Con người trong tiểu thuyết việt nam thời kỳ đổi mới - Pdf 95

Con người trong tiểu thuyết Việt Nam
thời kỳ đổi mới Nguyễn Thị Kim Tiến Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Luận án TS. ngành: Lý luận văn học; Mã số: 62 22 32 01
Người hướng dẫn: PGS.TS. Trần Khánh Thành, PGS.TS. Đoàn Đức Phương
Năm bảo vệ: 2012 Abstract. Nghiên cứu quan niệm nghệ thuật về con người và con người trong thể
loại tiểu thuyết. Phân tích hình tượng con người trong tiểu thuyết thời kỳ đổi mới:
con người dưới góc nhìn bản chất xã hội (người lính, người nông dân, người tri thức
); con người dưới góc nhìn loại hình văn học (con người lịch sử - văn hóa, con người
"huyền thoại", con người "dị biệt"). Tìm hiểu nghệ thuật biểu hiện con người trong
tiểu thuyết thời kỳ đổi mới qua nghệ thuật xây dựng nhân vật và ngôn ngữ nghệ
thuật.

Keywords. Lý luận văn học; Nghiên cứu văn học; Tiểu thuyết; Văn học Việt Nam;
Con người

Content
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Quan niệm nghệ thuật về con người chịu sự chi phối bởi cá tính sáng tạo của nhà
văn. Khi tư duy nghệ thuật của nhà văn vận động biến đổi phù hợp với từng giai đoạn, từng
thời kỳ, từng trào lưu văn học thì quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người của nhà văn
cũng thay đổi. Vì vậy, quan niệm về con người là một trong những vấn đề then chốt của đổi

Nam thời kỳ Đổi mới. Thực hiện đề tài này, chúng tôi hướng đến hai mục đích. Thứ nhất,
chúng tôi tái khẳng định vấn đề con người luôn là đối tượng trung tâm của văn học. Thứ hai,
với tư cách là “công cụ hữu hiệu của văn học”, tiểu thuyết đã giúp nhà văn đưa tâm điểm của
văn học vào trong một trường nhìn mới đầy cởi mở và đa chiều về giá trị con người “chưa
hoàn kết” trong xã hội hiện đại.
2. Lịch sử vấn đề
Là cách hiểu, cách cắt nghĩa về con người, quan niệm nghệ thuật về con người quyết
định đến việc miêu tả, thể hiện chủ đề, đề tài, nhân vật, ngôn ngữ… trong sáng tác. Với vị trí
quan trọng như vậy, vấn đề con người luôn được các nhà nghiên cứu, phê bình văn học quan
tâm, đặc biệt là con người trong văn học Việt Nam hiện đại. Nhiều tác giả đã đề cập và lựa
chọn nó như cơ sở lý thuyết về mặt quan niệm tư duy nghệ thuật có tác động trực tiếp đến
mọi yếu tố của văn học. Chúng tôi xin đề cập một số công trình nghiên cứu trực tiếp vấn đề
này.
Đối với văn học trước 1975, các công trình tập trung nghiên cứu quan niệm con người
và biểu hiện của nó trong từng thời kỳ. Cụ thể:
Lê Thị Dục Tú có công trình Quan niệm về con người trong tiểu thuyết Tự lực văn
đoàn. Nguyễn Văn Long với Quan niệm nghệ thuật về con người và những đặc điểm của sự
thể hiện con người trong văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975. Tác giả Phùng Ngọc Kiếm
trong chuyên luận Con người trong truyện ngắn Việt nam 1945 - 1975 (bộ phận văn học cách
mạng). Đồng tác giả Nguyễn Hải Hà, Nguyễn Thị Bình ra mắt cuốn Quan niệm nghệ thuật về
con người trong văn xuôi Việt Nam sau cách mạng tháng Tám. Trong bài viết Mấy vấn đề trong
quan niệm con người của văn học Việt Nam thế kỷ XX, Trần Đình Sử nhận định con người
trong văn học mất dần tính nguyên phiến sử thi mà hiện ra chiều sâu mâu thuẫn, nhất là trong
tình cảm, đạo đức. Ở bài Con người trong văn học Việt Nam sau 1945, tác giả đã nhận định
năm 1986 các vấn đề của văn học tiền đổi mới, trong đó vấn đề về con người thế sự đời tư,
triết lý văn hóa mới thực sự trở thành bước ngoặt.
Sau 1975, văn học có sự vận động nội tại theo quy luật của văn học thời bình. Đặc biệt,
sự cởi trói tư tưởng cho văn học của thời kỳ Đổi mới, các thế hệ nhà văn đã có một sự thay
đổi căn bản về tư duy nghệ thuật, khi họ có điều kiện đánh giá lại tính chất “văn học minh
họa” một thời, được tiếp xúc giao lưu với các thành tựu văn học hiện đại phương Tây trong

