LUẬN VĂN:
Đảng với sự kết hợp nhân tố dân tộc
và quốc tế trong cách mạng Việt Nam
thời kỳ đổi mới Phần mở đầu
I- tính cấp thiết cửa đề tài
Khát vọng về cuộc sống hoà bình, ấm no, hạnh phúc là khát vọng của mỗi
con người. Đối với mỗi quốc gia trên thế giới để có được một xã hội tiến bộ, một
cuộc sống hài hoà, một nền kinh tế phát triển thì vấn đề kết hợp sức mạnh dân tộc
và sức mạnh thời đại phải được quan tâm đặt lên vị trí hàng đầu trong chính sách
đối ngoại. Với chiều dài lịch sử hàng trăm năm nay thì sự kết hợp sức mạnh dân tộc
với sức mạnh thời đại vẫn là một vấn đề mang tính chiến lược trong sự tồn tại và
phát triển của tất cả các nước. Đối với các nước đang phát triển thì vấn đề kết hợp
sức mạnh dân tộc và thời đại là một vấn đề không mới, trong kháng chiến giành độc
Nhìn nhận sự kết hợp nhân tố dân tộc và quốc tế của nước ta trong những năm qua
như thế nào? nó có vai trò như thế nào trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá
đất nước. Quan điểm, nội dung cụ thể, giải pháp bước đi của đảng ta trong sự kết
hợp nhân tố dân tộc và quốc tế ra sao? đó là những vấn đề có ý nghĩa quan trọng,
thu hút sự chú ý quan tâm của nhiều người. Với lý do đó tôi chọn đề tài: "Đảng với
sự kết hợp nhân tố dân tộc và quốc tế trong cách mạng Việt Nam thời kỳ đổi
mới"
II- Mục đích, nhiệm vụ của đề tài.
Với mục đích làm rõ quan điểm, chủ trương của Đảng và sự kết hợp nhân tố
dân tộc và quốc tế trong cách mạng Việt Nam thời kỳ đôỉ mới, nhiệm vụ đặt ra là
phải xác định cơ sở lý luận và thực tiễn của dề tài. Trên cơ sở nghiên cứu, khảo sát
chi tiết, cụ thể những chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng trong sự kết hợp
nhân tố dân tộc và quốc tế của đất nước, đề tài sẽ làm rõ sự cần thiết phải có sự kết
hợp hai nhân tố dân tộc và quốc tế, đó là vấn đề khách quan trong quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nói riêng và trong sự nghiệp xây dựng đất nước
nói chung. Trên cơ sở đó đề tài sẽ làm rõ được quan điểm, nội dung, bước đi của sự
kết hợp sức mạnh dân tộc và thời đại thông qua các kỳ Đại hội, bắt đầu từ Đại hội
VI cho đến nay.
iii- tình hình nghiên cứu.
Đây là một đề tài rất rộng lớn về nội dung, phạm vi góc độ. Từ trước đến nay
đã có rất nhiều người nghiên cứu về vấn đề kết hợp nhân tố dân tộc và quốc tế của
Đảng. Song chủ yếu là nghiên cứu trong phạm vi : Đảng với sự kết hợp nhân tố dân
tộc và quốc tế trong suốt cả thời kỳ trước và sau đổi mới,chủ trương chính sách đối
ngoại nói chung của Đảngvà Nhà nước trước và sau đổi mới Một số đề tài còn
nghiên cứu từng góc độ của sự kết hợp dân tộc và quốc tế như : Sẵn sàng là bạn chủ
động hội nhập, Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế
giới Ngoài ra còn một số bài báo được đăng trên các tạp chí như : Nắm chắc thời
kết hợp nhân tố dân tộc và quốc tế của Đảng ta trong sự phát triển của xu thế thế
giới hiện đại.
VI- ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài.
Về mặt lý luận đề tài nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí
Minh về mối quan hệ gắn bó giữa đoàn kết dân tộcvà đoàn kết quốc tế. Thực chất
đề tài nghiên cứu sự áp dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác -Lê Nin và tư tưởng
Hồ Chí Minh vào hoàn cảnh cụ thể của đất nước của Đảng trong sự nghiệp đổi mới.
