luận văn rào cản phi thuế quan trong chính sách thương mại quốc tế của việt nam - thực trạng và giải pháp - Pdf 15


LUẬN VĂN:
Rào cản phi thuế quan trong chính
sách thương mại quốc tế của Việt Nam
- Thực trạng và giải pháp

LỜI MỞ ĐẦU

Ngày nay, xu thế toàn cầu hóa và quốc tế hóa đang diễn ra một cách hết sức mạnh mẽ.
Nó tạo ra cho Việt Nam những cơ hội cũng như những thách thức lớn chưa từng có trong
lịch sử. Việt Nam với phương châm: “Muốn làm bạn với tất cả các quốc gia trên thế giới”,
do vậy xu thế liên minh, liên kết là một việc làm cần thiết và tất yếu. Việc Việt Nam liên
tục và nỗ lực không ngừng từng bước tham gia đàm phán để trở thành viên của Tổ chức
Thương mại thế giới (WTO) là một bằng chứng minh họa xác thực cho điều này. Tự do hóa
thương mại và hội nhập kinh tế quốc tế là vấn đề không chỉ đặt ra đối với Việt Nam mà với
tất cả các quốc gia trên thế giới, không phân biệt là quốc gia phát triển hay đang phát triển,

quốc tế.
Chương II: Thực trạng rào cản phi thuế quan trong chính sách thương mại quốc tế
của Việt Nam.
Chương III: Một số giải pháp nhằm sử dụng và vượt rào cản phi thuế quan một
cách có hiệu quả trong chính sách thương mại quốc tế của Việt Nam
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RÀO CẢN PHI THUẾ QUAN TRONG CHÍNH SÁCH
THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

I. Khái niệm và phân loại rào cản phi thuế quan trong chính sách thương mại
quốc tế
1. Cơ sở lí luận của rào cản phi thuế quan trong chính sách thương mại quốc tế
Trong thời gian vừa qua, Việt Nam đã gặp phải rất nhiều khó khăn trong việc đàm
phán để gia nhập WTO. Vậy câu hỏi đặt ra là: Tại sao Việt Nam lại nỗ lực nhiều đến vậy để
gia nhập WTO? Để tham gia được vào WTO, Việt Nam phải làm gì? Và lợi ích mà WTO
có thể mang lại cho Việt Nam là gì?
Câu trả lời nằm trong chính các rào cản trong thương mại quốc tế. Để xuất khẩu được
hàng hóa, tất cả các quốc gia đều phải vượt qua hàng rào do các nước nhập khẩu dựng lên
và để làm được điều này thật không đơn giản chút nào.
Rào cản trong thương mại quốc tế vô cùng đa dạng, phức tạp và được quy định bởi cả
hệ thống pháp luật quốc tế cũng như pháp luật của từng quốc gia, được sử dụng không
giống nhau ở các nước và vùng lãnh thổ. Trong khuôn khổ của WTO, rào cản phi thuế quan
trong thương mại quốc tế được thể hiện ở: Hiệp định về các rào cản kĩ thuật đối với thương
mại, Hiệp định về kiểm dịch động thực vật, Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối

xuất nội địa.

