MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hơn 80 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo cả dân tộc tiến hành cuộc đấu tranh
trường kỳ gian khổ để giành độc lập, tự do, thống nhất đất nước và từng bước tiến hành công cuộc
xây dựng chủ nghĩa xã hội. Một trong những nguyên nhân dẫn đến thắng lợi của cách mạng Việt
Nam là do Đảng Cộng sản Việt Nam có quan điểm, đường lối lãnh đạo đúng đắn. Vận dụng sáng tạo
chủ nghĩa Mác - Lênin, giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là tư tưởng chỉ đạo
trong suốt các thời kỳ cách mạng Việt Nam. Với tư tưởng chỉ đạo ấy, Đảng ta đã giải quyết thành
công vấn đề dân tộc và giai cấp, giải quyết hợp lý mối quan hệ hữu cơ giữa hai yếu tố đó, đưa sự
nghiệp cách mạng của dân tộc đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Công lao này trước hết thuộc về
Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại - Người đã đặt nền móng đầu tiên cho những quan điểm đúng đắn ấy.
Một trường phái tư tưởng hay một học thuyết phải qua thực tế kiểm nghiệm, sàng lọc mới
thể hiện chân lý khoa học. Đây là điều có tính quy luật. Quan điểm của Hồ Chí Minh về vấn đề dân
tộc và giai cấp, sự vận dụng trong tiến trình cách mạng Việt Nam cũng không nằm ngoài điều có tính
quy luật đó Nghiên cứu vấn đề này giúp chúng ta hiểu rõ thêm về quá trình Đảng ta và Hồ Chí Minh
hoàn thiện đường lối cách mạng Việt Nam. Trong tiến trình đó, thiên tài trí tuệ Hồ Chí Minh đã cùng
Trung ương Đảng lái con thuyền cách mạng không ngừng lướt tới. Đây là mảng đề tài được khá
nhiều người quan tâm.
Đất nước ta đang trong quá trình đổi mới toàn diện, định hướng theo chủ nghĩa xã hội. Đại
hội Đảng lần thứ VII và lần thứ VIII của Đảng ta đã khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động [26, 127]. Vấn đề dân
tộc hiện nay là một vấn đề rất phức tạp, cần có sự nhận thức và hành động đúng. Với tinh thần Việt
Nam muốn làm bạn với tất cả các nước, Đảng ta chủ trương thực hiện đa phương hoá và đa dạng hoá
các quan hệ quốc tế. Nhiệm vụ hiện nay đòi hỏi phải hiểu rõ, vận dụng đúng tư tưởng quan điểm chỉ
đạo của Đảng ta về vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp, vấn đề dân tộc và độc lập dân tộc trong
quan hệ quốc tế. Chắc chắn giá trị lý luận và bài học kinh nghiệm lịch sử sẽ có ý nghĩa thiết thực
trong tình hình, nhiệm vụ hiện nay.
Với ý nghĩa khoa học và thực tiễn đó, chúng tôi chọn vấn đề Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn
đề dân tộc và giai cấp trong cách mạng Việt Nam làm đề tài luận án của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài.
Nam (từ 1930-1954), của Chu Đức Tính v.v...
Ở nước ngoài cũng có một số cuốn sách nghiên cứu về Việt Nam và Hồ Chí Minh có đề cập
đến nội dung chúng tôi nghiên cứu, như cuốn Đồng Chí Hồ Chí Minh của Epghênhi Cabêlép, xuất
bản ở Liên Xô cũ năm 1983, Nhà xuất bản Thanh niên, dịch in thành 2 tập năm 1985; cuốn Hồ Chí
Minh - Giải phóng dân tộc và đổi mới, của nhà nghiên cứu Nhật Bản Funlta Motoo, do Nhà xuất bản
Ioanami xuất bản năm 1996 - Nhà xuất bản Chính trị quốc gia dịch, xuất bản năm 1997, v.v... Với
cách tiếp cận khác nhau, những quan điểm của các tác giả nước ngoài là có giới hạn. Nhưng đây là
nguồn tư liệu tham khảo bổ ích.
Tuy số lượng tác phẩm, bài viết và một số luận án khá nhiều song chưa có công trình, tác
phẩm nào nghiên cứu và giới thiệu nội dung Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề dân tộc và giai cấp
trong cách mạng Việt Nam một cách có hệ thống đầy đủ.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án.
3.1. Mục đích.
Luận án trình bày một cách có hệ thống quá trình Hồ Chí Minh đi đến khẳng định những
quan điểm cơ bản về vấn đề dân tộc và giai cấp trong cách mạng Việt Nam, với ý nghĩa là bộ phận
quan trọng nhất của đường lối cách mạng của Đảng ta.
