp bán lẻ.
FDI, ngoài các khoản tiền đầu tư, đã đưa vào Nhật Bản các quan điểm của
các nhà đầu tư và các ki
ểu quản lý công ty không chỉ mới mà còn có thể áp
dụng đối với các xí nghiệp Nhật Bản truyền thống. Nếu như trước đây
kiểu cũ. Trong những thập kỷ gần đây, cơ cấu kinh tế Nhật Bản lại được
đặc trưng bởi các công ty to lớn đã được thiết lập một cách vững chắc trong
nhiều ngành công nghiệp nặng (như luyện kim, chế tạo máy, và hoá chất),
hệ thống ngân hàng, và các công ty thương mại tổng hợp lớn,… Và trong
những nă
m gần đây, cơ cấu kinh tế này lại đang được chuyển đổi theo
hướng cải tổ cơ cấu và đầu tư vào kỹ thuật thông tin để có thể hoạt động có
hiệu quả trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ trên thế
giới. Bên cạnh những ngành nghề truyền thống đã và đang được cải tổ và
nâng cấp, có rất nhiều ngành ngh
ề mới đang được hình thành trong nền
kinh tế Nhật Bản. Người ta gọi đó là “Kinh tế Nhật Bản kiểu mới”. Sự
chuyển dịch cơ cấu ngành chính là nhân tố quan trọngnhất tạo ra gương
mặt mới của nền kinh tế Nhật Bản.
2. Những thành tựu trong lĩnh vực cải cách tài chính.
Theo đánh giá chung, cuộc cải cách hệ thống tài chính Nhật Bản đã thu
được nh
ững kết quả bước đầu như: Vai trò và chức năng của hai cơ quan
chủ yếu trong hệ thống tài chính là Bộ Tài chính (MOF) và Ngân hàng
Trung ương Nhật Bản (BOJ) đã có sự thay đổi về cơ bản với việc tăng
cường tính độc lập và quyền tự quyết của BOJ trong việc quản lý và thực
hiện chính sách tiền tệ; Luật Ngân hàng mới đã có hiệu lực và đi vào hoạt
động k
ể từ năm 1997; nhiều ngân hàng đã tiến hành việc bán những uỷ thác
đầu tư; các cơ quan tài chính đã có quyền chủ động hơn trong việc giải
20
quyết những vấn đề nảy sinh; và rất nhiều công ty kinh doanh chứng khoán
II. NHỮNG CHÍNH SÁCH VÀ BIỆN PHÁP CẢI CÁCH TRONG
TỪNG LĨNH VỰC CỦA HỆ THỐNG TÀI CHÍNH
Mặc dù
đã từng có những đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh
tế của Nhật Bản, đặc biệt là trong thời kỳ tăng trưởng ngoạn mục (1955 –
1973), hệ thống tài chính Nhật Bản mà trong đó các ngân hàng đóng vai trò
trung tâm, kể từ cuối thập kỷ 80 đến nay đã bộc lộ rất nhiều những yếu kém
và bất cập, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển kinh tế của đấ
t nước.
21
Trong suốt hơn một thập kỷ vừa qua, Chính phủ Nhật Bản đã phải thực
hiện khá nhiều chính sách và biện pháp nhằm cơ cấu lại hệ thống tài chính
thích ứng với những đòi hỏi của tình hình kinh tế trong nước và bối cảnh
quốc tế mới. Tuy nhiên, những giải pháp tình thế được thực hiện trong
những năm đầu thập kỷ 90 đã chứng tỏ r
ằng đó không phải là những
phương thuốc hữu hiệu đẻ chữa trị căn bệnh “khủng hoảng cơ cấu” kinh tế
nói chung và hệ thống tài chính của Nhật Bản nói riêng. Chỉ khi chương
trình “Big Bang” do Thủ tướng Hashimoto khởi sướng và được thực hiện
kể từ tháng 11/1996, hệ thống tà chính Nhật Bản mới thực sự bước vào một
cuộc cải cách sâu sắc và toàn diện.