2. Khái niệm hàng rào phi thuế quan trong chính sách thương mại quốc tế
Ngày nay có nhiều quan niệm về hàng rào phi thuế quan. Tổ chức hợp tác và phát
triển kinh tế (OECD) năm 1997 đã quan niệm: “Hàng rào phi thuế quan là biện pháp biên
giới nằm ngoài phạm vi thuế quan có thể được các quốc gia sử dụng, thường thường dựa
trên cơ sở lựa chọn nhằm hạn chế nhập khẩu”. Theo nghiên cứu của PECC năm 1995 mô
tả: “Các hàng rào phi thuế quan là mọi công cụ phi thuế quan có thể can thiệp vào thương
mại bằng cách này làm biến dạng sản xuất trong nước”. Còn các nhà kinh tế học Deardroff
và Stern thì cho rằng: “Xét về hàng loạt các hàng rào phi thuế quan chính thức hoặc không
chính thức có thể tồn tại, có thể không có một phương pháp phân tích duy nhất cho việc
giải quyết thoả đáng toàn bộ phạm vi hàng rào phi thuế quan”.
Trong thực tế có rất nhiều người đồng nghĩa các hàng rào phi thuế quan với các biện
pháp phi thuế quan. Tất cả các hàng rào phi thuế quan đều là các biện pháp phi thuế quan,
song không phải các biện pháp phi thuế quan đều là hàng rào phi thuế quan. Các biện pháp
phi thuế quan có thể bao gồm các biện pháp thúc đẩy xuất khẩu, chúng không phải là những
“rào cản” đối với thương mại. Thuật ngữ có vẻ trung lập hơn này được các chính phủ
thường dùng để mô tả những biện pháp được sử dụng để quản lý nhập khẩu với mục đích
hợp pháp như: Thủ tục đảm bảo thực vật, bảo vệ người tiêu dùng trong nước. Vì vậy khó có
thể quy cho chúng là những rào cản. Việc xác định những biện pháp phi thuế quan nào là
rào cản phi thuế quan khá khó khăn.
Bên cạnh các định nghĩa trên, chúng ta đề cập tới định nghĩa về các biện pháp phi
thuế quan và các hàng rào phi thuế quan của WTO: “Biện pháp phi thuế quan là những
biện pháp ngoài thuế quan, liên quan hoặc ảnh hưởng đến sự luân chuyển hàng hóa giữa
các nước”. Còn: “Rào cản phi thuế quan là những biện pháp phi thuế quan mang tính cản
trở thương mại mà không dựa trên cơ sở pháp lý, khoa học hoặc bình đẳng”.
Mục đích của việc nghiên cứu và phân tích các biện pháp phi thuế quan là đưa ra

biện pháp quản lý thông thường, nhưng nếu thủ tục quá chậm chạp, phức tạp có thể trở
thành rào cản phi thuế quan. Sử dụng các quy định về kiểm tra trước khi xếp hàng, quy định
về cửa khẩu thông quan, quy định về giá trị tính thuế hải quan… cũng sẽ trở thành rào cản
khi mà nó chưa hoặc không phù hợp với quy định về hài hòa thủ tục hải quan.
- Các rào cản kĩ thuật trong thương mại quốc tế: Đó là các quy định và các tiêu chuẩn
kĩ thuật, các quy định về phòng thí nghiệm và quy định về công nhận hợp chuẩn. Hiện có
rất nhiều các quy định và hệ thống tiêu chuẩn được áp dụng trên thế giới mà các nước cho
là phù hợp. Song lại có rất ít phòng thí nghiệm và tiêu chuẩn quốc tế mà các nước đều công
nhận hợp chuẩn. Do còn có sự khác biệt như vậy nên nó đã trở thành rào cản kĩ thuật trong
thương mại quốc tế. WTO đã phải thống nhất các nguyên tắc chung và được cam kết tại
hiệp định về hàng rào kĩ thuật trong thương mại nhưng cách thức mà các nước đang áp
dụng thường tạo sự phân biệt đối xử hay hạn chế vô lý đối với thương mại.
- Các biện pháp vệ sinh động, thực vật: Theo Hiệp định về các biện pháp kiểm dịch
động thực vật của WTO thì các biện pháp vệ sinh động, thực vật bao gồm tất cả luật, nghị
định, quy định, yêu cầu và thủ tục, kể cả các tiêu chí sản phẩm cuối cùng; các quá trình và
phương pháp sản xuất, thử nghiệm, thanh tra, chứng nhận và làm thủ tục chấp thuận; xử lý
kiểm dịch gắn với việc vận chuyển động vật hay thực vật, hay gắn với các nguyên liệu cần
thiết cho sự tồn tại của chúng trong khi vận chuyển; thủ tục lấy mẫu và đánh giá nguy cơ…
Vì định nghĩa của WTO rất chung chung nên các nước công nghiệp phát triển thường đưa
ra các mức quá cao khiến cho hàng hóa của các nước đang phát triển khó thâm nhập. Đây là
một trong những rào cản phổ biến nhất hiện nay và mức độ của nó ngày càng tinh vi.
- Các quy định về thương mại dịch vụ: Như quy định về lập công ty, chi nhánh và văn
phòng của nước ngoài tại nước sở tại, quy định về xây dựng và phát triển hệ thống phân
phối hàng hóa, quy định về quyền được tiếp cận các dịch vụ công một cách bình đẳng, quy
định về thanh toán và kiểm soát ngoại tệ, quy định về quảng cáo và xúc tiến thương mại…
đều trở thành các rào cản trong thương mại quốc tế nếu các quy định này không minh bạch
và có sự phân biệt đối xử.