Vì vậy nghiên cứu đề tài sẽ giúp người viết bước đầu làm quen với việc đọc và tìm
hiểu tài liệu, rèn luyện tư duy khoa học. Qua nghiên cứu đề tài sẽ thấy được sự đúng
đắn khoa học của chủ nghĩa Mác -Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, từ đó người
đọc sẽ giữ vững quan điểm và lập trường đúng đắn của học thuyết chủ nghĩa Mác-
Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Về mặt thực tiễn: đề tài khảo sát trên thực tế Đảng ta với sự kết hợp hai nhân
tố dân tộc và quốc tế trong cách mạng Việt Nam vào thời điểm từ năm 1986 đến
nay. Chính vì vậy qua đề tài người đọc sẽ thấy được sự phát trriển của đất nước qua
các số liệu đề tài thống kê, thấy được sự pháp triển hẳn về chất khi có sự kết hợp
hai nhân tố dân tộc và quốc tế trong thời kỳ mới. Đặc biệt qua đề tài chúng ta sẽ
thấy được quan điểm đúng đắn của Đảng ta về sự kết hợp nhân tố dân tộc và quốc tế
trong thời kỳ đổi mới, từ đó sẽ tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, tin vào chủ trương của Đảng có ý thức thực hiện nó. Đồng thời qua đề tài chúng ta sẽ tin tưởng
vững chắc vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của đất nước, tin tưởng vào một
xã hội tiến bộ trong tương lai.
giới qua nghiên cứu người đã đi đến khảng định : "Bây giờ học thuyết nhiều, chủ
nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là
chủ nghĩa Lê Nin."
Từ sự khảng định đó người đã tìm cách truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê Nin
vào cách mạng Việt Nam cũng từ đây cách mạng Việt Nam đã có đường lối và
bước đi đúng đắn.
Như vậy qua thực tiễn đất nước trong hiện tại cũng như trog quá khứ chúng
ta có thể thấy được sự đúng đắn của chủ nghĩa Mác- Lê Nin, thấy được vai trò tư
tưởng kim chỉ nam của học thuyết Mác- Lê Nin đối với cách mạng Việt Nam. Cần
thấy rằng Đảng ra đời, các cương lĩnh cách mạng, đường lối lãnh đạo của Đảng đều
là sự kết hợp lý luận Mác -Lê Nin với thực tiễn đất nước, là sự kết hợp tư tưởng
nhân văn truyền thống Việt Nam với chủ nghĩa Mác - Lê Nin trong quá trình đấu
tranh giải phóng dân tộc Việt Nam . Hồ chí Minh đã từng nói : "Đảng truyền bá lý
luận Mác -Lê Nin vào trong nhân dân ta, có lý luận soi đường thì quần chúng hành
động mới đúng đắn, mới phát triển được tài năng và lực lượng vô cùng vô tận của
mình ."[1, 12]
Như vậy nhờ có chủ nghĩa Mác -Lê Nin làm nền tảng tư tưởng , làm kim chỉ
nam , có cương lĩnh , đường lối và chính sách cách mạng đúng đắn, sáng tạo nên
Đảng Cộng sản Việt Nam đã trở thành đội tiên phong có tổ chức cao nhất của giai
cấp công nhân và nhân dân lao động. Từ đó trong quá trình lãnh đạo của mình, Đảng đã vận dụng chủ nghĩa Mác - Lê Nin vào cách mạng Việt Nam trong sự kết
hợp hai nhân tố dân tộc và quốc tế.
Chủ nghĩa Mác - Lê Nin cho rằng: cách mạng là sự nghiệp của đông đảo
quần chúng nhân dân được giác ngộ cách mạng chứ không phải của riêng một cá
nhân , một giai cấp hay một tầng lớp nào .Đông đảo quần chúng nhân dân được giác
ngộ cách mạng sẽ hợp lại thành một sức mạnh to lớn ,đấu tranh cho các mục tiêu
xác định theo đường lối đúng đắn của chính đảng vô sản. Ngược lại giai cấp vô sản
phải có nhiệm vụ tổ chức, đoàn kết các giai cấp ,các tầng lớp nhân dân được giác
giữ vai trò chủ đạo, quyết định với sự tồn tại , vận động và phát triển của sự vật.