người chiều sâu phức tạp của đời sống hiện đại.
Tiếp nối và kế thừa mối quan tâm về vấn đề đa dạng này, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề
tài này nhằm đánh giá rõ ràng hơn “mối bận tâm” của văn học về con người qua thể loại tiểu
thuyết sau 1986. Thứ nhất về mặt thời gian chúng tôi chọn lựa từ năm 1986 đến nay vì chúng tôi
cho rằng mốc 1986 đánh dấu sự “cởi trói” cho văn học dưới tác động của cả xã hội lẫn văn hóa tư
tưởng. Vì vậy, sự thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người theo chúng tôi cũng bộc lộ toàn
diện và mang tính chất đồng thuận rõ rệt. Thứ hai chúng tôi chỉ xét sự thay đổi quan niệm nghệ
thuật về con người qua thể loại tiểu thuyết, một thể loại có sự đổi mới sau phóng sự và thơ nhưng
lại là thể loại “xung kích” mạnh mẽ nhất trong văn học thời kỳ Đổi mới.
3. Đối tượng, phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Đề tài nghiên cứu về con người trong tiểu thuyết Việt Nam thực chất là lý giải quan niệm
nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết thời kỳ Đổi mới.
3.2. Do hiện tượng phản ánh phong phú nên trong quá trình triển khai đề tài, chúng tôi chủ yếu
tập trung vào một số tác phẩm tiểu thuyết Việt Nam trong nước sau năm 1986 - 2010 gây tiếng vang và
có dư luận. Đồng thời chúng tôi cũng có khảo sát một số hiện tượng văn học nổi bật ở hải ngoại
như: Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác; Chinatown, Pari 11- 8 và T. mất tích của
Thuận; Gió từ thời khuất mặt của Lê Minh Hà; Quyên của Nguyễn Văn Thọ, nhằm có nhìn
toàn cảnh thuyết phục hơn sự vận động về quan niệm con người của văn học thời kỳ Đổi mới.
Trong quá trình triển khai đề tài chúng tôi cũng cố gắng cập nhật những tác phẩm xuất hiện
gần đây đang được chú ý trên văn đàn nhưng chưa tạo sức thuyết phục lớn từ phía người đọc,
với mục đích mở rộng vấn đề nghiên cứu có liên quan chứ không xem đó là đối tượng khảo
sát trong toàn bộ luận án.
3.3. Từ đối tượng nghiên cứu, nhiệm vụ của luận án là:
Khẳng định vai trò, vị trí đối tượng trung tâm của văn học là con người, từ đó chúng tôi
đi đến lý giải quan niệm nghệ thuật về con người trong sự vận động và phát triển của các giai
đoạn văn học Việt Nam, cho thấy sự chi phối và biểu hiện của nó khi có sự chuyển đổi về
mặt tư duy nghệ thuật của nhà văn, đặc biệt ở thời kỳ văn học Đổi mới.
Phân chia con người dưới hai góc độ: con người bản chất xã hội và con người loại hình,
luận án nhằm chỉ ra “cõi không gian riêng” của con người qua các hình tượng tiêu biểu, thấy
được sự khác biệt của các kiểu nhân vật so với văn học trước đó. Để tăng tính thuyết phục, luận

Chương 3: Nghệ thuật biểu hiện con người trong tiểu thuyết thời kỳ Đổi mới

Chương 1
QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI VÀ
CON NGƯỜI TRONG THỂ LOẠI TIỂU THUYẾT
1.1. Quan niệm nghệ thuật về con người
1.1.1. Con người với tư cách là đối tượng chủ yếu của văn học
Vấn đề con người giữ vị trí trung tâm của mọi khoa học, là vấn đề cốt lõi của các lý luận
xã hội và nhân văn, kinh tế, quản lý… Trong văn học con người là điểm xuất phát, đồng thời
cũng là đích cuối cùng của mọi sáng tạo. Toàn bộ thế giới nghệ thuật trong văn học bộc lộ một
quan niệm thẩm mỹ về con người. Một tác phẩm văn học có thể không có nhân vật người
nhưng nó luôn phải là câu chuyện về cõi nhân sinh. Có như vậy, văn học mới làm cho con
người lương thiện hơn, nhân ái hơn và cũng làm cho con người đa dạng, phong phú, từng trải
và hiểu biết hơn.
1.1.2. Quan niệm nghệ thuật về con người - một phạm trù thi pháp học
Quan niệm là một điều cốt lõi của sáng tạo nghệ thuật. Nó cung cấp một mặt bằng để trên
đó diễn ra sự lựa chọn, khái quát, nhào nặn, tạo ra hình tượng nghệ thuật, thậm chí có thể biến đổi
hình dạng sự vật hoặc miêu tả “không chính xác” về đời sống. Theo D.X. Likhachiev, quan niệm
nghệ thuật gắn với sự miêu tả con người, cái nhìn nghệ thuật về con người trong sự miêu tả đó.
Cho nên quan niệm nghệ thuật về con người như là cơ sở trung tâm đưa văn học vào đúng quỹ
đạo “nhân học” của nó. Chừng nào chưa có sự đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về con người
thì sự tái hiện các hiện tượng đời sống khác nhau chỉ có ý nghĩa mở rộng về lượng trên cùng một
chiều sâu. Điều này chứng tỏ sự phát triển của tư duy nghệ thuật phải song hành cùng sự mở rộng,
đào sâu các giới hạn trong quan niệm nghệ thuật về con người.
1.1.2.1. Một khi đã là đối tượng của văn học, con người phải được nhìn nhận như một nhân
cách đích thực và toàn vẹn, được soi ngắm từ nhiều mối quan hệ, được thừa nhận ở mọi giá trị liên
quan tới nó. Vì vậy quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học cũng sẽ khác với quan niệm về
con người trong các hình thái ý thức xã hội khác, như triết học, mỹ học, tôn giáo…
1.1.2.2. Khi nghiên cứu quan niệm nghệ thuật về con người trong tác phẩm văn học, chúng ta
cũng thấy điểm nhìn khác nhau về con người của các nhà văn trong từng giai đoạn, từng thời kỳ.