Đặc
điểm nổi bật của hệ thống tài chính Nhật Bản là chủ yếu dựa vào
ngân hàng nên trước hết chúng ta sẽ đi vào các chính sách, biện pháp để cải
cách ngân hàng trung ương (NHTW) và ngân hàng thương mại (NHTM).
1. Các chính sách đối với NHTW và NHTM
Hệ thống tài chính Nhật Bản, đặc biệt là hệ thống ngân hàng, đã
được ca ngợi có vai trò sống còn trong phát triển kinh tế của Nhật Bản
trước những năm 1990. Rất nhiều ngân hàng Nhật Bản th
Song, vi
ệc kinh doanh này chỉ là phương tiện nâng cao hiệu suất của công
tác quản lý, chứ không phải là mục đích của hoạt động chính của NHTW.
Mục đích hoạt động của NHTW là cung ứng tiền tệ cho nền kinh tế,
điều hoà lưu thông tiền tệ và quản lý hệ thống ngân hàng, nhằm bảo đảm
lưu thông tiền tệ ổn định, từ đó tạo diều kiện tăng trưởng kinh t
ế, tăng việc
làm và kiềm chế lạm phát. Với 3 chức năng cơ bản là: phát hành tiền tệ,
ngân hàng của các ngân hàng và ngân hàng của nhà nước, NHTW đóng vai
trò quan trọng trong việc ổn định và phát triển kinh tế – xã hội như điều tiết
khối lượng tiền trong lưu thông, ổn định sức mua của đồng tiền quốc gia.
Ngân hàng trung ương Nhật Bản (DOJ) ra đời vào năm 1886 theo
sáng kiến của Bộ trưở
ng Tài chính Masayoshi Matsuka. Đây là một phần
trong chương trình hiện đại hoá tài chính Nhật Bản của thời Minh Trị. Mục
tiêu là để cải cách hệ thống tiền tệ, thiết lập một đồng tiền chung trong cả
nước, tạo cơ sở cho tài chính quốc gia và thúc đẩy sự phát triển của ngân
hàng nói chung. Gần 60 năm sau Pháp lệnh BOJ được thay thế bằng một
luật NHTW mới được thực hiện trong thời kỳ Chính phủ
do giới quân sự
lắm quyền vào năm 1942. Sự sửa đổi lần đó có thêm vào quyền hạn của
NHTW trong chính sách tiền tệ, nhưng vẫn coi HNTW là một bộ phận của
Bộ Tài Chính. Sau Chiến tranh Thế giới thứ II, BOJ hầu như không có sự
thay đổi. Hai sáng kiến nhằm cải cách Luật NHTW – một lần vào cuối
những năm 1950 và một lần nữa vào năm 1965 đều không đem lại kết quả
.
Vì lúc đó kinh tế đang tăng trưởng với tốc độ cao nên các chính trị gia cũng
23
như công chúng thấy không quan tâm nhiều tới sự thay đổi Luật NHTW.
