T tởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế
trong cách mạng Việt Nam
Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh tụ vĩ đại của Đảng và của dân tộc ta, nhà
hoạt động quốc tế lỗi lạc. Ngời suốt đời hy sinh phấn đấu không chỉ cho
độc lập tự do và hạnh phúc của nhân dân Việt Nam mà còn đấu tranh
không mệt mỏi cho đoàn kết hữu nghị giữa các dân tộc trên thế giới. Với
những cống hiến to lớn của Ngời đối với dân tộc và thế giới nên tổ chức
UNESCO (1987) đã đánh giá: Chủ tịch Hồ Chí Minh là một biểu tợng
kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc đã cống hiến trọn đời mình cho
sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc
đấu tranh chung của các dân tộc vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và
tiến bộ xã hội và những t tởng của Ngời là hiện thân của những khát
vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc của mình và
tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau (Hội thảo quốc tế Chủ
tịch Hồ Chí Minh - anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá lớn. Nxb
KHXH - HN 1990).
Cách mạng Việt Nam dới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
do Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện đã liên tiếp giành hết thắng lợi này
đến thắng lợi khác. Một trong những nhân tố tạo nên thắng lợi là nhờ có đ -
ờng lối quốc tế đúng đắn mà cốt lõi là chiến lợc đoàn kết quốc tế của Hồ
Chí Minh. Chiến lợc đoàn kết quốc tế là một nội dung quan trọng trong hệ
thống t tởng Hồ Chí Minh.
Có đợc t tởng về chiến lợc đoàn kết quốc tế đúng đắn là do Hồ Chí
Minh đã kế thừa và tiếp thu truyền thống đoàn kết của dân tộc cùng với
những hoạt động thực tiễn phong phú và sự mẫn cảm chính trị của mình,
Nguyễn ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin thông qua Sơ thảo
bản luận cơng về dân tộc và thuộc địa của Lênin. Bản luận cơng đã đề
cập đến những vấn đề có tính cấp thiết và toàn diện và nhờ có bản luận c-
1
ơng mà Nguyễn ái Quốc có sự thay đổi hẳn về chất. Ngời đã tìm ra con đ-
ờng cứu nớc đúng đắn cho cách mạng Việt Nam và trở thành ngời chiến sĩ
khác nhau, Nguyễn ái Quốc đã thực hiện đúng t tởng của Lênin về đoàn
kết các dân tộc bị áp bức và đoàn kết họ với vô sản ở tất cả các nớc. Với
nhiều hình thức nhiều con đờng Nguyễn ái Quốc đã tích cực truyền bá
chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu n ớc ở
Việt Nam và các nớc trên thế giới.
Tuyệt đối trung thành với lý tởng cộng sản chủ nghĩa, quan tâm đến
sự phát triển và thắng lợi của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.
Hồ Chí Minh đã phấn đấu không mệt mỏi vì sự nghiệp cách mạng vô sản
trên thế giới. Bởi vì lý tởng cộng sản chủ nghĩa, phong trào cộng sản và
công nhân quốc tế, gắn bó mật thiết, góp phần to lớn vào thắng lợi của
cuộc đấu tranh cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của nhân dân Việt
Nam. Hồ Chí Minh nhận thức sâu sắc rằng muốn chiến thắng kẻ thù chung
của giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức toàn thế giới thì cần thiết phải
xay dung đoàn kết quốc tế vững mạnh. Ngời nhấn mạnh: Đoàn kết nhất
trí trên nền tảng chủ nghĩa Mác Lênin giữa các Đảng anh em, nhất là
giữa Đảng Cộng sản Liên Xô và Đảng Cộng sản Trung Quốc là điều kiện
quan trọng nhất để đảm bảo cho phong trào cộng sản và công nhân toàn
thắng trong cuộc đấu tranh vĩ đại cho tơng lai tơi sáng của toàn thể loài
ngời (Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 10, tr. 235. Nxb CTQG - H.1996).