đến vấn đề con người ở thể loại tiểu thuyết.
1.2.1. Con người trong tiểu thuyết trước 1986
1.2.1.1. Con người trong tiểu thuyết giai đoạn 1930 - 1945
Giai đoạn văn học 1930 - 1945 với sự xuất hiện của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, Thơ
Mới và văn học hiện thực phê phán đánh dấu thành tựu chuyển biến của văn học dân tộc từ
trung đại sang hiện đại với trung tâm là sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người. Nhìn
chung, văn học lãng mạn đã khẳng định được chủ thể sáng tạo độc đáo trong nghệ thuật khi
nói lên được “một nhu cầu lớn về tự do và phát huy bản ngã” (Tố Hữu). Trong khi đó, tiểu
thuyết hiện thực phê phán đã khám phá con người cá nhân ở một cấp độ mới, đó là con người
xã hội và con người cá nhân kết hợp.
1.2.1.2. Con người trong tiểu thuyết giai đoạn 1945 - 1975
Giai đoạn văn học 1945 - 1975, con người được nhìn nhận chủ yếu ở góc độ là con
người xã hội gắn với thời đại, với cộng đồng. Sự phát triển về số lượng tiểu thuyết xuất hiện
trong giai đoạn gian khổ của dân tộc đã chứng minh một điều: sự soi chiếu cùng một cái nhìn nghệ
thuật, một quan niệm về con người đã tô điểm cho nền văn học sử thi cách mạng những bức tượng
đài kỳ vĩ của con người mang lý tưởng phẩm chất cách mạng chung cho cả một dân tộc.
1.2.1.3. Con người trong tiểu thuyết giai đoạn 1975 - 1985
Với những tác động về mặt lịch sử xã hội, văn học giai đoạn này có những điểm chú ý sau:
Thứ nhất, bàn tay tác giả tác động vào đời sống nhân vật còn lộ liễu, chưa mạnh dạn khai
thác những vấn đề liên quan đến cá nhân con người. Vấn đề con người vẫn được phân tuyến rõ
ràng: tiêu cực - tích cực, tốt đẹp - tha hóa, chúng ta - chúng nó, tiến bộ - bảo thủ. Nhân vật có
sự vận động tâm lý nhưng nhìn chung xung đột tâm lý vẫn diễn ra ở bên ngoài, nhân vật vẫn
còn mang tính “quá trình”. Đã xuất hiện con người cá nhân, nhưng con người cá nhân với vấn
đề đạo đức nhân cách được đặt trong mối quan hệ với lịch sử, tính thế sự chưa đậm nét.
Thứ hai, hình tượng con người giai đoạn này không chỉ xuất hiện như những giá trị để
khẳng định tư tưởng xả thân mà chủ yếu là sự tự khẳng định những giá trị bản thân trong
ngọn lửa cách mạng. Tức là mọi vấn đề về con người phần lớn vẫn còn quy chiếu trong tương
quan với chiến tranh cách mạng. Mặc dù vậy, đây là tiền đề cho sự đổi mới về cách nhìn con
người, nhất là bình diện con người cá nhân cho tiểu thuyết sau này.
Chúng tôi cho rằng, những chuyển biến tư duy về con người trong tiểu thuyết giai đoạn

Cùng với lớp nhà văn trưởng thành trong chiến tranh, lớp nhà văn sau này không bị ám
ảnh và ràng buộc bởi các vấn đề chính trị đạo đức, tự do trong tư duy sáng tạo, Phạm Thị Hoài,
Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái… đã đem lại cho văn học tính chất “tự vấn” với những suy tư, triết
lý, trải nghiệm của những con người tự “đi tìm nhân cách” cho mình trong đời sống tinh thần
đầy phong phú. Hiện thực bề bộn không đơn giản như trước đây càng ngày càng thúc giục
con người nhìn lại, đặt ra những câu hỏi, khái quát thành các vấn đề, rút ra chiêm nghiệm về
lẽ đời, cuộc sống, cá nhân… như một tất yếu.
1.2.2.5. Con người đa nhân cách
Trong xu hướng bùng nổ thông tin, mọi cái trong guồng quay xã hội đều biến đổi khôn
lường, con người chẳng hề có chân lý tuyệt đối nào cả, văn hóa đại chúng khiến cho con người
khó phân tuyến được đâu là cao nhã, đâu là thông tục. Khi tiểu thuyết trở thành tiếng gọi của
trò chơi mỗi nhân vật chính là cuộc thử nghiệm cái tôi nhỏ bé của con người mang trong mình
“mọi mầm mống của tình cảm con người”. Bằng thái độ không thỏa hiệp, không khoan nhượng,
các nhà tiểu thuyết đã nhận thức lại chính bản chất con người, viết chúng theo khuynh hướng đối
thoại đa chiều cho tác phẩm để có thể đi đến một kết luận: “Nhạt nhẽo là thuộc tính thứ nhất
của con người. Gồng gánh suốt đời là thuộc tính thứ hai của con người. Đau đớn thay, có thể ăn
thịt người khi đói khát, cùng cực cũng là một thuộc tính của con người”.
1.2.2.6. Con người được khai thác ở góc bản năng tính dục
Khi khai thác góc bản năng tính dục của con người, nhà văn có cơ hội dẫn dắt độc giả đến
với “những điều dị thường vốn nằm sâu trong bản chất của con người trong cuộc sống yên bình
mỗi ngày” (Oe Kenzaburo), đồng thời gửi đến thông điệp: lẽ sống của con người là yêu và
được yêu cả về thể xác lẫn tinh thần. Con người phải sống đúng với bản chất của con người.
Vì thế, khoái cảm, nhục cảm, sự giao hoan giữa đàn ông và đàn bà không có gì là xấu nếu nó
là sự thăng hoa của cảm xúc, của tình yêu. Đó chính là biểu hiện một khát vọng chính đáng
của hạnh phúc đích thực mang tính nhân bản và văn hóa trong cõi nhân sinh của con người.
1.2.2.7. “Giải thiêng” miền bí ẩn của cõi tâm linh con người
Cảm hứng giải thiêng là cách thức tiếp cận, hóa giải để làm rõ thêm miền hiện thực
trong con người mà các nhà văn giai đoạn này sử dụng chứng tỏ tâm linh vẫn tồn tại trong
cùng với con người như một chiều kích quan trọng của con người, bởi lẽ đời sống tâm linh
không phải là cái gì thần bí, “dẫu đôi khi nó cố ý khoác một cái vỏ thần bí, mà là một cái