Luận án phân tích một số điểm khác biệt và nguyên nhân của sự khác biệt trong quan điểm
ấy với những quan điểm của Quốc tế Cộng sản và của Ban chấp hành Trung ương Đảng ta đầu những
năm 30; khái quát quá trình cách mạng Việt Nam trở lại với tư tưởng đường lối của Hồ Chí Minh và
sự thành công trong Cách mạng tháng Tám 1945; thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp và kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã khẳng định tính khoa học, đúng đắn và sáng tạo của các
quan điểm tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và giai cấp trong cách mạng Việt Nam.
3.2. Nhiệm vụ.
Luận án bước đầu rút ra một vài bài học lịch sử và sự vận dụng trong công cuộc đổi mới hiện
nay.
4. Giới hạn vấn đề và phương pháp nghiên cứu của luận án.
Trước hết xin được nói rõ vấn đề dân tộc mà chúng tôi nghiên cứu là thuộc phạm trù dân tộc
- quốc gia, không phải vấn đề chủng tộc hay dân tộc thiểu số; vấn đề giai cấp là nói về tính chất giai
cũng tham khảo một số luận án hiện đang lưu tại thư viện học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
Đây là những tài liệu tham khảo, bổ trợ và được sử dụng hợp lý, đúng nguyên tắc quy định.
6. Đóng góp mới về mặt khoa học của luận án.
* Về nội dung
Đóng góp thứ nhất là luận án đã hệ thống lại một cách khoa học, khách quan quá trình Hồ
Chí Minh xác định những quan điểm cơ bản về vấn đề dân tộc và giai cấp trong cách mạng Việt
Nam; quá trình Đảng ta vận dụng vào chỉ đạo thực tiễn cách mạng Việt Nam từ 1930 đến 1969 và
thành quả của những quan điểm đúng đắn đó.
Đóng góp thứ hai là ở một góc độ tiếp cận mới, trong tình hình mới, luận án trình bày rõ hơn
những vấn đề mà lịch sử đã diễn ra trong đó có sự khác biệt trong quan điểm của Hồ Chí Minh về
vấn đề dân tộc và giai cấp với quan điểm của Quốc tế Cộng sản trong những năm 1928-1935 và quan
điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong những năm 1930-1935. Qua đó thấy rõ sự đúng đắn, sáng
tạo khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam và Mặt trận dân tộc
thống nhất trong các thời kỳ cách mạng Việt Nam.
* Về tư liệu
Luận án giới thiệu một số tư liệu mới và xây dựng một thư mục với hơn 100 tên sách, tài liệu
có liên quan tới nội dung mà tác giả đã tham khảo và sử dụng khi nghiên cứu đề tài. Mặt này còn
được ghi nhận ở các công trình của tác giả đã công bố trong các sách báo, tạp chí và một số Hội thảo
khoa học.
7. Bố cục luận án
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận án được trình bày thành 3
chương 9 tiết.
CHƯƠNG 1
SỰ HÌNH THÀNH QUAN ĐIỂM VÔ SẢN CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC VỀ
VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ GIAI CẤP TRONG CÁCH MẠNG VIỆT NAM (1920 2.1930)
Ngày 3-2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, chấm dứt tình trạng khủng
hoảng đường lối của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam, đường lối cơ bản
Ngày 12-4-1921, Bộ trưởng Bộ Thuộc địa A. Xarô đã trình bày trước Hạ nghị viện
Pháp bản Dự luật khai thác thuộc địa lần thứ hai và sau đó, dự luật “nhanh chóng” được
Hội đồng Chính phủ Đông Dương tán thành. Tư bản Pháp đã đổ vốn vào đầu tư khai thác
Đông Dương - chủ yếu là ở Việt Nam. Tính đến năm 1929, họ có 50 công ty nông nghiệp,
46 công ty công nghiện, 19 công ty mỏ, 31 công ty thương nghiệp và một số công ty dịch
vụ, ngân hàng. Đây là tiền đề tạo bước chuyển biến trong nền kinh tế thuộc điạ, đồng thời
tạo nên sự phân hoá giai cấp xã hội ở Việt Nam khá sâu sắc.
Giai cấp công nhân Việt Nam được hình thành từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ
nhất, đến giữa và gần cuối những năm 20, do quy mô của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ
hai, số lượng công nhấn đã tăng lên khoảng 4 đến 5 lần. Họ sống tập trung ở những trung
tâm công nghiệp, đồn điền.
Bị tước đoạt mọi quyền tự do, chưa có tổ chức nên quyền lợi của người công nhân
không được bảo vệ, không có sự bênh vực; những hành động bãi công, phản đối dưới bất
kỳ hình thức nào đều bị coi như hành động phá rối trị an, là hành động phiến loạn.