Tuy nhiên mối liên hệ bên ngoài cũng có tính độc lập tương đối nó tác động trở lại
với mối liên hệ bên trong làm cho mối liên hệ bên trong vận động và phát triển.
Các sự vật hiện tượng trong thế giới luôn luôn vận động và biến đổi không
ngừng , nhưng chúng có mối liên hệ qua lại với nhau . Trong sự phát triển của mỗi
sự vật hiện tượng đều có mối quan hệ khăng khít giữa bên trong và bên ngoài cũng
như trong mọi cuộc cách mạng muốn giành thắng lợi thì phải biết kết hợp sức mạnh
trong nước với sức mạnh quốc tế. Chính tư tưởng biện chứng về mối liên hệ bên
trong và bên ngoài đã được Đảng ta vận dụng vào sách lược kết hợp sức mạnh dân
tộc với sức mạnh thời đại trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc và trong quá
trình đổi mới từ 1986 đến nay.
2- tư tuởng hồ chí mih.
Năm 1958 thực dân pháp nổ súng xâm lược nước ta. Sau khi pháp xâm lược
và đô hộ, xã hội Việt Nam chuyển sang biến nhanh chóng từ xã hội phong kiến trở
thành xã hội thuộc địa nửa phong kiến. Cũng từ đây xã hội Việt Nam lâm vào thời
kỳ đen tối; nhân dân bị cưỡng bức bóc lột, xã hội Việt Nam đeo trên mình ách gông
cùm mà chưa tìm được lối thoát. Nhân dân ta bị dồn tới chân tường tiếng khóc, kêu
than trong khắp thôn cùng ngõ hẻm. "Có áp bức thì có đấu tranh "hàng loạt các cuộc
đấu tranh đã diễn ra từ Bắc đến Nam nhưng máu vẫn đổ xuống mà dân tộc vẫn chìm
trong đêm tối. Lịch sử đã khảo nghiệm rất nhiều các cương lĩnh cứu nước khác nhau, nhưng đám mây đen vẫn bao phủ trên bầu trời Việt Nam, cách mạng Việt
Nam như người đi trong đêm tối không có ngọn đuốc soi đường chỉ lối.
Trước tình hình đó, vì vận mệnh của dân tộc Nguyễn ái Quốc đẫ ra đi tìm
đường cứu nước. Mặc cho sóng gió bôn ba, nguy hiểm vây quanh người vẫn khắc
phục và vượt qua để quyết tâm đi tìm con đường giải phóng cho dân tộc. Trải qua
thực tiễn cách mạng thế giới qua tìm tòi nghiên cứu đã tìm thấy "cẩm nang thần
kỳ"đó chính là lý luận chủ nghĩa Mác- Lê Nin về cách mạng giải phóng dân tộc , về
xã hội mới thì theo người: "sự giúp đỡ của các nước là quan trọng nhưng ta phải tự
lực cánh sinh."
Như vậy sự đoàn kết toàn dân, tinh thần tự lực tự cường nó là một vấn đề
chiến luợc , có ý nghĩa sống còn, lâu dai, nó quyết định sự hưng vọng, phồn thịnh
của đất nước, cũng như nó quyết định đến thành bại của cách mạng trong mọi thời
đại. Nhưng để thực hiện tốt chính sách đại đoàn kết thì theo người cần phải lấy dân
làm điểm tựa cho mọi chính sách, mọi chủ trương, mọi việc làm phải xuất phát từ
nguyện vọng của nhân dân. theo người: "Nước mà được độc lập nhưng dân không
có tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì."
Tư tưỏng lấy dân làm gốc là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong quá trình hoạt động
của người, tư tưởng đó nằm trong đức trí sáng tạo cao vời nằm trong khát vọng tột
bậc của người. Người nói: "cả đời tôi chỉ có một ham muốn, một ham muốn tột bậc
là làm sao nhân dân ta được no ấm, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng
được học hành." chính vì vậy theo người; nếu một nước nào một dân tộc nào làm tốt
được cho dân, được lòng dân thì chính sách đại đoàn kết dân tộc đó sẽ dễ thực hiện
hơn khi cần thiết.