ống ngân hàng. Những
kiểm toán viên cũng do Nội các bổ nhiệm, nhưng các giám đốc điều hành
và các cố vấn thì do Bộ trưởng Tài chính bổ nhiệm theo sự giới thiệu của
Ban Chính sách. Luật ghi rõ 6 thành viên được lựa chọn phải là chuyên gia
kinh tế hoặc tài chính, hoặc những người có kiến thức uyên thâm về kinh tế
– xã hội để tăng cường tính minh bạch và có thể hạn chế sự can thiệp của
Bộ Tài chính. Như
vậy luật mới đã lành mạnh hoá chức năng của Ban
Chính sách tiền tệ, trong tổng số 9 người của ban thì 4 thành viên mới được
24
bổ nhiệm vào tháng 4 năm 1998 đều độc lập với Chính phủ. Trong Ban
Chính sách tiền tệ, không một thành viên nào có quyền áp đặt quan điểm
của riêng mình, mọi người đều có thể thẳng thắn nêu ý kiến. Bắt đầu từ
tháng 1 năm 1998, BOJ đã thực hiện các cuộc họp định kỳ 1 hoặc 2 lần
trong một tháng về chính sách tiền tệ, và sau 5 hoặc 6 tuần sẽ công bố công
khai nội dung các cuộc họp. Đ
ây có thể coi là một đột phá để đưa Nhật Bản
tiến đến các tiêu chuẩn quốc tế về tính minh bạch trong hoạt động ngân
hàng. Ngoài ra, trong việc quản lý nhân sự BOJ đã bãi bỏ quy chế thăng
chức tự động hàng năm, tăng cường hiệu quả nguồn nhân lực, áp dụng một
cách then trọng hệ thống thăng chức dựa vào sự đóng góp của các cá nhân
cho hoạt động của ngân hàng.
Nh
ư vậy vai trò, chức năng, cơ cấu tổ chức của BOJ đã có những
thay đổi đáng kể theo hướng độc lập, tự quyết chứ không phải là tổ chức
chỉ biết thực thi những mệnh lệnh của Bộ Tài chính như trước kia. Tuy
nhiên, những thay đổi này vẫn chưa thể theo kịp các đồng sự phương Tây
của họ. Có những phê phán cho rằng BOJ tuy đã được độ
c lập trong thực
BOJ có thể cho vay không cần thế chấp đối với Chính phủ, hoặc mua trái
phiếu hoặc ghi nợ trong giới hạn của Luật Ngân sách mà Quốc hội dặt ra.
Như vậy, việc áp dụng luật NHTW sửa đổi cho phép tạo lập môi
trường pháp lý phù hợp với tiêu chwnr quốc tế về quy
ền tự chủ, tính minh
bạch và các nhân tố quan trọng khác của NHTW. Đây là những điều kiện
cần thiết để chiếm được lòng tin của thi trường. Với Luật sửa đổi này phạm
vi can thiệp của Chính phủ với BOJ đã bị thu hẹp, tuy nhiên BOJ cũng phải
luôn duy trì mối quan hệ gần gũi và trao đổi quan diểm với Chính phủ một
cách đầy đủ để đảm bảo chính sách của BOJ hài hoà v
ới chính sách kinh tế
của Chính phủ. Luật ngân hàng mới nhấn mạnh khái niệm “minh bạch” với
quy định rằng BOJ sẽ thông báo ra công chúng nội dung các quyết định
cũng như quá trình ra quyết địnhcó liên quan tới vấn đề quản lý tiền và
ngoại hối. Có thể thấy cuộc cải cách đối với BOJ tương đối toàn diện vì
không chỉ về cơ cấu luật pháp bên ngoài mà còn về cấu trúc và động lưc
bên trong của nó, tạ
o điều kiện để BOJ trở thành một ngân hàng hiện đại
theo tiêu chuẩn quốc tế. Điều này đã được chứng minh trong thời gian 4
năm qua khi BOJ luôn kiên định duy trì chính sách nới lỏng tiền tệ của
mình với việc điều chỉnh lãi suất linh hoạt, can thiệp kịp thời vào thị trường
ngoại hối. Chẳng hạn, trong thời gian qua khi đồng Yên lên giá quá mức,
tạo điều kiện thuậ
n lợi cho xuất khẩu của Nhật Bản. Chỉ tính từ cuối tháng
5/ 2002 đến đầu tháng 7/2002, BOJ đã 7 lần tung đồng Yên ra để mua Đôla
Mỹ và trong lần can thiệp thứ 6, BOJ đã yêu cầu Cục dự trữ Liên bang Mỹ
và NHTW châu Âu giúp cho việc bán đồng Yên. Đây là lần đầu tiên BOJ
có sự phối hợp với NHTW của các nước khác.
b. Đối với các NHTM