HÌNH TƯỢNG CON NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT
THỜI KỲ ĐỔI MỚI
Nhân vật là một yếu tố không thể thiếu trong tiểu thuyết khi qua đó người đọc có thể
tìm thấy “bộ mặt con người”. Nó là chiếc cầu nối giữa “cuộc đời thực” với “cuộc đời có vẻ
thực” trong tiểu thuyết. Nói như Booth, “nhân vật là sự thể hiện con người, chứ không phải
chỉ là việc xây dựng hình thức bằng lời”. Qua thế giới nhân vật, người đọc sẽ tìm thấy những
vấn đề nhân sinh mà tác giả muốn gửi gắm, muốn sẻ chia. Vì “nhân vật là yếu tố mang theo
cảm hứng nhân văn, là sự thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người”. Việc chúng tôi phân
chia con người ở hai phương diện bản chất xã hội và loại hình văn học về cơ bản vẫn dựa vào
cơ sở xem xét trên các bình diện xã hội, mặt khác dựa trên mục đích xây dựng thể hiện để thấy
được cái nhìn cận cảnh, khu biệt tương đối cho thấy tính chất làm mới của các nhà văn khi viện
giải tính đa trị, đa sự, phiền nhiễu phức tạp ở cả những mặt phẩm chất, bản chất, cấu trúc bên
trong của từng số phận cá nhân con người thế sự. Dựa vào cách phân chia này, sẽ xuất hiện
khá nhiều hình tượng, tuy nhiên, chúng tôi chỉ đưa ra một số hình tượng theo chúng tôi, có
tính chất nổi bật nhất để khảo sát, qua đó thấy rõ tính đổi mới tư duy nghệ thuật của nhà văn
về con người.
2.1. Con người dưới góc nhìn bản chất xã hội
2.1.1. Người lính
Tiểu thuyết sau 1986 đã trả về cho đời sống nhân vật người anh hùng khát vọng chính
đáng của họ từ nhiều phương diện. Tuy vậy, trong khuôn khổ luận án, chúng tôi chỉ dừng lại
khai thác hai biểu hiện mới được tiểu thuyết tập trung hơn cả so với văn học trước 1975. Mục
đích của chúng tôi là để thấy rõ quá trình nhận thức lại của văn xuôi nói chung, tiểu thuyết
nói riêng về bản chất chiến tranh gắn liền với những trăn trở liên quan đến vấn đề dục vọng,
nhân tính, bi kịch đớn đau của người lính trở về từ cuộc chiến.
2.1.1.1. Con người cá nhân bi kịch
Xét ở khía cạnh làm mới về người lính, tiểu thuyết giai đoạn này đã làm tròn nhiệm vụ
lấp đầy khoảng cách con người cá nhân ẩn sâu nơi những người từng cầm súng một thời. Khi
họ may mắn được trở về với đời thường cũng là lúc họ nhận thấy mình gánh trên vai bi kịch
của số phận chính họ. Đó là di chứng rõ rệt còn lại ở nỗi đau về thể xác và tinh thần, đi kèm
là nỗi khát khao bất thành trong đời sống hiện tại.