Tình đoàn kết quốc tế nói chung và đoàn kết gắn bó giữa các nớc
XHCN trên tinh thần quốc tế vô sản nói riêng luôn là điều chiếm nhiều
tâm huyết trong suy nghĩ của Hồ Chí Minh, vì vậy trớc lúc đi xa, việc bất
hoà giữa các nớc XHCN là điều day dứt trong tâm can Ngời, trong bản di
chúc Ngời tỏ rõ sự lo âu của mình: Là một ngời suốt đời phục vụ cách
mạng, tôi càng tự hào với sự lớn mạnh của phong trào cộng sản và công
nhân quốc tế bao nhiêu, thì tôi lại càng đau lòng bấy nhiêu về sự bất đồng
3
hiện nay giữa các Đảng anh em. Tôi mong rằng Đảng ta sẽ ra sức hoạt
động góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các Đảng
anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản
kết quốc tế.
Thấm nhuần quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, coi đoàn kết
quốc tế của giai cấp vô sản là vấn đề chiến lợc của cách mạng, từ khi trở
thành ngời cộng sản, Hồ Chí Minh phấn đấu cho sự đoàn kết quốc tế rộng
lớn nhằm mục tiêu giành độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam. Độc lập, tự
do là quan điểm nhất quán, xuyên suốt, là mục tiêu, động lực và cơ sở tạo
dựng chiến lợc đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế của Hồ Chí Minh.
Quan điểm dó kết hợp hài hoà biện chứng giữa dân tộc và giai cấp, quốc
gia và quốc tế, dộc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Trên hành trình tìm đờng cứu nớc, khi bắt gặp thắng lợi của cách
mạng Tháng mời Nga và đợc lý luận Mác - Lênin soi sáng, Hồ Chí Minh
đã xác định đợc con đờng cứu nớc đúng đắn: Muốn cứu nớc, giải phóng
dân tộc không có con đờng nào khác con đờng cách mạng vô sản. Nội
dung cốt lõi của con đờng cách mạng vô sản là độc lập dân tộc gắn với
CNXH. Từ đó mục tiêu độc lập, tự do của dân tộc luôn là t tởng cơ bản,
cốt lõi, nhất quán, xuyên suốt trong t tởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải
phóng dân tộc.
Để giành độc lập tự do cho dân tộc trong điều kiện chủ nghĩa đế
quốc thống trị nhiều nớc trên thế giới, Hồ Chí Minh hiểu rằng không thể
chiến thắng đợc kẻ thù nếu không có sự đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế
để tạo sức mạnh tổng hợp to lớn. Với nhận thức đó, Hồ Chí Minh là ngời
đầu tiên đã gắn phong trào cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạng
thế giới, xác định rõ các mối quan hệ mới của cách mạng Việt Nam: quan
hệ với cách mạng vô sản, quan hệ với phong trào giải phóng dân tộc ở các
nớc thuộc địa, phụ thuộc.
Theo Hồ Chí Minh muốn thực hiện đợc đoàn kết quốc tế điều đầu
tiên là phải xác lập vị trí của Việt Nam trên trờng quốc tế. Mỗi quốc gia,
5
mỗi một dân tộc không thể phát triển đợc nếu nh không mở rộng quan hệ
với thế giới bên ngoài. Hồ Chí Minh sớm nhận rõ một trong nguyên nhân
chủ, không ỷ lại, trông chờ, phải tự mình giải phóng cho mình. Đây là
quan điểm rất sáng tạo của Hồ Chí Minh, dựa trên cơ sở thực tiễn ở các n-
ớc thuộc địa, tiềm ẩn sức mạnh to lớn. Điều này đợc Hồ Chí Minh nói tới
từ năm 1921 trong Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ: Đằng sau
sự phục tùng tiêu cực ngời Đông Dơng đang giấu một cái gì đang sôi sục,
đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm khi thời cơ đến. Thực tiễn
lịch sử Việt Nam và các nớc thuộc địa giành độc lập trong thế kỷ XX
chứng minh luận điểm của Ngời là đúng. Đây là cống hiến quan trọng của
Hồ Chí Minh đối với cách mạng thế giới trên lĩnh vực chiến lợc cách
mạng.