Tình cảnh của giai cấp công nhân Việt Nam trong những năm 20 đã được Nguyễn
Ái Quốc miêu tả:
Người Đông Dương không có một phương tiện hành động và học tập nào hết. Báo
chí, hội họp, lập hội, đi lại đều bị cấm... Việc có những tờ báo hoặc tạp chí mang tư tưởng
tiến bộ một chút hoặc có một tờ báo của giai cấp công nhân Pháp là một tội nặng. Rượu
cồn và thuốc phiện cùng báo chí phản động của bọn cầm quyền bổ sung cho cái công cuộc
ngu dân của chính phủ, máy chém và nhà tù làm nốt phần còn lại. [61, 28] .
Tuy nhiên, khả năng tiềm ẩn của những người công nhân và nhân dân Việt Nam
và Đông Dương đã được Người nhận định: "Sự đầu độc có hệ thống của bọn tư bản thực
dân không thể làm tê liệt sức sống, càng không thể làm tê liệt tư tưởng cách mạng của
người Đông Dương".Và "Khi thời cơ cho phép, họ sẽ biết tỏ ra xứng đáng" [61, 28] .
Dựa vào giai cấp địa chủ phong kiến để tiến hành áp bức bóc lột nhân dân lao
động các thuộc địa, đó là thủ đoạn cai trị truyền thống của chủ nghĩa thực dân nói chung
và của thực dân Pháp nói riêng. Được sự tiếp tay, nâng đỡ của nhà cầm quyền thực dân,
lãnh đạo. Quốc tế Cộng sản cần phải giúp đỡ họ tổ chức lại, cần phải cung cấp cán bộ
lãnh đạo cho họ và chỉ cho họ con đường đi tới cách mạng và giải phóng. [61, 289]
Mặc dù chỉ chú trọng vơ vét tài nguyên, nhưng với quy mô của cuộc khai thác
thuộc địa lần thứ hai vẫn tạo nên tiền đề làm chuyển biến kinh tế xã hội ở thuộc địa. Tuy ở
mức độ thấp, nhưng quan hệ hàng hoá - tiền tệ đã có bước tiến mới; những nông dân mất
ruộng, thợ thủ công phá sản là nguồn bổ sung đội quân lao động giá rẻ khá đông đảo. Đây
cũng là cơ sở xã hội khiến mối quan hệ giữa giai cấp công nhân Việt Nam với nông dân
và các tầng lớp lao động khác khá chặt chẽ.
Để phục vụ cho cuộc khai thác thuộc địa, giới tư bản Pháp cần có lớp người trung
gian làm dịch vụ, cung ứng nhân công, nguyên vật liệu. Đó là một trong những nhân tố
tạo nên sự hình thành giai cấp tư sản bản xứ Việt Nam.
Nếu như trước năm 1918, tư sản Việt Nam mới chỉ lẻ tẻ kinh doanh một số ngành
không quan trọng thì tới đầu những năm 20, tuy quy mô nhỏ, rải rác, họ đã có mặt trong
các ngành kinh doanh dịch vụ, dệt, sửa chữa ô tô, giao thông, sản xuất hàng tiêu dùng.
Đến giữa những năm 20, họ bắt đầu có mặt trong ngành ngân hàng, bắt đầu từ một nhóm
tư sản ở Nam Kỳ, họ cùng nhau hùn vốn mở ngân hàng, với số vốn khoảng 250.000 đồng
Đông Dương. Số chủ xưởng thuê năm ba chục công nhân ngày càng nhiều; đã có một số
chủ xưởng thuê vài ba trăm đến hơn một nghìn công nhân. Họ cũng bắt đầu có mối liên
kết với nhau, bắt đầu ra báo, lập hội và lẻ tẻ đã có những phát ngôn về mục đích, phương
hướng của mình. Đây là những dấu hiệu đầu tiên thể hiện khuynh hướng tư tưởng của giới
tư sản dân tộc ở Việt Nam.
Nhỏ yếu về mặt kinh tế, không triệt để cách mạng, dễ thoả hiệp về mặt chính trị,
đó là đặc điểm cơ bản của tư sản dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, ngoài bộ phận mại bản
được hưởng một vài độc quyền và có lợi ích gắn liền với thực dân Pháp, số tư bản dân tộc
còn lại bị giới tư bản thực dân Pháp chèn ép, bị chế độ phong kiến cương toả kể cả về
kinh tế lẫn chính trị, tư tưởng. Vì vậy họ mâu thuẫn với các thế lực thực dân, phong kiến
và cuộc đấu tranh của họ chống chủ nghĩa thực dân và chế độ phong kiến vì độc lập dân
tộc, dân chủ từng bước trở thành một bộ phận của phong trào yêu nước việt Nam.
1.2. MỘT SỐ XU HƯỚNG TƯ TƯỞNG TƯ SẢN VÀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC
VÀ GIẢI PHÓNG DÂN TỘC ở VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM 1920-1930.
1 2.1. Xu hướng tư tưởng dân tộc tư sản cải lương ôn hoà.