2.1.3. Người trí thức
Bước sang giai đoạn sau 1986, những người đại diện cho trí thức đương thời, theo yêu
cầu khách quan của xã hội, chính là những người có sứ mạng phổ biến, duy trì, phát triển văn
hóa của dân tộc. Nhờ không khí cởi mở của đổi mới xã hội và văn học, nhà văn có quyền và
nhu cầu công bố những tư tưởng riêng của mình để có thể phát ngôn về nhiều vấn đề xã hội
khác nhau. Cho nên, nhân vật người trí thức đã trở lại với một diện mạo mới, chân thực và
toàn diện hơn.
2.1.3.1. Con người của lương tri và trí tuệ
Đặt người trí thức trước sự xô bồ, hỗn tạp đầy nghịch lý của thực tế cuộc sống một cách
chân thực, với những bác sĩ Chiểu (Đêm thánh nhân), Tự, Kha (Đám cưới không có giấy
giá thú), Toàn, Hiệp, Trang (Người và xe chạy dưới ánh trăng)… đều là những trí thức đã
chọn sự cống hiến hết mình cho sự nghiệp, cho lẽ phải. Trong thời đại của tri thức ngày nay,
xã hội vẫn luôn cần có những con người có kiến thức, tài năng thực sự bên cạnh một ý chí,
sức sống, niềm tin và nhiệt huyết để có thể làm cho cuộc sống này tốt đẹp hơn. Đó chính là
“một kiểu trí thức “tự do và dấn thân” của thời kỳ hậu hiện đại” (Trần Huyền Sâm).
2.1.3.2. Con người của sự mưu toan, tư lợi, ích kỷ, hám danh
Trước 1945, người trí thức tha hóa được khai thác chủ yếu ở phương diện đạo đức và
nhân tính. Sau 1986 kiểu dạng tha hóa của trí thức đã có những điểm khác. Họ thực sự là
những kẻ không thắng được những ham muốn dục vọng, những ti tiện tráo trở, đánh mất tình
nghĩa, có khi cuối cùng trở thành những kẻ “lạnh tanh, tàn nhẫn, nhạt nhẽo đến ghê cả
người”. Như vậy, sự trở lại của con người trí thức đánh dấu một thay đổi quan trọng trong
quan niệm về con người với sự thức tỉnh của ý thức cá nhân, cũng như sự thay đổi về bản
chất văn chương.
2.2. Con người dưới góc nhìn loại hình văn học
Như chúng tôi đã đề cập ở trên, bức màn “linh thiêng” của nhân vật dần dà được các
tiểu thuyết gia giải thiêng cho nó theo nhiều cách khác nhau. Nhân vật thời kỳ này về mặt cấu
trúc và chức năng đã có sự khác biệt so với văn học trước đây. Do đó, xem xét ở góc độ loại
hình mục đích của chúng tôi là để nhận diện chiều sâu bên trong về con người ở những đặc
tính nổi bật.
2.2.1. Con người lịch sử - văn hóa

Hoa - Người sông Mê ) tồn tại những công năng riêng biệt trong cõi mông lung. Cõi mông lung
ấy bên ngoài có vẻ ảo là tiếng nói một phần của mảnh bên trong cõi lòng mình. Thế giới bên trong
đó không ai giải thích một cách rạch ròi bằng năng lượng của khoa học mà chỉ có thể lý giải theo
cách của từng cá nhân trong cuộc đã tự mình chứng kiến, trải nghiệm.
2.2.2.2. Con người trên biên giới ảo - thực
Từ những bé Hon (Thiên sứ), bào thai (Thiên thần sám hối), Thương Ơi (Đêm thánh
nhân), Mai Trừng (Cõi người rung chuông tận thế)… việc phản ánh và xây dựng con
người “huyền thoại” khiến tiểu thuyết thời kỳ Đổi mới khoác lên cho các nhân vật những
nét lạ và hấp dẫn. Con người không thể là một lát cắt nguyên phiến, ngược lại con người
luôn tiềm ẩn những “cái kỳ lạ” bên trong, đòi hỏi người nghệ sĩ khai thác nhiều hơn, sâu
hơn cái mảnh tưởng như phi lý để tạo nên tính chất đa nguyên của bản thể con người. Qua
tiếp xúc với thế giới con người ấy như nhà văn Hồ Anh Thái đã nói: “những gì ta thấy, ta
nghe, ta trải nghiệm là chưa đủ. Hiện thực còn là cái ta cảm nữa”. Đó là lý do tại sao trong
cõi sâu xa, bí ẩn của những con người huyền thoại, thế giới thực của họ không bị ảo hóa mà
chúng vừa hết sức mới lạ, hấp dẫn vừa gần gũi, bình dị và thân quen.
2.2.3. Con người “dị biệt”
Con người trong tư duy nghệ thuật của nhà văn ở điểm này, theo chúng tôi không nhấn mạnh
đến yếu tố hoang đường mà chú trọng ở tính chất “dị biệt”. Đó là những người (nhân vật - chúng tôi
nhấn mạnh) sinh ra là con người nhưng lại gặp những điều bất thường (xét cả mặt tích cực lẫn tiêu
cực).
2.2.3.1. “Méo mó” về thể xác
Với một loạt các nhân vật như lão Quềnh, Mùi, Bàng, anh Ba và cô Tư, Tòng Út…
chưa bao giờ trong tiểu thuyết lại tập hợp đông đảo số lượng những con người dị biệt đến thế.
Họ không phải là mặt trái của xã hội mà có khi chỉ là một góc khuất của xã hội và văn học
đang được tiểu thuyết “sát nhập” vào khả năng phản ánh hiện thực của thể loại. Không phải
là lột trần, các nhà tiểu thuyết đang cố gắng khám phá cuộc sống của những con người bất
hạnh, một phần của xã hội hôm nay. Trong những con người này vẫn luôn mong muốn khát
khao tận hưởng những cảm giác cuộc đời mang lại trong sự an bình, tình yêu, hạnh phúc và
sẻ chia.
2.2.3.2. “Lệch lạc” về tinh thần