Trên thế giới có nhiều nền văn hóa khác nhau, với ngôn ngữ chữ viết khác nhau, để hiểu rõ và
đáp ứng yêu cầu này phải tiêu tốn nhiều thời gian, thể thức và phải trả giá không rẻ thì mới có
thể vượt qua.
- Các rào cản địa phương: Ở một số nước, luật lệ của chính phủ trung ương cũng có
sự khác biệt so với các quy định mang tính địa phương. Ví dụ như quy định về xuất nhập
khẩu tiểu ngạch, quy định về phân luồng đường cho các phương tiện vận chuyển hành hóa,
quy định về khoản phí và phụ phí… Đây là những rào cản địa phương mà thực tế đã gặp
phải.

II. Tổng quan về sự hình thành và sử dụng rào cản phi thuế quan trong chính
sách thương mại quốc tế
1. Vị trí vai trò của rào cản phi thuế quan trong chính sách thương mại quốc tế
Rào cản trong thương mại quốc tế là công cụ bảo hộ phổ biến được chính phủ các
nước sử dụng để nâng đỡ các doanh nghiệp nội địa gặp khó khăn. Đặc biệt là các doanh
nghiệp ảnh hưởng đến nền kinh tế quốc dân hoặc các doanh nghiệp tập trung nguồn nhân
lực và tài chính lớn. Thực tế rõ ràng nhất có thể nhận thấy ở các nước đang phát triển như ở
các nước châu Mĩ Latinh, các nước Đông Nam Á, nơi có số lượng lớn các doanh nghiệp
nhà nước. Hầu hết các doanh nghiệp nhà nước ở các quốc gia này đều là các doanh nghiệp
gặp khó khăn trong vấn đề cạnh tranh trên thị trường nội địa cũng như quốc tế mà nguyên
nhân sâu xa có thể là thiếu vốn, hạn chế trong vấn đề đào tạo nhân lực, thậm chí là yếu kém
trong khâu quản lí… Mặc dù vậy việc giải thể các doanh nghiệp này là vấn đề rất nan giải
bởi hầu hết các doanh nghiệp này thu hút một lượng lao động lớn hoặc được đầu tư bằng
những nguồn tài chính không nhỏ. Hậu quả của việc giải thể có thể là những cú sốc lớn về
kinh tế và chính trị. Hơn nữa, chính phủ vẫn còn đặt niềm tin vào khả năng biến chuyển
tình thế của đội ngũ lãnh đạo. Hoặc đây là những doanh nghiệp hoạt động trong những lĩnh
vực được ưu tiên phát triển theo chiến lược lâu dài. Xuất phát từ nguyên nhân này, bảo hộ
còn giúp các quốc gia trên thế giới duy trì việc làm cho những nhóm, tổ chức nhất định và

các quốc gia cũng không có quy định chính thức dưới tên gọi rào cản hoặc một hệ thống
pháp luật riêng mà nó nằm trong nhiều hệ thống pháp luật khác nhau.