Sau nhiều năm lãnh đạo Việt Nam Quang phục Hội, với ý định dùng bạo lực cách
mạng lật đổ sự thống trị của thực dân Pháp, nhưng công cuộc giành độc lập dân tộc không
thành. Đến cuối cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất (1918) và nổi rõ là từ 1920-1924, cụ
Phan Bội Châu dần dần có xu hướng tư tưởng chuyển từ cách mạng bạo lực sang ôn hoà
cải lương. Trong Tờ tuyên cáo cả trên toàn quốc cụ thổ lộ:
Tôi đã từng thí nghiệm trong 12 năm, biết rằng hậu thuẫn không nương tựa vào
đâu thì chắc tiền đồ chỉ những là thất bại... Nếu mà liều lĩnh mãi hoài, thiệt là dẫn cho dân
trong nước phải sai đường lạc nẻo, dẫu chỉ muốn cho thân mình được cái hư danh anh
hùng hào kiệt, mà khiến cho nước ta bị cái ác quả mãn kiếp trầm luân. Tự hỏi lương tâm
làm ngơ sao đáng. Vì vậy, tính đổi phương châm, chú lực về cái phương diện làm sao cho
quốc dân ngày thêm tiến bộ. Nhưng nghĩ rằng nếu muốn cho trình độ quốc dân ngày thêm
tiến bộ, thì phải bắt tay lo về giáo dục mới được, mà muốn cải lương giáo dục nếu không
có thợ hay thầy giỏi thì cậy ai chỉ vẽ [9, 26-27].
Bị mê hoặc bởi chủ nghĩa Uynxơn, năm 1922, trong tác phẩm “Cam địa” (Găng
đi) Phan Bội Châu ca ngợi: “Cam địa dùng phương pháp mới, không dùng đến sự chém
giết, chỉ dùng cách hoà bình mà thành hiệu rất lớn” [8, 497- 498]. Đến tác phẩm “Thiên
hồ Đế hồ” (1923), tư tưởng cải lương ôn hoà của cụ bộc lộ rất rõ nét. Cụ viết:
Người Việt Nam mới chỉ yêu cầu lấy lại một phần cỏn con của quyền làm người
mà trời đã phú cho. Phần cỏn con ấy là gì? Xin thưa: Chúng tôi mong mỏi người Pháp thả
mắt chúng tôi ra cho chúng tôi nhìn; thả tai chúng tôi ra cho chúng tôi nghe; cởi tay chân;
chúng tôi ra cho chúng tôi co duỗi; buông đầu óc chúng tôi ra cho chúng tôi được thoả
mãn cái phần cỏn con mà trời đã phú được tạm đủ thì có thể là chúng tôi hạnh phúc lắm
rồi [8, 563].
Vi yêu nước chân thành nên dù có ôn hoà, mang tính chất cải lương, tư tưởng của
Phan Bội Châu khác hẳn với tư tưởng cải lương của những người thoả hiệp đầu hàng và
dân tộc của nhân dân Việt Nam. Những hoạt động ấy đã góp phần cổ vũ và thức tỉnh tinh
thần yêu nước của nhiều tầng lớp, giai cấp trong xã hội Việt Nam.
Về mặt xây dựng tổ chức - dù là ở mức độ nhất định - cụ Phan Bội Châu cũng có
những đóng góp đáng ghi nhận. Khi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tới Quảng Châu (cuối năm
1924) cũng là lúc Chương trình và Đảng cương Quốc dân Đảng của cụ vừa được công bố.
Nguyễn Ái Quốc đã cùng Phan Bội Châu trao đổi việc sửa đổi. Và Người đã được Phan
Bội Châu giúp đỡ về mặt xây dựng tổ chức. Trong bản Báo cáo gửi Chủ tịch Đoàn Quốc
tế Cộng sản (18-12- 1924), Nguyễn Ái Quốc đã nói rõ: “Tôi đã gặp tại đây vài ba nhà
cách mạng quốc gia Việt Nam, trong số đó có một người đã xa rời xứ sở từ 30 năm
nay...Trong cuộc thảo luận, tôi đã giải thích cho ông ta hiểu sự cần thiết của tổ chức và sự
vô ích của những hành động không có cơ sở, ông ta đồng ý” [62, 8]. Chính ở những cuộc
gặp gỡ này, Nguyễn Ái Quốc đã được cụ Phan Bội Châu giới thiệu “một bản danh sách 10
người” và Người đã chọn 5 người quê ở 5 tỉnh khác nhau, chuẩn bị đưa sang Quảng Châu
huấn luyện cho họ về phương pháp tổ chức” [62, 8].