đối nghịch” giữa ngoại hình bên ngoài với phẩm chất, tính cách bên trong, qua đó xây dựng
con người theo những “xung lực” vừa thuận chiều vừa nghịch chiều đầy bất ngờ của số phận
(Đám cưới không có giấy giá thú, Những mảnh đời đen trắng, Hồ Quý Ly).
Như vậy, các nhà văn xây dựng nhân vật (ngoại hình, tính cách, hành động) không còn
dập khuôn theo truyền thống mà đã nâng con người nhân vật lên một mức cao. Không chỉ là
làm nổi một tính cách tiêu biểu, nét đặc tả ngoại hình nhân vật, nhà văn còn tạo nên nét cá
tính hóa, dị biệt hóa cho nhân vật trong một môi trường đã bị phá vỡ tính điển hình. Nhân vật
không còn được xác định hoàn toàn bằng sự hiện diện lý lịch đầy đủ mà nó tồn tại bằng
những hành vi, những ứng xử trước mọi hoàn cảnh, trong đó tác giả không cần giải thích vì
không thể giải thích mà chỉ có thể quan sát.
3.1.1.2. Miêu tả trực tiếp tâm lý qua nội tâm
Nhà văn đã đưa những xung đột nội tâm trải dài qua cả điểm nhìn bên ngoài lẫn bên trong,
nhưng tính chất “toàn tri” không được hé lộ mà để tự nội tâm nhân vật bộc lộ ra ngoài. Nhờ việc
làm này mà tiểu thuyết giai đoạn sau 1986 đã khác trước. Thay vì khi miêu tả tâm lý, nhà văn
quan tâm đến kết quả của quá trình tâm lý, thì nay hính bản thân quá trình đó tự thể hiện không
chỉ bằng lời kể có tính chất hướng ngoại, mà bằng xu hướng tự hướng nội, tự bộc lộ những nỗi
niềm suy tư sâu kín, phơi bày tiến trình vận động tự thân của tư duy và những xúc cảm đa chiều
của con người.
Qua một số dẫn giải trên, chúng tôi đi đến nhận định: nhà văn sau 1986 đã đặt xung đột
nội tâm nhân vật trên phương diện con người cá nhân - đời thường, do đó đặc điểm tâm lý
mang tính cá nhân, cá biệt thuộc về nhu cầu bản thân bên trong của nó, quy chiếu vào những
biến cố trong tâm hồn nhân vật để người đọc tìm thấy bóng dáng của hiện thực xã hội. Nhờ
khai thác đắc địa khía cạnh này mà những tiểu thuyết như Sông Côn mùa lũ, Gia đình bé mọn,
Tiểu thuyết đàn bà, Hồ Quý Ly, Mẫu thượng ngàn… đã tạo nên ấn tượng khó quên về hình
tượng nhân vật.
3.1.2. Tiếp cận nhân vật với bút pháp hiện đại
3.1.2.1. Xây dựng nhân vật theo lối “ẩn danh”
Đó là “những nhân vật không nổi lên bằng một nét hình dung diện mạo rõ rệt nào, một
cá tính nào, một đường viền lịch sử nào”, nó chỉ được tái hiện qua những mẩu, những mảnh,
có khi chỉ là những ý nghĩ. Trong tiểu thuyết Việt Nam hiện nay (Pari 11 tháng 8, T. mất

Đặc điểm này nổi bật nhất là ở tiểu thuyết lịch sử, tức tác phẩm lấy lịch sử làm đề tài,
làm cảm hứng sáng tạo nghệ thuật, có nghĩa đòi hỏi hoàn cảnh, nhân vật gần như không có sự
“sai trật” về thời gian sự kiện.
Nhờ lớp ngôn ngữ xác nhận có tính lịch sử cụ thể, người đọc có thể khám phá được đời
sống bên trong của mỗi thời đại cũng như hiểu được tâm hồn con người qua mỗi thời kỳ biến
thiên của lịch sử xã hội. Mặt khác, nó cho thấy các nhà văn khi lựa chọn tiểu thuyết lịch sử,
đã một phần nào đó thể hiện sự kết hợp giữa tư duy hiện đại và cổ điển trong việc chuyển tải
ngôn từ.
3.2.2. Ngôn ngữ giản dị, tự nhiên, dễ hiểu
Một khi được xem là chất liệu, phương tiện biểu hiện mang tính đặc trưng của văn học
thì ngôn ngữ tiểu thuyết vẫn được cho là ngôn ngữ gần gũi tới mức tối đa với đời sống. Vì
vậy, đây là một đặc điểm cho ta thấy tính linh hoạt của ngôn ngữ trong văn học sau 1986.
3.2.3. Ngôn ngữ mang màu sắc dân gian
Chưa bao giờ trong văn chương hiện đại mật độ xuất hiện kiểu lời ăn tiếng nói dân gian
được đưa vào miệng nhân vật nhiều như trong tiểu thuyết giai đoạn này. Việc đưa vào tính chất
suồng sã, bớt đi vẻ trang trọng, nghi thức, các nhà văn phần nào thể nghiệm được “những thành
phần ngôn ngữ mới theo định hướng rút ngắn triệt để khoảng cách nghệ thuật vào dòng chảy xô
bồ, ào ạt của đời sống” đã thực sự làm rung chuyển lối văn mực thước, đưa đẩy tạo nên “tư thế
dân chủ bình đẳng giữa con người với con người”.
3.2.4. Ngôn ngữ có tính thế tục
Một khi ý thức ngôn ngữ trở nên tự giác hơn, văn chương không nhất thiết phải đặt mình
trong sự câu nệ, khách sáo, đó cũng là thời điểm đánh dấu cho sự phong phú của ngôn ngữ ở
nhiều mặt du nhập vào khu vườn sáng tạo ngôn từ của các thể loại văn học. Tính chất trần tục,
bụi bặm, thậm chí đôi khi thô tục được đẩy vào phát ngôn của nhân vật nhiều khi khiến người
ta phải giật mình. Thứ “ngôn ngữ sinh hoạt thế sự” (Nguyễn Thị Bình) ùa vào trong lời ăn tiếng
nói của tác phẩm tuy còn đôi chỗ gắng gượng, gò ép, dung tục trong tiểu thuyết của Ma Văn
Kháng, Chu Lai, Nguyễn Bình Phương, Tạ Duy Anh… nhưng đã góp phần làm nên hiệu ứng
nghệ thuật tích cực trong từng tác phẩm, bỏ xa lối văn đạo mạo, kín kẽ, chải chuốt bóng mượt
“từ đầu đến chân” của văn học giai đoạn trước. Mặt khác nhà văn đã rút ngắn khoảng cách giữa
tác giả - nhân vật - người đọc, đưa tác phẩm gần gũi và thật như cuộc sống vậy.