2. Sự hình thành của rào cản phi thuế quan
Sự hình thành rào cản phi thuế quan trong thương mại quốc tế nói chung và trong
thương mại nói riêng đều được hình thành liên quan tới lợi ích của một nhóm người nhất
định và nhóm người này có khả năng tác động tới chính sách của Nhà nước. Xét trên khía
cạnh này nó có thể xuất phát từ một trong ba chủ thể sau :
- Từ phía doanh nghiệp:
Điều đầu tiên là hầu hết các doanh nghiệp của bất kì một ngành sản xuất kinh doanh
nào cũng muốn được bảo hộ. Một mặt để tránh với sự cạnh tranh của nước ngoài. Mặt khác,
rào cản thương mại của nhà nước còn giúp cho họ có thêm vị trí trên thị trường và có khả
năng thu được lợi nhuận cao hơn, để tạo ra áp lực tác động tới các chính sách của chính
phủ, các doanh nghiệp sẽ tập hợp lại dưới danh nghĩa: Hiệp hội ngành nghề để tiến hành
vận động hành lang đối với chính phủ. Sự tác động của các doanh nghiệp là hết sức mạnh
mẽ và có tổ chức với rất nhiều hình thức khác nhau. Các doanh nghiệp sẽ đưa ra các lý do
có vẻ như rất chính đáng như: ngành công nghiệp non trẻ cần bảo hộ, ngành sản xuất liên
quan đến việc làm của nhiều người lao động, ngành xản xuất liên quan đến an ninh quốc gia
(an ninh về lương thực). Như vậy dưới sự tác động của các doanh nghiệp, chính phủ có thể
sẽ phải đưa ra các rào cản thuế quan hoặc phi thuế quan để bảo hộ sản xuất trong nước.
- Từ phía người lao động và người tiêu dùng:
Đây là một lý do khác dẫn tới việc hình thành rào cản. Trước hết là để bảo vệ cho
người lao động (thuộc ngành được bảo hộ) có công ăn việc làm, sau đó là để bảo hộ họ có
thu nhập ổn định. Người lao động tác động tới chính phủ thông qua các nghiệp đoàn để đấu
tranh, cũng có khi họ mượn cớ rằng để bênh vực người lao động nước khác phải làm việc
trong điều kiện không được dảm bảo, rằng vì lý do sử dụng lao động trẻ em hay tù nhân nên
sản phẩm đưa vào thị trường với giá rẻ. Đây là lý do chính phủ phải dựng nên rào cản với

kinh tế để đạt được mục tiêu về chính trị. Họ có thể cấm vận toàn diện hoặc cấm vận từng
phần đối với hoạt động thương mại quốc tế của nước khác, ngược lại họ cũng có thể dành
các ưu đãi đặc biệt cho một quốc gia nào đó vì mục đích chính trị. Thể hiện rõ nhất là Mỹ
dành cho Isarel chế độ thuế suất bằng 0 đối với hàng nông sản và nhiều hàng hóa của Isarel
kể từ năm 1985. Xuất phát từ động cơ chính trị thì các biện pháp mạnh thường được sử
dụng như cấm vận, cấm nhập khẩu hoặc xuất khẩu một loại hàng hóa nào đó hoặc áp dụng
mức thuế và riêng biệt rất cao.
Nguyên tắc dành cho sự ưu đãi cho những nước kém phát triển và đang phát triển cũng
được các quốc gia áp dụng khác nhau. Thực tiễn là chính phủ các quốc gia lớn trên thể giới
có thể đưa ra các ưu đãi thương mại để giành ảnh hưởng tới các quốc gia nhỏ. Ví dụ như
Nhật Bản có ảnh hưởng lớn ở Châu Á, chiếm một phần lớn nhập và xuất khẩu ở nhiều nước
Châu Á và cho khu vực này vay một lượng tiền để giúp các nước này khôi phục kinh tế sau
cuộc khủng hoảng vừa qua. Không nghi ngờ gì việc chính phủ Nhật trông đợi tạo ra một
triển vọng tốt đối với các nước láng giềng, qua các hành động như vậy. Tương tự, Hoa Kì
đã đi những bước đi dài để giành và duy trì kiểm soát các sự kiện ở Trung, Bắc và Nam
Mỹ. Đây là lý do tại sao tự do thương mại ở Châu Mỹ được sự ủng hộ mạnh mẽ từ Hoa Kì
nhằm đẩy mạnh ảnh hưởng đến chính trị nội bộ cũng là lý do quan trọng vì sao Hoa Kì cứ
tiếp tục cấm vận Cu Ba và dỡ bỏ cấm vận một số nước khác ở Ảrập một cách nhanh chóng.
- Bảo vệ việc làm:
Để ổn định tình hình xã hội đặc biệt là nhằm mục tiêu giảm tỷ lệ thất nghiệp và tạo
việc làm cho người lao động trong nước, chính phủ đã sử dụng các biện pháp khác nhau để
hạn chế nhập khẩu, thậm chí cả hạn chế nhập khẩu lao động. Nói chung, để bảo vệ việc làm
cho người lao động trong nước, các biện pháp được sự dụng có thể là thuế quan nhập khẩu
rất cao, hạn ngạch bên cạnh đó là thuế thời vụ, thuế chống trợ cấp, thuế chống bán phá giá.
Ngoài ra có thể sử dụng các biện pháp nội địa như trợ cấp, áp dụng quy định thu mua ở địa
phương, nếu thấy chưa đủ, chính phủ còn có thể áp dụng các quy định về tiêu chuẩn trách
nhiệm xã hội theo SA8000.