Mối quan hệ Nguyễn Ái Quốc - Phan Bội Châu không chỉ đơn thuần đánh dấu
việc cụ Phan Bội Châu thừa nhận những hạn chế trong nhận thức tư tưởng của chính
mình. Đó còn là một cuộc chuyển giao lịch sử về vai trò lãnh tụ cách mạng giữa thế hệ
theo tư tưởng của chủ nghĩa dân tộc ôn hoà, tư sản mà Phan Bội Châu là một trong những
đại diện tiêu biểu, với thế hệ cách mạng mới, theo xu hướng cách mạng vô sản mà lãnh tụ
Nguyễn Ái Quốc là người đại diện và đặt nền móng.
Cùng xu hướng tư tưởng dân tộc tư sản ôn hoà của Phan Bội Châu, trong những
năm 20 còn có Phan Chu Trinh và một số nhân sĩ trí thức như Huỳnh Thúc Kháng,
Nguyễn An Ninh.
Trong một số bài báo, bài diễn thuyết như Thất điều thư ( 1922), Đạo đức và luân
lý Đông Tây, v-v:... Phan Chu Trinh đã phê phán gay gắt sự lạc hậu, tính trì trệ yếu hèn
của nhà nước quân chủ phong kiến Việt Nam. Cụ bộc bạch ý tưởng muốn dựa vào Nhà
nước Cộng hoà Pháp để chống lại chế độ quân chủ phong kiến chuyên chế, để từng bước
chấn hưng dân tộc.
tin
tưởng
cái ngày nào mà chúng ta cố sức bảo vệ tự do cho chúng ta, thì khi ấy việc phải đến sẽ
đến” [35, 483-484].
Đầy nhiệt huyết với sự nghiệp giải phóng dân tộc, song bằng con đường nào để
đạt được mục tiêu thì Nguyễn An Ninh lại rơi vào con đường cải lương. Ông coi con
đường “bất hợp tác”, “bất bạo động” của các lãnh tụ phong trào giải phóng dân tộc Ấn Độ
là con đường đi tới độc lập cho dân tộc Việt Nam. Ông ca ngợi: "Nước Ấn cho chúng ta
một tấm gương về cái cuộc cách mạng duy nhất mà châu Á mang ách thực dân châu Âu
có thể làm được". Ông còn viết: "Không phải cách mạng, mà tiến hoá; không có máu đổ
một cách vô ích nhưng độc lập hứa hẹn sẽ phải được giao lại". Ông hy vọng khi luật pháp
được thực hiện ở Đông Dương thì các nhà cầm quyền thực dân phải né tránh". Rõ ràng
Nguyễn An Ninh không đề cập đến vấn đề bạo lực cách mạng mà trông chờ ở sự cải cách,
thoả hiệp của giới cai trị thuộc địa và ông coi đó như những nấc thang đi tới hoàn thành
công cuộc giải phóng [35, 485].
Tuy vậy, cũng có lúc Nguyễn An Ninh cho rằng con đường "tiến hoá" chỉ có thể
có kết quả khi nhà cầm quyền Pháp "rộng lượng và chân thành". Cũng có lúc ông đề cập
vấn đề người Việt Nam có thể tìm con đường "lợi ích cho giống nòi hơn" một khi họ nhận
thấy con đường thoả hiệp, hoà bình là ảo tưởng, đó là con đường cách mạng bạo lực. Ông
viết:
Nếu quần chúng thà chịu chết chứ không chịu bất công, nếu bọn thực dân không
chịu từ bỏ chính sách bóc lột áp bức dã man thì nhiệm vụ của những người Việt Nam can
đảm nhất, trung thành nhất là phải nghĩ đến những phương pháp đấu tranh thích hợp với
ngày nay, tỉ như tổ chức một cuộc đề kháng có sức đánh bại áp bức [35, 487].
Tuy đã đề cập đến vấn đề cách mạng bạo lực, song Nguyễn An Ninh vẫn chưa nói
tới vai trò của công nông và chính đảng vô sản trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, ít
đề cập đến vấn đề khởi nghĩa vũ trang... mặc dù đến thời điểm này ảnh hưởng của những
hoạt động của Nguyễn Ái Quốc đối với tình hình cách mạng trong nước đã khá sâu rộng,
chống đế quốc bởi họ cũng bị bóc lột, bị chèn ép trong kinh doanh. Họ chủ trương tiến
hành cách mạng bạo lực, giành độc lập dân tộc nhưng ít có khả năng chấp nhận cuộc cách
mạng vô sản, ít tán thành chủ nghĩa xã hội.
Trước thời điểm Việt Nam Quốc dân Đảng thành lập, tổ chức Nam Đồng thư xã
do Phạm Tuấn Tài chủ xướng đã xuất bản một số sách báo tuyên truyền yêu nước, bày tỏ
nguyện vọng độc lập dân tộc và tuyên truyền chủ nghĩa Tam dân của Tôn Dật Tiên.
Nhận thấy con dường ôn hoà bị bế tắc, Phạm Tuấn Tài, Nguyễn Thái Học và một
số người cùng chí hướng đã bỏ con đường cũ và chuyển sang con đường cách mạng bạo
lực.