văn xuôi, và theo chúng tôi, thời văn xuôi đó với đại diện tiêu biểu nhất lại thuộc về thể loại
tiểu thuyết. Với dung lượng lớn, nó sẽ là thể tài đáp ứng yêu cầu nhận thức, phân tích con
người và xã hội hiện thời. Văn hào Pháp Lui Aragon nhận định: đặc tính khác thường của
tiểu thuyết là nó có năng lực “hư cấu ra những chuyện bịa” nhưng cái được bịa trong tiểu
thuyết là cơ sở của sự thật trong đó nó đã “cố gắng đo con người bằng những thước đo nhân
bản hơn, nó muốn hiểu con người trong những hoàn cảnh thay vì áp những hoàn cảnh cho
con người”.
Tiểu thuyết trong hành trình khám phá con người từ cao trào Đổi mới đã đi vào “những
trăn trở, bức xúc về con người trong niềm khát khao tác động vào xã hội, thay đổi hoàn cảnh
sống để có mặt bằng văn hóa cao hơn, điều kiện vật chất tốt hơn cho sự phát triển tính người
lành mạnh” khiến cho mọi bình diện về con người đã được các nhà văn khai thác một cách có
chiều sâu. Qua các vấn đề đã được triển khai ở trên, chúng tôi xin rút ra một số kết luận như
sau:
1. Sự ra đời của chủ nghĩa cá nhân trong cao trào Đổi mới đã cho thấy sự phân hóa
nhân cách mãnh liệt. Con người luôn hội tụ đầy đủ các cực sáng - tối của nhân cách cá nhân,
mở ra một khả năng cảm nhận rộng lớn hơn khi chạm vào những ngóc ngách sâu kín nhất
trong mỗi con người. Con người khi tự nghiệm ra mình không hoàn thiện, cũng đồng thời
nhận ra những khoảng không hư ảo chứa đựng những điều mà mình không biết xung quanh
cõi sống của mình. Có thể nói văn học thời kỳ Đổi mới đã thể hiện một nỗi lo âu về nhân tính
không hoàn bị của con người, các nhà văn đang cố lý giải nhiều chiều kích về con người
hướng đến vẫn là cái nhìn nhân bản trong cái nghĩa như L. Tolstoi đã từng nói: con người
thường hoàn toàn không giống bản thân mình tuy vẫn cứ chỉ là chính mình.
2. Không nhằm mục đích thống kê và miêu tả thuần túy, chúng tôi cố gắng khám phá
những cách tân riêng khi nhà văn quan niệm về con người theo những tiêu chí khu biệt nhất
định. Việc dừng lại khai thác con người ở góc độ bản chất xã hội với: người lính, người trí
thức, người nông dân, mục đích của chúng tôi là tìm ra những điểm khai thác mới của tiểu thuyết
thời kỳ Đổi mới khi tái hiện lại những con người bình thường của cuộc sống hôm nay.
Sau những gì đã được viết trước 1975, chiến tranh - người lính vẫn là “một kho chất liệu
không thể nào vơi cạn còn nằm sâu trong ký ức của con người” khiến tiểu thuyết sau 1986 chuyển
vào quỹ đạo mới về cuộc sống và số phận con người, gắn với số phận dân tộc qua sự soi rọi