Để giành độc lập, tự do thực sự, Hồ Chí Minh xác định rõ: cách
mạng thuộc địa phải phát triển theo phơng hớng XHCN thì mới giành đợc
thắng lợi triệt để. Nắm vững lý luận Mác - Lênin về bản chất đặc tr ng của
CNXH, CNCS, Hồ Chí Minh cho rằng: Chỉ có CNCS mới cứu nhân loại,
đem lại cho mọi ngời không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do,
bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi ngời và
vì mọi ngời, niềm vui, hoà bình, hạnh phúc. (HCM Toàn tập - Tập 1- tr.
461 - Nxb CTQG - H 1995). Bằng lý luận và thực tiễn Hồ Chí Minh đã
làm ch o các dân tộc thuộc địa nhận thức rõ CNXH là phơng hớng, mục
tiêu của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, là con đờng tiến lên của
các dân tộc thuộc địa sau khi giành đợc độc lập. Vì vậy đấu tranh cho độc
lập tự do của dân tộc cũng nhằm đấu tranh cho thắng lợi của CNXH.
Độc lập cho tổ quốc, tự do cho đồng bào đợc Hồ Chí Minh đặt thành
nhiệm vụ hàng đầu nhng lại nhà nhiệm vụ khó khăn nhất và Ngời kiên trì
t tởng này, đấu tranh với những quan điểm tả khuynh chỉ nhấn mạnh
một chiều đấu tranh giai cấp và Ngời còn đấu tranh với những quan điểm
đánh giá thấp cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do của các dân tộc thuộc địa.
Từ thực tiễn đấu tranh cách mạng, quan điểm giơng cao ngọn cờ độc
lập, tự do của Hồ Chí Minh đợc Đảng ta tiếp thu trong quá trình lãnh đạo
7
8
hoạt động tích cực trong phong trào cộng sản công nhân quốc tế. Trong
khi hoạt động không mệt mỏi cho sự đoàn kết quốc tế rộng lớn, trong khi
khẳng định sự cần thiết của doàn kết quốc tế, Hồ Chí Minh đã xác định
vai trò quyết định nhất vẫn là sự nỗ lực chủ quan của cách mạng mỗi nớc,
phải nêu cao ý chí độc lập tự chủ, tự lực tự cờng của cách mạng nớc mình.
Quan điểm này của Ngời xuất hiện rất sớm. Ngay từ sau sự kiện gửi Bản
yêu sách của nhân dân An Nam đến Hội nghị hoà bình Véc xây năm
1919 đòi tự do, dân chủ cho nhân dân Việt Nam nhng không đợc trả lời.
Thực tế đó cho Ngời rút ra kết luận quan trọng: Muốn đợc giải phóng,
các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy vào lực l ợng của bản
thân mình.
Hoạt động trong phong trào cộng sản công nhân quốc tế, Nguyễn ái
Quốc thấy đợc tình trạng thờ ơ của giai cấp vô sản chính quốc đối với
phong trào giải phóng ở nớc thuộc địa, và đã nhiều lần Ngời phê phán
Đảng Cộng sản Pháp là cha quan tâm đến nớc thuộc địa. Tình hình ấy
Nguyễn ái Quốc nhận thấy không thể trông cậy vào sự giúp đỡ của cách
mạng chính quốc, mà cách mạng thuộc địa phải chủ động, phải tự lực,
đứng lên tự giải phóng. Trong tuyên ngôn của Hội liên hiệp thuộc địa do
Ngời khởi thảo viết: Anh em phải làm thế nào để giải phóng? Vận dụng
công thức của C.Mác, chúng tôi xin nói với anh em rằng: công cuộc giải
phóng anh em chỉ có thể thực hiện đợc bằng sự nỗ lực của chính bản thân
anh em. Từ đó Nguyễn ái Quốc luôn ý thức đợc phải nêu cao t tởng độc
lập tự chủ, tự lực tự cờng. Trong bức th gửi từ Liên Xô cho các đồng chí
trong Hội liên hiệp thuộc địa (1923) Ngời nói rõ: Chúng ta phải làm gì,
chúng ta không thể đặt vấn đề ấy một cách máy móc. Điều đó tuỳ hoàn
cảnh của mỗi dân tộc chúng ta. Đối với tôi câu trả lời đã rõ ràng: trở về n-
ớc, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện
họ, đa họ ra đấu tranh giành tự do, độc lập (HCM Toàn tập Tập 1, tr.