Tuy nhiên xu hướng tư tưởng của Việt Nam Quốc dân Đảng biểu hiện thiếu nhất
quán. Điều lệ được đưa ra lúc thành lập (đêm 24-12-1927) ghi rằng: “Trước làm dân tộc
cách mạng, sau làm thế giới cách mạng [81, 18]. Đến năm 1928, Điều lệ được sửa đổi lại
là “Đảng theo chủ nghĩa xã hội dân chủ, nhằm đoàn kết các lực lượng cả nam lẫn nữ để
đẩy mạnh cách mạng dân tộc, xây dựng nền dân chủ trực tiếp và giúp đỡ các dân tộc bị áp
bức” [81, 82] . Năm 1929, Quốc dân Đảng lại đưa ra ba nguyên tắc của cách mạng tư sản
Pháp: Tự do - Bình đẳng - Bác Ái thay cho chủ nghĩa xã hội dân chủ và khẳng định mục
đích của họ là tiến hành ba cuộc cách mạng: "Cách mạng dân tộc, cách mạng chính trị và
cách mạng xã hội" [81, 105] .
Điểm nổi bật là khi Việt Nam Quốc dân Đảng đặt mục tiêu đánh đổ ách thống trị
thực dân phong kiến, giành độc lập dân tộc, thiết lập dân quyền và thực hiện tự do dân
chủ thì lại không đưa ra được những nội dung cơ bản của cuộc cách mạng dân chủ. Đảng
chỉ đặt vấn đề lật đổ ngai vàng phong kiến mà không đề cập việc đưa lại ruộng đất cho
nông dân. Bởi chính lẽ đó mà cả trong tư tưởng và hành động, tính nhân dân trong
phương pháp cách mạng mà đảng dự định tiến hành đã thể hiện rõ sự hạn chế. Điều đó cắt
nghĩa việc Quốc dân Đảng không hoặc rất ít chú ý vấn đề lý luận, quan điểm; không chú ý
đến công tác tuyên truyền và vân động quần chúng; không hiểu rõ sức mạnh của quần
chúng đông đảo là lẽ đương nhiên. Chính vì vậy các hoạt động của Việt Nam Quốc dân
Đảng thường thiên về ám sát phiêu lưu, mạo hiểm và manh động. Cuộc khởi nghĩa Yên
hiểu. Năm điểm biểu hiện xu hướng tư tưởng, quan điểm của nhóm Nam Phong và Phạm
Quỳnh có thể khái quát như sau:
- Giới trí thức, thượng lưu là rường cột của đất nước, như nhà có nóc; giá trị của
xã hội được đánh giá qua sự nhìn nhận giới trí thức và thượng lưu, quần chúng lao động
thì "không có giá trị bao nhiêu”.
- Phải xây dựng giới thượng lưu, trí thức Tây học thay thế giới trí thức cũ, lạc hậu.
- Nước Pháp và nền thống trị thực dân của Pháp có thiên chức "dạy các nước lạc
hậu phát triển nền quốc túy”.
- Mong nhờ nước Pháp và "nền bảo hộ" của Pháp để mở mang tri thức cho đến
ngày người Việt Nam "đủ tư cách" quản lý công việc đất nước.
- Trông chờ nước Pháp thực hiện những cải cách trên cơ sở người bản xứ đã đạt
được những tiến bộ về tri thức, tinh thần và nhân cách” [35, 507-508].
Như vậy, Phạm Quỳnh và nhóm Nam Phong từ bỏ việc đấu tranh, dù chỉ là đấu
tranh hoà bình hợp pháp, họ đánh giá rất thấp vai trò của quần chúng nhân dân. Tư tưởng
cải lương, thoả hiệp và đầu hàng luôn luôn là tư tưởng chủ đạo của họ.
Đầu năm 1930 trả lời phỏng vấn một tờ báo Pháp, Phạm Quỳnh còn nói: trong
khoảng 50 năm nữa Việt Nam "sẽ là một nước tự do trong khuôn khổ đế quốc Pháp", "sẽ
là một nước tự do, phú cường mà đối với nước Pháp vẫn một lòng ân nghĩa như đối với
người đã có công tác thành cho mình vậy" [35, 516-517]. Và họ còn thấp hèn tới mức coi
Tổ quốc mình "là những đứa con tinh thần của Pháp” [35, 517].
Về chủ quyền và độc lập dân tộc, Phạm Quỳnh và nhóm Nam Phong thường tỏ lời
cầu khẩn nhà cầm quyền thực dân, rằng: “Chúng tôi là một dân tộc đang đi tìm Tổ quốc”,
“... nước Pháp có thể vì chúng tôi khôi phục lại được là ban cho chúng tôi một cái hiến
pháp”, “cho chúng tôi cũng có cái đời làm nước xứng đáng ngay trong phạm vi đế quốc
của Pháp” [35, 519-520].