2.2 Từ tư tưởng đại đoàn kết mà Hồ Chí Minh đã chỉ ra nguyên tắc kết hợp
chặt chẽ giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh quốc tế.
Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, trong các bước ngoặt phát triển của cách
mạng nước ta, Hồ Chí Minh luôn đứng trên tuyến đầu của mặt trận đối ngoại.
Người là trí tuệ lớn sáng tạo ra đường lối quốc tế, chính sách đối ngoại độc lập tự
chủ, tăng cường đoàn kết quốc tế của cách mạng nước ta. Hồ chí Minh là người mở
đường và kiến trúc sư xây dựng nền ngoại giao Việt Nam hiện đại về tư tưởng, chính sách, nghệ thuật về tổ chức, chỉ đạo triển khai trong hoạt động thực tiễn cách
mạng.
Trong quá trình tìm đường cứu nước, người đã sớm nhận thức được thời đại
và sức mạnh của thời đại. Vận dụng lý luận Mác -Lê Nin và thực tiễn cách mạng
trên thế giới người đã khảng định sức mạnh của thời đại là một nhân tố quyết định
mạng thế giới có liên hệ mật thiết với cách mạng An Nam” và "trong khi tuyên
truyền cái khẩu hiệu nước nam độc lập, phải đồng thời tuyên truyền và thực hành
liên lạc với bị áp bức dân tộc và vô sản giai cấp thế giới, nhất là vô sản giai cấp
Pháp." [5, 3]. đó chính là con đường cách mạng vô sản , là sự kết hợp độc lập dân
tộc với chủ nghĩa xã hội , cụ thể là sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời
đại theo phương châm thế giới đoàn kết vì hoà bình, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Lê Nin đã chỉ ra rằng:'Chỉ có dựa trên cơ sở hiểu biết những đặc điểm của
thời đại, chúng ta mới có thể tính đến những đặc điểm, chi tiết của nước này hay
nước nọ và định ra phương hướng hoạt động."ở đây sự kết hợp sức mạnh dân tộc
với sức mạnh thời đại là một tư tưởng nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh.
Chính tư tưởng về sự kết hợp hai nhân tố dân tộc và quốc tế đã làm nên sức mạnh
để giải phóng nưóc nhà vào năm 1945 và mùa xuân năm 1975, đất nước thống nhất
cùng nhau đi lên Chủ nghĩa xã hội: "chính vì đã biết kết hợp phong trào cách mạng
nước ta với phong trào cách mạng của giai cấp công nhân quốc tế và các dân tộc bị
áp bức mà Đảng ta đã vượt qua được mọi khó khăn đưa giai cấp công nhân và nhân
dân ta đến những thắng lợi vẻ vang như ngày nay." [6, 19].
Tư tưởng hồ chí Minh không chỉ có ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp giải
phóng đất nước ta mà còn có ý nghĩa to lớn đại nghiệp hoà bình thế giới. Như
Amet:Giám đốc UNESCÔkhu vực Châu á - Thái Bình Dương nhận xét:' Người sẽ
được ghi nhớ không phải chỉ là người cho tổ quốc và nhân dân đi đô hộ, mà còn là
một hiền triết hiện đại đã mang lại một viễn cảnh và hi vọng mới cho những người
đang đấu tranh không khoan nhượng để loại bỏ bất công, bất bình đẳng khỏi trái đất
này. " [7, 37]. Trong nghị quyết của UNESCÔ về tổ chức kỷ niệm 100 năm ngày
sinh của chủ tịch Hồ Chí Minh, khẳng định: "Những tư tưởng của người là hiện
thân của những khát vọng, của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc
mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiêủ biết lẫn nhau". Tiến sĩ Triết học Liên
Xô V. G Burop khẳng định: "Cần nhấn mạnh rằng Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - LêNin, không phải như đến với một hiện tượng của nước Nga thuần tuý, mà
kẻ thù, điều đó được thể hiện trong các cương lĩnh của đảng.