192 NXBCTQG HN 1995)
10
lớn đối với tiến trình cách mạng Việt Nam, thể hiện tinh thần độc lập tự
chủ, sáng tạo của Ngời.
Với cơng lĩnh chính trị đúng đắn, Hồ Chí Minh cùng với Đảng ta đã
lãnh đạo phong trào cách mạng giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc Hồ Chí Minh nêu cao t t-
ởng đặt vấn đề giải phóng dân tộc lên hàng đầu: Trong lúc này nếu không
giải quyết đợc vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi đợc độc lập, tự do cho
toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi
kiếp ngựa trâu mà quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không
đòi lại đợc (NQTW8 - 5/1941). Ngời đã chủ trơng thành lập Mặt trận
Việt Minh, đoàn kết với Lào và Cămpuchia, hớng về Liên Xô, đứng về
phía đồng minh chống phát xít. Trong thời gian này Ngời còn tranh thủ cả
Mỹ, Tởng, thêm bạn cho cách mạng Việt Nam chống phát xít Nhật. Khi
chiến tranh thế giới lần thứ 2 bùng nổ và bớc vào giai đoạn quyết liệt,
chớp thời cơ ngàn năm có một Ngời kêu gọi toàn dân ta nêu cao ý chí
độc lập tự chủ, tự lực tự cờng: Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy, đem
sức ta mà giải phóng cho ta, việc giải phóng của ta phải do ta làm lấy,
dù phải đốt cháy cả dãy Trờng Sơn cũng phải giành cho đợc độc lập.
Cách mạng Tháng Tám thành công nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời,
trong bản tuyên ngôn bất hủ Hồ Chí Minh công bố ngày 2/9/1945 thể hiện
quyết tâm: Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực
lợng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập. Cách
mạng Tháng Tám thắng lợi đã chứng minh sức sống mãnh liệt của nhân
dân ta, là thắng lợi của t tởng độc lập dân tộc tự chủ, tự lực tự cờng của Hồ
Chí Minh.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lợc, t tởng độc
lập tự chủ, tự lực tự cờng của Hồ Chí Minh lại đợc phát huy cao độ, Hồ
Chí Minh cùng Đảng ta chủ trơng tiến hành cuộc kháng chiến toàn dân,
toàn diện, trờng kỳ, dựa vào sức mình là chính với tinh thần thà hy sinh
mạng Việt Nam có quan hệ mật thiết với cách mạng Nga, giai cấp vô sản
12
Pháp và phong trào giải phóng dân tộc ở các nớc thuộc địa. T tởng ấy đợc
Hồ Chí Minh khẳng định lại lần nữa trong Cơng lĩnh đầu tiên của Đảng
(1930): Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng vô sản thế
giới, đứng về phía Mặt trận cách mạng gồm các dân tộc thuộc địa bị áp
bức và giai cấp công nhân bị bóc lột trên thế giới mà trụ cột của mặt trận
này Liên Xô. Trong lời kêu gọi nhân ngày thành lập Đảng (1930) Nguyễn
ái Quốc viết: Từ nay cách mạng Việt Nam không đơn độc nữa mà có sự
ủng hộ của cách mạng thế giới.