Rõ ràng là ở Phạm Quỳnh và nhóm Nam Phong, vấn đề độc lập và chủ quyền dân
tộc trong tư tưởng của họ là lạy cầu, xin sỏ, là thoả hiệp, đầu hàng. Họ mong muốn vĩnh
viễn hợp tác với chủ nghĩa thực dân trong lệ thuộc, chờ đợi sự ban phát. Tư tưởng cải
lương ấy không chỉ khác mà còn đối lập với tư tưởng của các nhà chiến sĩ yêu nước chân
thành như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng v.v... Tư tưởng của họ
hải quân Pháp trong hơn một tháng trời.
Thắng lợi của cuộc bãi công của công nhân Ba Son trước hết là do các yêu sách về
kinh tế chính đáng, nhưng nguyên nhân quan trọng hơn là cuộc bãi công ấy được sự tổ
chức, lãnh đạo của Công hội và tính chất chính trị đúng đắn trong mục tiêu mà cuộc bãi
công đặt ra.
Lịch sử phong trào công nhân Việt Nam đã ghi nhận cuộc bãi công của công nhân
Ba Son là cuộc đấu tranh đầu tiên có tổ chức và được sự lãnh đạo của một tổ chức của
riêng mình - Công hội.
Được bí mật thành lập từ năm 1920, đến năm 1925, Công hội đã có 300 hội viên,
chiếm tỷ lệ cao so với nhiều nhà máy khác ở Sài Gòn - Chợ Lớn. Lúc đầu việc thành lập
Công hội chỉ là nhằm giúp đỡ lẫn nhau khi gặp khó khăn hoạn nạn, cùng nhau đoàn kết
đấu tranh với giới chủ để bênh vực quyền lợi của công nhân. Tuy chưa có điều lệ bằng
văn bản, song do mục đích trên, khi cuộc bãi công của công nhân nổ ra, Công hội đã tổ
chức quyên góp của công nhân một số nhà máy khác để ủng hộ. Mục đích, quy mô và tính
chất của cuộc bãi công này tự nó đã khẳng định: đây là cuộc bãi công mở đầu giai đoạn
đấu tranh tự giác của giai cấp công nhân Việt Nam.
Bước trưởng thành này của phong trào công nhân Việt Nam là do nhận thức và sự
tác động của một số công nhân đã từng sống và làm việc tại các nhà máy ở Pháp trong
những năm chiến tranh thế giới thứ nhất trở về nước. Và nguyên nhân quan trọng hơn là
do ảnh hưởng của Cách mạng tháng Mười Nga và của Quốc tế Cộng sản thông qua những
hoạt động của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.
Ngay từ tháng 4-1920, Sài Gòn là địa điểm mà Quốc tế Cộng sản chọn làm trung
tâm truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Đông Dương và hai cán bộ người Nga đã được
phái tới đó. Nhưng tháng 11-1920, họ bị bắt và bị trục xuất [47]. Có lẽ từ sự kiện này mà
năm 1921, V.I. Lênin đã nhắc nhở: “Cần nghiên cứu kỹ hơn vấn đề Đông Dương và
Angiêri, nhưng đây là nhiệm vụ mà những người Bôn sê vích không nên ủy thác cho ai
khác là ủy thác cho chính mình" [100 , 76-77]
Tuy V.I. Lênin đã nhắc nhở, Quốc tế Cộng sản cũng đã có chủ trương nhưng cho
người yêu nước khác lan rộng ra toàn quốc, nhất là ở các trung tâm kinh tế, các thành phố
lớn. Phong trào diễn ra từ cuối năm 1925 đến suốt năm 1926 và một thời gian khá dài sau
đó, đã trở thành một cuộc biểu dương lực lượng và lòng yêu nước của đông đảo các tầng
lớp nhân dân toàn quốc với các hình thức đấu tranh, như biểu tình, bãi khoá, bãi thị, diễn
thuyết v.v...