- Đáp lại các hành động thương mại không bình đằng:
Hầu hết mọi người đều cho rằng sẽ chẳng có ý nghĩa gì đối với một quốc gia cho phép
tự do thương mại nếu các quốc gia khác bảo vệ một cách tích cực ngành công nghiệp của
chính họ. Các chính phủ thường đe dọa đóng cửa cảng đối với các tàu thuyền của các quốc
gia khác hoặc áp đặt mức thuế rất cao đối với hàng hóa của các quốc gia này nếu họ có
những bằng chứng thể hiện các hoạt động thương mại không bình đẳng. Nói cách khác, nếu
một chính phủ cho rằng một quốc gia khác là “đang chơi không bình đẳng” họ sẽ đe dọa
“trả đũa” trừ khi đạt được những nhân nhượng nhất định.
- An ninh quốc gia:
Vấn đề an ninh quốc gia luôn đòi hỏi phải sử dụng các biện pháp cấm nhập khẩu đối
với một số hàng hóa liên quan như: Vũ khí, chất nổ (các hàng hóa liên quan đến quốc
phòng). Ngành công nghiệp, máy móc thiết bị chuyên dùng cho in tiền, cho thu và phát các
tín hiệu vệ tinh và một số ngành sản xuất khác cũng phải sử dụng các biện pháp kiểm soát
rất nghiêm ngặt.
- Để bảo vệ môi trường:
Hiện nay môi trường là một vấn đề được tất cả các quốc gia trên thế giới quan tâm.
Tuy rằng mức độ quan tâm và biện pháp được đưa ra để bảo vệ môi trường cũng có sự khác
nhau. Chớnh vỡ vy m cỏc quy nh v mụi trng cng cú th tr thnh ro cn thng
mi quc t, ngi ta chia thnh ba nhúm bin phỏp sau :
(i) Cỏc quy nh v bờn ngoi lónh th biờn gii. Vớ d, quy nh cm nhp khu tụm
v cỏ chớch c ỏnh bng li quột ngn nga nguy c lm tuyt chng rựa bin.
(ii) Cỏc quy nh liờn quan trc tip ti mụi trng, nh quy nh v bao bỡ v ph
thi bao bỡ, quy nh v tiờu chun tu bin c cp cng, quy nh v nhón hiu cho thc
phm cú ngun gc hu c
(iii) Cỏc quy nh cú liờn quan giỏn tip n mụi trng nhng liờn quan trc tip
n v sinh an ton thc phm nh quy nh v hm lng thuc bo v thc vt ti a cú
trong sn phm nụng nghip, quy nh v kim tra thỳ y i vi tht gia sỳc gia cm v thy