Trong cương lĩnh của Đảng năm 1930 xác định:" Đảng là đội tiên phong của
vô sản giai cấp, phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình Đảng phải thu
phục cho được đại bộ phận dân cày và phải dựa vào hạng dân cày nghèo làm thổ địa
cách mạng Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, thanh
niên, tân việt để kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp." [10, 69].Để thực hiện chính
sách đó Đảng ta luôn luôn phấn đấu vì hoà bình, tự do, vì tiến bộ xã hội,luôn luôn
kiên định lập trường của giai cấp công nhân:"không bao giờ Đảng lại hy sinh quyền
lợi của giai cấp công nhân và nông dân cho một giai cấp nào khác." Tất cả mọi
đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước đều dựa trên lợi ích, nhu cầu nguyện
vọng của quần chúng nhân dân lao động.
Từ chiến lược phát huy đoàn kết toàn dân, Đảng ta đã đề ra nhiệm vụ của
toàn thể dân tộc phải đoàn kết với quốc tế. Cũng như chủ tịch Hồ Chí Minh Đảng
xác định cách mạng Việt Nam nằm trong phạm trù của cách mạng vô sản thế giới.
Trong chính cương vắn tắt Đảng xác định : "chủ trương làm tư sản dân quyền cách
mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản." [12,67] và thực hành liên lạc
với bị áp bức dân tộc và vô sản giai cấp thế giới, nhất là giai cấp vô sản pháp." [12,
70].Đến luận cương chính trị đảng xác định:" vô sản Đông Dương phải liên lạc mật
thiết với vô sản thế giới, nhất là vô sản pháp để làm mặt trận vô sản "mẫu quốc" và
thuộc địa cho sức tranh đấu cách mạng được mạnh lên." [13, 89] .
Như vậy ngay từ những ngày đầu nhờ có chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư
tưởng Hồ Chí Minh, mà Đảng ta sớm nhận thấy được sức mạnh to lớn của sức
mạnh của sự kết hợp nhân tố dân tộc và thời đại; Đảng ta đã thấy được sự cần thiết
phải kết hợp nhân tố dân tộc và thời đại trong cách mạng Việt Nam. Đây là là quan
điểm đúng đắn, quan trọng để Đảng đề ra đường lối chỉ đạo đúng đắn trong các
cuộc đấu tranh cách mạng, cũng chính nhờ đường lối kết hợp sức mạnh dân tộc và
sức mạnh thời đại đã làm cho Đảng khẳng định được vị trí lãnh đạo duy nhất của
mình. Vì vậy Đảng với sự kết hợp nhân tố dân tộc và quốc tế ngay từ khi mới thành
lập, đã đóng một vai trò quyết định vào sự thành công của cách mạng tháng 8. 1945.
thế yếu thành thế mạnh, đã thắng ba kẻ địch, đã đưa cách mạng đến thắng lợi , độc
lập , đến thành công." [17,80]
Sau cách mạng tháng 8 thành công nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời.