Nh vậy khẳng định cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách
mạng thế giới là Hồ Chí Minh đã chỉ ra sự cần thiết phải đoàn kết quốc tế
đồng thời cách mạng Việt Nam phải có nghĩa vụ, trách nhiệm với cách
mạng thế giới. Vì vậy mà trong những ngày đầu của phong trào cách mạng
Việt Nam dới sự lãnh đạo của Đảng, Hồ Chí Minh đã nói: Trên thế giới
hễ ai làm cách mạng vô sản thì đều là bầu bạn của nhân dân An Nam và
coi giúp bạn nh chính giúp mình. Với t tởng đúng đắn trong hoạt động
cách mạng của mình Hồ Chí Minh cùng Đảng ta luôn nêu cao tinh thần
đoàn kết quốc tế, mà trớc hết là đoàn kết với các nớc XHCN anh em, đặc
biệt là đoàn kết với các nớc Liên Xô và Trung Quốc mà hiệu quả sau này
cách mạng Việt Nam nhận đợc sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn của nhân dân
Liên Xô, Trung Quốc trong sự nghiệp đấu tranh vì độc lập, tự do và xây
dựng đất nớc.
Hoạt động xây dựng đoàn kết quốc tế, Hồ Chí Minh ý thức đợc tính
chất nghiêm trọng của sự chia rẽ trong phong trào cộng sản quốc tế, đặc
biệt là sự bất đồng giữa Liên Xô và Trung Quốc, Ngời đã có nhiều hoạt
động tích cực để khắc phục tình trạng đó. Tháng 11/1960 tại Hội nghị 81
Đảng cộng sản họp tại Mátxcơva, Hồ Chí Minh đã tích cực góp phần giải
quyết những bất đồng giữa Liên Xô và Trung Quốc, trong bài phát biểu
Ngời nói: Chúng ta đều là anh em ruột thịt trong đại gia đình cộng sản
nhân dân ta và nhân dân các nớc phát triển thêm sự hợp tác về chính trị,
kinh tế, văn hoá giữa các nớc bạn với nớc ta. Mục đích ấy đã hoàn toàn đạt
đợc.
14
Những hoạt động quốc tế của Hồ Chí Minh không chỉ vì lợi ích của
dân tộc, đất nớc mà còn góp phần không nhỏ vào củng cố tình đoàn kết, sự
lớn mạnh của hệ thống XHCN. T tởng về đoàn kết quốc tế của Ngời tính
đúng đắn của lý luận: Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để
tạo ra sức mạnh tổng hợp phục vụ cho sự thành công của cách mạng.
*
* *
Xuất phát từ truyền thống đoàn kết cao đẹp của dân tộc, từ tinh hoa
nhân loại, từ lý luận chủ nghĩa Mác Lênin, t tởng đoàn kết quốc tế của
Hồ Chí Minh đợc hình thành và phát triển không ngừng trong suốt cuộc
đời hoạt động cách mạng của Ngời. Những năm tháng hoạt động trong
phong trào công nhân, phong trào cộng sản và phong trào giải phóng dân
tộc Ngời đã tích luỹ đợc những kiến thức và thực tiễn kinh nghiệm phong
phú, hình thành dần đờng lối cứu nớc đúng đắn. ở Hồ Chí Minh cuộc đấu
tranh cho độc lập dân tộc và thắng lợi của cách mạng thế giới gắn liền với
nhau.
Đó là cơ sở, điều kiện để cách mạng Việt Nam có đợc sức mạnh
tổng hợp và sự giúp đỡ tận tình to lớn chiến thắng kẻ thù giành độc lập
dân tộc.
Những hoạt động quốc tế không mệt mỏi của Hồ Chí Minh đã nâng
cao tầm vóc Việt Nam từ một dân tộc nô lệ lên ngang tầm với các dân tộc
khác trên thế giới. Ngời đã đặt nền móng cho sự hợp tác, hữu nghị giữa
Việt Nam với các nớc XHCN, với các nớc trong khu vực và nhân dân yêu
chuộng hoà bình trên toàn thế giới.
T tởng đoàn kết quốc tế của Hồ Chí Minh đợc phát huy cao độ trong
cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của dân tộc ta. Ngời phân biệt