Mặc dù phong trào đấu tranh mang tính hoà bình, hợp pháp song nó cũng đe doạ
sự tồn tại của nền thống trị thuộc địa, bởi vậy, nhà cầm quyền thực dân đã sử dụng bạo
lực để đàn áp phong trào. Rất nhiều học sinh, sinh viên tham gia bãi khoá bị đuổi học,
nhiều người lãnh đạo hoặc tích cực tham gia phong trào đã bị bắt. Đấu tranh hoà bình,
hợp pháp nhưng vẫn bị nhà cầm quyền dùng bạo lực đàn áp, đó là một thực tế làm những
người yêu nước theo tư tưởng cải lương, ôn hoà thay đổi chính kiến. Với lòng yêu nước
nhiệt thành họ buộc phải tìm con đường mới, họ dần dần đi về phía công nông và tạo
thêm mảnh đất mới để những tổ chức cách mạng chân chính như Hội Việt Nam cách
mạng thanh niên, Tân Việt cách mạng Đảng “gieo mầm cộng sản”
1.3.3. Sự hình thành quan điểm vô sản của Nguyễn Ái Quốc về vấn đề dân tộc
và giai cấp trong cách mạng Việt Nam
Trong cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Ái Quốc, việc sáng lập Đảng Cộng sản
Việt Nam, xác lập đường lối, mục tiêu, chiến lược, sách lược cho cách mạng Việt Nam là
một dấu mốc quan trọng trong quá trình phát triển tư tưởng của Người. Đó là quá trình
nhận thức của Người phát triển từ thấp đến cao, từ hành trang tư tưởng trước khi ra đi tìm
đường cứu nước đến nhận thức lý luận; từ nắm chắc lý luận để vận dụng vào thực tiễn
cách mạng Việt Nam đến sự sáng tạo tuyệt vời trong việc thiết kế con đường cách mạng
Việt Nam.
Chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân ái Việt Nam là hành trang tư tưởng chủ
yếu của Nguyễn Ái Quốc khi Người đi tìm đường cứu nước. Đây là điều mà nhiều nhà
nghiên cứu đã nhất trí cao khi nghiên cứu về nguồn gốc tư tưởng Hồ Chí Minh. Chủ nghĩa
yêu nước Việt Nam biểu hiện ở ý thức bảo vệ và giữ gìn những bản sắc tốt đẹp của dân
tộc, ở tinh thần và ý chí chống xâm lược, ở tinh thần đại đoàn kết dân tộc.
Hoà nhập với cuộc sống của giai cấp công nhân, nhất là với giai cấp công nhân
Pháp, tại Pari - trung tâm chính trị sôi động ở châu Âu thuở đó, Nguyễn Ái Quốc có điều
kiện giao tiếp với nhiều tri thức tiến bộ Pháp và một số nước khác. Điều kiện đó đã giúp
Người nâng cao nhận thức của mình. Nếu như trước đó trong Người mới chỉ là ý thức dân
tộc, yêu nước thì nhờ những điều kiện đó, ý thức giai cấp công nhân, tinh thần quốc tế của
Người đã nảy sinh và dần dần phát triển.
Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, các nước đế quốc thắng trận họp nhau để
thực hiện chương trình chia lại thị trường thế giới. Họ hứa hẹn việc trao trả độc lập và chủ
quyền cho các nước vốn trước đó là thuộc địa của các nước bại trận, đồng thời ra sức cổ
động cho “Chương trình 14 điểm” trong học thuyết Uynxơn. Nhiều người ở các nước
thuộc địa, trong đó có Nguyễn Ái Quốc đã bị cuốn hút bởi trào lưu gửi yêu sách tới Hội
nghị hoà bình Véc xây, thỉnh cầu quyền tự quyết dân tộc. Sự giả dối trong trong “những
lời tuyên bố rộng rãi của Uynxơn” đã giúp Người nhận thấy rằng “Chủ nghĩa Uynxơn” và
những lời hứa hẹn của các nước thắng trận “chỉ là một trò bịp bợm”. Người hăng hái hoạt
động trong Đảng Xã hội Pháp và đứng về cánh tả của đảng này. Người viết một số bài
báo đăng trên các tờ Le Populaire, L Humamté; Người viết cuốn Những người bị áp
bức tố cáo những tội ác và sự thối nát của chủ nghĩa thực dân ở các nước thuộc địa; Người
tham gia tích cực vào các hoạt động của ủy ban vận động Đảng Xã hội Pháp gia nhập
Quốc tế III; Người hoan nghênh Cách mạng tháng Mười và tham gia quyên góp ủng hộ
công nông Nga chống nạn đói và sự can thiệp của các nước đồng minh đế quốc.
Trong những hoạt động ấy Người đặc biệt chú ý việc tìm hiểu về những người
Bôn sê vích, về Cách mạng tháng Mười Nga và đã trình bày đề tài nghiên cứu Chủ nghĩa
Bôn sê vích ở châu Á [96, 84], diễn thuyết trước thanh niên Quận 13 Pari về chủ nghĩa xã
hội [96, 87].
Hăng hái hoạt động và nghiên cứu, Nguyễn Ái Quốc vẫn hằng tâm tưởng tới việc
tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc và coi đây là mục đích chính yếu của mình.
Người nói rõ điều đó khi trả lời một người lính Việt Nam ở Pháp? “Chỉ khi nào bọn Pháp
rút hết khỏi Việt Nam, tôi mới có một nghề” [96, 85].
Tháng 7-1920, Nguyễn Ái Quốc vui mừng phấn khởi "đến phát khóc lên" khi
được đọc Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I. Lênin. Ngồi một