Thực dân Pháp quay trở lại hòng cướp nước ta một lần nữa. Thời kỳ này cách mạng
Việt Nam đã có sự ủng hộ của quốc tế nhưng chưa nhiều. Vì vậy Đảng và Bác Hồ
vẫn tiến hành xây dựng sức mạnh cáh mạng theo phuơng châm dựa vào thực lực là
chính ,theo Bác Hồ: "nếu tự mình không có thực lực làm cơ sở thì thì không thể nói
gì đến ngoại giao ." theo Đảng "muốn ngoại giao được thắng lợi phải biểu dương
thực lực ."[18,32]
Như vậy thời kỳ ban đầu khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời thì tự
lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính là một điều kiện tiên quyết , quyết định sự
sống còn của cách mạng :"tổng phản công của ta sẽ là một giai đoạn lâu dài , rồi đây
sẽ có sự chi viện của Liên Xô và Trung Quốc về vật chất vũ khí , trang bị , ta sẽ
đỡ khó khăn hơn, nhưng giành được thắng lợi phải do sự nỗ lực của chính bản thân
ta quyết định ." [19, 82]. Lúc này theo đại tướng Võ Nguyên Giáp :"Vô luận cuộc
kháng chiến Triều Tiên sẽ phát triển như thế nào , kết quả như thế nào chúng ta vẫn
phải ra sức chuẩn bị lực lượng của ta cho đầy đủ, lấy tự lực cánh sinh làm gốc, để
ứng phó với mọi phát triển của tình hình, dù tình hình ấy thuận lợi hay gay go ta
vẫn chủ động" [20;414]
Dưới sự chỉ đạo đó nhân dân ta đã đoàn kết chiến đấu theo tinh thần : mỗi
người dân là một chiến sĩ, mỗi làng mỗi khu phố là một pháo đài, ai có súng dùng
súng, ai có gươm dùng gươm, không có guơm không có súng thì dùng gậy gộc,
cuốc, xẻng toàn thể đồng bào hãy đứng dậy không phân biệt già trẻ gái trai, tôn
giáo, đảng phái, hễ là người Việt Nam hãy đứng dậy cầm vũ khí để cứu nước. Một
lần nữa ý chí quật cường với lòng tự tôn dân tộc lại vùng dậy tạo nên sức mạnh để
chiến thắng quân thù .
Cùng với tự lực tự cường thì Đảng đã sử dụng chính sách ngoại giao mềm
dẻo, theo Hồ Chí Minh: "phải giữ nguyên tắc cứng rắn với sách lược , lạt tuy mềm
tiến bộ trên thế giới." [22; 428]
2.2 thời kỳ kháng chiến chống mỹ. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ thắng lợi, miền Bắc hoàn toàn giải phóng,
miền Nam bị đế quốc Mỹ xâm chiếm. Đế quốc Mĩ dựng lên ở miền Nam chế độ
ngụy quyền sài gòn, độc lập giả hiệu. Nhân dân ta phải bước sang cuộc kháng chiến
chống Mĩ cứu nước, nhưng không phải vì thế mà sự kết hợp sức mạnh và quốc tế lại
không được Đảng ta vận dụng , trái lại nó còn tầm quan trọng hơn lúc nào hết :"
Dân tộc Việt Nam phải vạch rõ những phương pháp và những biện pháp riêng của
mình trong cuộc đấu tranh chống những âm mưu của bọn đế quốc Mĩ và chính
quyền miền Nam Việt Nam hòng vĩnh viễn chia cắt đất nước chúng tôi, và cả trong
cuộc đấu tranh để dần dần quá độ lên Chủ nghĩa xã hội , điều đó thật rõ ràng không
thể nào hạn chế những hoạt động hiện nay và tương lai của chúng tôi trong khuôn
khổ dân tộc thuần tuý, rằng những hoạt động đó có muôn ngàn sợi dây liên hệ với
cuộc đấu tranh chung của thế giới tiến bộ, rằng sự đoàn kết thực sự của phe xã hội
chủ nghĩa và các dân tộc yêu chộng hoà bình trên thế giới đối với chúng tôi cũng
cần thiết không kém gì trước kia." [23; 595].