Hạn ngạch nhập khẩu đ-ợc chia làm hai loại:
- Hạn ngạch thuế quan (tarriff-rate quota): Quy định số l-ợng của một mặt hàng nào đó
đ-ợc nhập vào với mức thuế giảm trong một thời gian nhất định. Trong đa số các tr-ờng hợp thì
các hàng hóa xuất khẩu của khối các n-ớc XHCN (tr-ớc đây) không đ-ợc h-ởng -u đãi của hạn
ngạch theo mức thuế.
- Hạn ngạch tuyệt đối (absolute quota): Đây là loại hạn ngạch giới hạn về số l-ợng. Một số
quota là áp dụng chung còn một số thì chỉ áp dụng riêng đối với một số n-ớc. Các mặt hàng
chịu hạn ngạch tuyệt đối nh-: thức ăn gia súc, có thành phần hoặc các sản phẩm sữa, bơ pha
trộn, sữa khô, thịt từ Australia và New Zealand Mức thuế hạn ngạch th-ờng đ-ợc tính trên số
l-ợng hàng hóa đ-ợc nhập từ đầu kỳ áp dụng hạn ngạch cho đến khi ng-ời ta thấy là l-ợng hàng
nhập đã chiếm gần hết hạn ngạch.
1.2. Các quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật và vệ sinh dịch tễ
- Các quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật: Các quy định này nhằm mục đích an toàn
hoặc sức khoẻ đối với những sản phẩm nhập khẩu với số l-ợng lớn. Những sản phẩm này bao
gồm: thực phẩm, đồ uống, thuốc lá, mỹ phẩm, thuốc Nhà sản xuất nhất thiết phải chịu trách
nhiệm đối với việc đáp ứng các yêu cầu khi đ-a sản phẩm ra thị tr-ờng. Các cơ quan chức năng
sẽ tiến hành những biện pháp c-ỡng bức nếu những quy định trên bị vi phạm.
- Các quy định về vệ sinh dịch tễ: Hoa Kỳ đã gửi lên WTO nhiều thông báo nhất, với
hơn 500 thông báo và phụ lục tính đến hết ngày 4/5/2001, thông báo một quá trình tất cả
những thay đổi đặt ra đối với các tiêu chuẩn vệ sinh dịch tễ trong n-ớc. ở Hoa Kỳ có bốn cơ
quan khác nhau phụ trách các vấn đề liên quan đến vệ sinh dịch tễ là: Cơ quan phụ trách thực
phẩm và thuốc (FDA); Cục kiểm định an toàn thực phẩm (FSIS) của Bộ Nông nghiệp; Cơ
quan bảo vệ môi tr-ờng (EPA); Cục kiểm định y tế động thực vật (APHIS).
1.3. Các quy định về môi tr-ờng liên quan tới th-ơng mại
Luật pháp Hoa Kỳ cho phép thi hành các quy định về môi tr-ờng có liên quan đến nhập
khẩu theo các quy chế khác nhau. Đặc biệt các điều khoản môi tr-ờng trong quản lý việc sử
dụng các nguồn tài nguyên biển trong rất nhiều tr-ờng hợp đã đ-ợc thi hành thông qua các biện

Với lộ trình đã được xác định, Trung Quốc đã xây dựng hàng loạt các biện pháp và
chính sách phi thuế quan sau :
2.1. Quyền kinh doanh xuất nhập khẩu
Trước khi tiến hành mở cửa, chính phủ kiểm soát tất cả các hoạt động ngoại thương.
Đầu những năm 80, chỉ có các công ty được chỉ định mới có quyền tiến hành các hoạt động
ngoại thương. Từ ngày 1/1/1999, Trung Quốc cho phép các công ty quy mô lớn hơn thực
hiện theo hệ thống: “Đăng ký kinh doanh xuất nhập khẩu”.
Đến ngày 11/12/2001, Trung Quốc vẫn quy định 5 nhóm mặt hàng: Cao su thiên
nhiên, gỗ dán, lông cừu, sợi dệt chứa hợp chất hữu cơ và thép. Ngoài ra còn có 16 mặt hàng
nhập khẩu do doanh nghiệp chỉ định làm đầu mối (dầu thô, xăng dầu, than đá, gạo, ngô,
bông, tơ tằm và một số loại quặng).
2.2. Hạn ngạch và giấy phép nhập khẩu
Trong vài năm trước đây, biện pháp phi thuế quan ngày càng dần, và trở nên chuẩn
tắc ở Trung Quốc. Những mặt hàng phải xin phép nhập khẩu giảm từ 53 loại 1992 xuống
còn 12 loại năm 2004. Những mặt hàng phải xin phép xuất khẩu cũng giảm từ 138 loại năm
1992 xuống 54 loại năm 2002. Hàng hóa thuộc hạn ngạch nhập khẩu giảm từ 44 mặt hàng
năm 1994 xuống còn 14 loại mặt hàng năm 2002.
Hàng hóa thực hiện quản lý giấy phép hạn ngạch nhập khẩu gồm: ô tô và linh kiện ô
tô, hàng hóa thực hiện quản lý giấy phép nhập khẩu gồm: thiết bị sản xuất đĩa CD, VCD,
hóa chất do cơ quan Nhà nước quản lý, hóa chất dễ gây độc và vật chất gây tổn hại tầng
ôzôn.
2.3. Định giá hải quan
Ở Trung quốc, nguyên tắc cơ bản của viện định giá hải quan là ưu tiên áp dụng giá
giao dịch thực tế ghi trên hợp đồng xuất nhập khẩu và tiến hành điều chỉnh trên giá giao
dịch ấy, sau đó giá giao dịch sẽ được áp dụng để tính thiếu. Nếu cơ quan hải quan không
thể xác định được giá giao dịch thì có thể áp dụng giá thay thế.
2.4. Các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại

nghiệm, kiểm dịch:
(i) Lương thực, dầu ăn, thực phẩm, đồ chơi, mỹ phẩm, đồ điện.
(ii) Những mặt hàng được xếp vào quản lý giấy phép an toàn chất lượng nhập khẩu.
(iii) Hàng dễ chế biến hoặc hàng hóa rời.
(iv) Hàng mà hợp đồng quy định tỷ lệ, thành phần, hàm lượng trong giấy chứng nhận
hàng hóa cấp.
(v) Đồ đựng, đóng gói hàng nguy hiểm trong xuất nhập khẩu.
- Quy định về cấp giấy phép an toàn chất lượng hàng nhập khẩu:
(i) Hàng liên quan đến vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường, bảo vệ lao
động.
(ii) Hàng nhập khẩu nằm trong danh mục bắt buộc phải có giấy phép.
(iii) Hàng chỉ được cấp giấy phép an toàn chất lượng khi đạt các yêu cầu phù hợp với
pháp luật và quy định tiêu chuẩn của Trung Quốc.
- Các quy định về vệ sinh y tế tại cảng, cửa khẩu Trung quốc.
Đối tượng kiểm dịch vệ sinh y tế gồm: Các phương tiện giao thông, khách xuất nhập
cảng nhằm phát hiện và xử lí vệ sinh với người và phương tiện đến từ vùng dịch bệnh
truyền nhiễm, phát hiện động vật, côn trùng mang bệnh liên quan đến sức khoẻ con người.
Nhìn chung, Trung Quốc là một nước có nhiều rào cản thương mại rất tinh vi để phục
vụ cho lợi ích của nhà sản xuất trong nước và bảo vệ thị trường nội địa khỏi sự cạnh tranh
của nước ngoài. Tuy nhiên, Trung Quốc cũng là nước bị các nước phát triển áp dụng nhiều
biện pháp mang tính rào cản nhất, đặc biệt là trong thời gian Trung Quốc chưa gia nhập
WTO. Để tạo gia thế chủ động và hạn chế các phán quyết thiếu công bằng Trung Quốc đã
đề ra 10 đối sách như sau.
(1) Chủ động kháng kiện để giành quyền lợi hợp pháp cho mình:
Theo quy định của WTO, trong việc giải quyết bán phá giá, các doanh nghiệp bị khởi
kiện có thể chủ động khởi kiện và phải tập hợp sức mạnh thông qua hiệp hội. Một ví dụ
điểm hình là Trung Quốc đã rất thành công trong vụ kiện bán phá giá nước táo cô đặc.
(2) Thành lập cơ quan chuyên trách hầu kiện
Thờm vo ú, cỏc bang ca Hoa K cng cú nhng tiờu chun mụi trng v tiờu
chun v an ton sn phm cht ch hn nhiu so vi tiờu chun quc gia v quc t.
EU đ-ợc coi nh- một đại quốc gia ở Châu Âu. Bởi vậy, chính sách th-ơng mại chung
của EU cũng giống chính sách th-ơng mại của một quốc gia.
- Chính sách th-ơng mại nội khối: Tập chung vào việc xây dựng và vận hành thị
tr-ờng chung Châu Âu nhằm xóa bỏ việc kiểm soát biên giới lãnh thổ quốc gia, biên giới hải
quan.
- Chính sách ngoại th-ơng: EU đang thực hiện ch-ơng trình mở rộng hàng hoá, đẩy
mạnh tự do hóa th-ơng mại. Hiện nay, các thành viên EU cùng áp dụng một biểu thuế quan
chung đối với các hàng hóa nhập khẩu. Đối với hàng nhập khẩu vào khối, mức thuế trung
bình đánh vào hàng nông sản là 18%, còn hàng công nghiệp chỉ là 2%.
Kinh nghim cho thy, i phú vi cỏc ro cn trong thng mi ca Hoa K, EU
thng l ỏp dng cỏc bin phỏp da tr a hoc la chn cỏc mt hng m Hoa K xut khu
sang EU sn sng tr a li. ng thi EU cng a ra hng lot cỏc ro cn thu quan v
phi thu quan thc hin. Mt khỏc, EU luụn sn sng m phỏn v nu cn thit thỡ khi kin
v tuõn th quỏ trỡnh gii quyt tranh chp theo cỏc quy nh ca WTO. S d EU cú th lm
c nh vy vỡ EU l mt th trng ln ca Hoa K v cú sc mnh v kinh t cng nh tim
lc v khoa hc cụng ngh sn sng tr a khi Hoa K dng lờn cỏc ro cn thng mi vi
EU. Tuy cú s khỏc bit khỏ ln gia EU v Vit Nam song nhng bi hc kinh nghim m
chỳng ta cú th hc c l phi ch ng i phú vi cỏc ro cn thng mi quc t, tham
kho cỏc quy nh ca EU v hng ro k thut xõy dng cỏc tiờu chun k thut nhm bo v
quyn li ngi tiờu dựng v bo v mụi trng sinh thỏi.
4. Bi hc kinh nghim i vi Vit Nam
Sau khi nghiờm cu kinh nghim ca mt s quc gia bi hc cho thc tin Vit Nam
cú th rỳt ra nh sau:
Mt l, phi cú cỏc quy nh rừ rng v c th trong h thng phỏp lut trong nc
buc cỏc doanh nghip phi thc hin.