Xuất phát từ tầm quan trọng của sự kết hợp hai nhân tố dân tộc và quốc tế
trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cho nên về đại đoàn kết dân tộc Đảng xác định;
phải huy động sức lực trong nước là chính trong đó miền Bắc tiến hành xây dựng xã
hội chủ nghĩa , là hậu phương vững chắc của tiền tuyến, còn miền Nam phải tiếp tục
tiến hành kháng chiến chống Mĩ . có thể nói trong thời kì này Đảng ta đã huy động
tất cả những gì dù là nhỏ nhất ở trong nước để phục vụ cho cuộc kháng chiến chống
Mĩ ở miền Nam. Vì vậy nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng ra sức thi đua sản
xuất, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau. Chưa bao giờ yếu tố dân tộc lại có thể phát huy
một cách mạnh mẽ như thế. Nhân dân ta luôn thi đua đoàn kết theo tinh thần .”Tất
cả cho tuyền tuyến”, “vì miền Nam ruột thịt”, “lá lành đùm lá rách”, “thóc không
thiếu một cân, quân không thiếu một người”, “tay cầy, tay súng “,”tay búa, tay
súng”….sức mạnh nội lực, tự lực cánh sinh trong cuộc cách mạnh nào cũng rất quan
làm nên đại thắng lợi mùa xuân 1975. Sự kết hợp sức mạnh dân tộc và quốc tế là
đường lối, hướng đi đúng đắn sáng tạo của Đảng và dân tộc Việt Nam. Cho đến
ngày nay chiến tranh đã đi qua , đất nước đã hoà bình, nhân dân no ấm, tin tưởng
vào tương lai, nhưng nhân dân Việt Nam vẫn không quên được vai trò to lớn của
Đảng, sự giúp đỡ to lớn về cả vật chất và tinh thần của các nước trên thế giới, đặc
biệt là sự giúp đỡ của Liên Xô (cũ), Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Đúng như chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói trong: Hội nghị về tinh hình quốc tế và
nhiệm vụ đối ngoại của đảng lao động Việt Nam: ….”mục đích của ta là đoàn kết,
vì đoàn kết mà phải tranh đấu. Tranh đấu để đi đến đoàn kết chứ không nói xấu
ai…. Phải làm sao trong Đảng và nhân dân giữ được lòng yêu mến và biết ơn các
nước bạn bè anh em … đó là” thiên kinh định nghiĩa”, đồng thời không nên coi sự
bất đồng là chuyện lạ.”
Sự kết hợp nhân tố dân tộc và quốc tế đã tạo ra sức mạnh để đánh thắng hai đế
quốc Pháp và Mĩ, vì vậy trong thời kỳ đổi mới Đảng phải kết hợp hai nhân tố dân
tộc và quốc tế như thế nào.
Mỗi con người chúng ta không thể sống riêng lẻ, muốn phát triển và hoàn
thiện mình thì phải sống hoà đồng với xã hội. Đất nước hay dân tộc nào cũng vậy
không quan hệ với bên ngoài, không biết kết hợp sức mạnh dân tộcvà thời đại, chỉ
sống khép kín thì sẽ bị cô lập, tụt hậu so với sự phát triển chung của thế giới. Vì vậy
để đất nước hay quốc gia phát triển về mọi mặt phải mở cửa giao lưu với bên ngoài
cùng với huy động sức lực trong nước. Đồng chí Đặng Tiểu Bình đã chỉ rõ : “đóng
cửa không quan hệ với nước ngoài lâu dài đã làm cho Trung Quốc nghèo khổ, lạc
hậu, ngu muội, không biết gì”,[26, 412]
Đã có một thời kỳ chúng ta đóng cửa không quan hệ với các nước tư bản chủ
nghĩa, chỉ quan hệ vói các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa. Nhưng đến những
năm 1980 Đảng đã thức tỉnh và Đảng đã tiến hành đổi mới vào năm 1986. Đảng
xác định: kết hợp hai nhân tố dân tộc và quốc tế trong thời kỳ đổi mới là một tất
yếu để đưa đất nước phát triển. Như đồng chí Ttrường Chinh đã nói:”Thế giới ngày
Đảng với sự kế hợp nhân tố dân tộc và quốc tế
trong cách mạng Việt Nam thời kì đổi mới
A- thực trạng đất nước trước 1986.
Sau cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước thắng lợi, cả nước bắt tay vào công
cuộc xây dựng đất nước, hàn gắn vết thương chiến tranh. Thời kì năm 1976-1985 là
thời kì đất nước phải đối phó với rất nhiều khó khăn, nhưng dưới sự lãnh đạo của
Đảng nhân dân ta đã đạt được những thành tựu quan trọng.
1- Thành tựu
Thời kì 1976-1980 là thời kì khó khăn nhất. Trong thời gian này do sự phấn
đấu nỗ lực lên ta đã khắc phục được những hậu quả nặng nề do chiến tranh để lại,
do thiên tai ngây ra. Các cơ sở nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải bị địch
bắn phá về cơ bản đã được phục hồi và bước đầu phát triển. Về nông nghiệp đại bộ
phận nông dân miền Nam đi vào con đường làm ăn tập thể, tham gia các hình thức
tổ chức sản xuất phù hợp như tổ đoàn kết sản xuất, tập đoàn sản xuất, hợp tác sản
xuất.
Thời kỳ 1981-1985 Trung ương đảng và Bộ chính trị đã theo dõi tình hình và
đưa ra nhiều quyết định rất quan trọng nhằm giải quyết những vấn đề cấp bách gây
trở ngại lớn đến việc thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội được đề ra. Vì vậy thời
kỳ này trong sản xuất nông nghiệp và công nghiệp đã ngăn chặn được đà giảm sút
của những năm 1979-1980. Về quan hệ đối ngoại ta cũng đạt được một số thành
tựu: Nhân dân ta được nhiều nước trên thế giới công nhận độc lập, ta tiếp tục nhận
được sự giúp đỡ to lớn của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa anh em.
Như vậy sau chiến tranh ta đã nhanh chóng thống nhất nước nhà về mặt nhà
nước, thiết lập được hệ thống chế độ mới trong cả nước và đã áp dụng một loạt
chính sách nhằm thúc đẩy quá trình thống nhất về mọi mặt tạo nên cuộc sống hoà
hợp dân tộc làm cho lực lượng cách mạng nước ta lớn hơn bao giờ hết. Chúng ta đã phát huy có hiệu quả sức mạnh dân tộc và quốc tế trong công cuộc hàn gắn vết
Về mặt chủ quan: do quan niệm chưa đúng về chủ nghĩa xã hội cho nên Đảng
chủ quan, nóng vội,bảo thủ trì trệ trong bố trí cơ cấu kinh tê, cải tạo xã hội chủ
nghĩa và quản lý kinh tế, lại phạm những sai lầm mới nghiêm trọng trong lĩnh vực
phân phối lưu thông: đã buông lỏng chuyên chính vô sản trong quản lý kinh tế-xã
hội trong đấu tranh tư tưởng văn hoá, trong việc chống lại những âm mưu, thủ đoạn
phá hoại thâm độc của kẻ thù. Nhìn chung trong thời kỳ 1976- 1985 là thời kỳ sử
dụng mô hình kinh tế cũ mà đặc trưng là cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, các
thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa ( tư bản, cá thể) sớm bị xoá bỏ ở mức cao
và mở rộng trong phạm vi cả nước .
Về đối ngoai: Đảng chưa chủ động mở rộng quan hệ đối ngoại, đế quốc Mĩ lại
cấm vận nên có tư tưởng đóng cửa khép kín không quan hệ với các nước Tư bản
chủ nghĩa, không khuyến khích đầu tư đối với tư bản nước ngoài xoá bỏ tất cả các
thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa .Bác Hồ đã dạy: “thắng đế quốc Mĩ và
phong kiến là tương đối dễ, thắng bần cùng và lạc hậu là khó hơn nhiều.” “chúng ta
không sợ có sai lầm và khuyết đIểm chỉ sợ không chịu cố gắng sữa chữa sai lầm và
khuyết điểm”:
Từ tình hình thực tế của đất nước Đảng đã đánh giá đúng sự thật nói rõ sự thật,
đẩy mạnh phê bình và tự phê bình tiến hành đổi mới toàn diện cho đất nước vào
năm 1986. Đảng cho rằng sự kết hợp sức mạnh dân tộc và thời đại một cách sáng
tạo khôn khéo là một điều cần kíp đối với dân tộc ta trong thời kỳ đổi mới.
B- thời kỳ đổi mới:
Theo đồng chí Trường Chinh:”đổi mới ở Việt Nam là điều rõ ràng nó có
nguồn gốc từ những yếu tố trong nước, đồng thời có quan hệ đến các yếu tố thời
đại. Đổi mới là phát huy những thành quả to lớn mà cách mạng đã dành được, là
sửa chữa những khuyết điểm, sai lầm đã mắc phải trước đây, là sớm biết phát hiện
và sử lý tốt những vấn đề mới nảy sinh, là phát huy sức mạnh dân tộc và thời đại