Trong 5 năm vừa qua, quy mô xuất khẩu liên tục tăng và tốc độ tăng tr-ởng cũng
ngày càng tăng. Nếu nh- trong 2 năm đầu (2001, 2002) tốc độ tăng tr-ởng không đạt mức
kế hoạch đặt ra trong chiến l-ợc phát triển xuất nhập khẩu (16%/năm cho thời kì 2001-
2005) thì đến năm 2003, năm 2004 tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu là 23,3% và 28,3%
và năm 2005 mức tăng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 15,4% đạt giá trị 30 tỷ USD.
Bảng 3.1 : Kim ngạch xuất nhập
khẩu giai đoạn 2001 - 2005
Đơn vị : Triệu USD
Năm Tổng kim ngạch Xuất khẩu Nhập khẩu Cán cân
th-ơng mại
Trị
giá
Tốc độ
(%)
Trị
giá
Tốc độ
(%)
Trị
giá
Tốc độ
(%)
Trị giá Tỷ lệ
XK/NK
(%)
2001 31.247 5,9 15.029 5,1 16.218 6,7 -1.189 92,7
2002 36.438 16,6 16.705 11,1 19.733 21,7 -3.207 84,7
2003 44.815 23,3 20.706 21,0 24.945 26,4 -5.075 79,7
2004 57.526 28,3 26.003 28,9 31.523 22,9 -5.520 19,14
2005 66.502 15,4 30.502 17,3 36.000 14,0 -549,8 18,00


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status