người dưới góc nhìn lịch sử văn hóa, con người “huyền thoại”, con người “dị biệt”. Qua đó,
chúng tôi đi đến khẳng định tính đổi mới của tiểu thuyết, đồng thời cho thấy một sự thay đổi
lớn lao, yêu cầu về một con người mới trong văn học đã hình thành, thể hiện những nỗ lực
đáng trân trọng trong việc đi sâu khám phá đời sống vốn phức tạp của con người với một thái
độ khách quan, trung thực, thẳng thắn và không kém phần tinh tế của các tiểu thuyết gia.
Việc mở rộng con người lịch sử qua yếu tố lấy chân thực lịch sử kết hợp với hư cấu nghệ
thuật giúp nhà văn có cơ hội “chất vấn” nhận thức về chân lý của lịch sử. Tư duy lịch sử của
nhà văn được soi chiếu qua quan niệm nghệ thuật về con người, biến con người thành mục đích
chuyển tải giá trị tư tưởng dưới “lớp bọc” của đường viền lịch sử nhằm nhận thức rõ hơn thời
đại con người được đặt trong bối cảnh lịch sử. Mặt khác, việc lý giải con người lịch sử với tính
chất hồi cố lịch sử thông qua lăng kính của ý thức các cá thể, nhà văn đã cắt nghĩa thêm một
cách nhìn mới về con người khi phản ánh trung thực số phận của con người hiện tại.
Trên thực tế, đời sống phức tạp của con người luôn là một chiều bí ẩn chúng ta không
thể giải thích bằng đầu óc duy lý thông thường. Sự hiện hữu con người huyền thoại cũng dựa
trên tiêu chí thực ảo đã được các nhà văn khai thác vào văn học. Việc nhà văn xây dựng con
người huyền thoại theo chúng tôi đã làm thành hai mục đích phản ánh qua tiểu thuyết. Một là
mở ra khả năng nhận thức những điều bí ẩn ở con người. Hai là cho thấy sự khao khát hòa
nhập một cuộc sống bình dị.
Đi sâu tìm hiểu tính chất dị biệt của con người trong tiểu thuyết thời kỳ Đổi mới, chúng
tôi tập trung lý giải cách cắt nghĩa của nhà văn ở khía cạnh cuộc đời bất thường của những
con người cả về mặt thể xác lẫn tinh thần. Qua đó cho thấy sự nỗ lực “lạ hóa” của các nhà
văn khi xây dựng nhân vật để làm rõ cái nhìn mới về hiện thực đời sống trong thời kỳ hiện
đại. Đồng thời bộc lộ rõ nét nhất tính chất “nhân đạo hóa” con người của văn học.
4. Trong nghệ thuật xây dựng nhân vật, luận án phân tách hai yếu tố truyền thống và
hiện đại được kết hợp sử dụng trong tiểu thuyết ở một phạm vi nhất định nào đó, qua đó
khẳng định, các nhà tiểu thuyết đương đại đang nỗ lực cho những cách tân táo bạo về con
người.
Phần lớn tiểu thuyết của chúng ta đến nay vẫn đang cựa quậy trong cái khung thể loại
truyền thống. Khá nhiều nhà văn trong tác phẩm của mình khi khám phá nội dung hiện thực,
mục đích là để làm nổi bật tính cách số phận, các mối quan hệ giữa con người với hoàn cảnh.

độc đáo cả về mặt nội dung và hình thức thể loại. Tiểu thuyết hiện nay đã và đang có những
bước chuyển động mạnh mẽ ở nhiều phương diện. Vì vậy, qua đề tài này chúng tôi một lần
nữa tái khẳng định hy vọng về một tiền đồ sáng sủa của tiểu thuyết Việt Nam trong tương lai
gần, khi nối tiếp những nhà văn tiền bối là thế hệ những nhà văn trẻ giàu nhiệt huyết, dám thể
nghiệm, tìm tòi, sáng tạo về thể loại, thể hiện cá tính văn chương trên cánh đồng chữ nghĩa
đầy nhọc nhằn để đi tìm cách tiếp cận mới mẻ về cõi người và cõi đời của kiếp nhân sinh. References
A. DANH MỤC TÁC PHẨM
1. Tạ Duy Anh (2004), Lão Khổ, Thiên thần sám hối, NXB Hội nhà văn.
2. Tạ Duy Anh (2008), Đi tìm nhân vật, NXB Tổng hợp Đồng Nai.
3. Đỗ Vĩnh Bảo (2009), Cõi tiền, NXB Văn học.
4. Mạc Can (2004), Tấm ván phóng dao, NXB Hội nhà văn.
5. Văn Chinh (2006), Góa chồng một thế kỷ, NXB Thanh Niên.
6. Nguyễn Đình Chính (2008), Đêm thánh nhân, NXB Văn học.
7. Châu Diên (2003), Người sông Mê, NXB Hội nhà văn.
8. Nguyễn Mộng Giác (2003), Sông Côn mùa lũ, NXB Văn học.
9. Lê Minh Hà (2005), Gió từ thời khuất mặt, NXB Hội nhà văn.
10. Võ Thị Xuân Hà (2004), Tường thành, NXB Hội nhà văn.
11. Nguyễn Việt Hà (2007), Cơ hội của Chúa, NXB Hội nhà văn.
12. Nguyễn Việt Hà (2005), Khải huyền muộn, NXB Hội nhà văn.
13. Võ Thị Hảo (2005), Giàn thiêu, NXB Phụ nữ.
14. Nguyễn Phan Hách (2003), Người đàn bà buồn, Tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới,
NXB Hội nhà văn.
15. Trần Thu Hằng (2005), Đàn đáy, NXB Hội nhà văn.
16. Phạm Thị Hoài, Thiên sứ, trên http://vnthuquan.net
17. Tô Hoài (2006), Ba người khác, NXB Đà Nẵng.
18. Nguyễn Trí Huân (2003), Chim én bay, NXB Quân đội nhân dân.
19. Dương Hướng (2004), Bến không chồng, NXB Công an nhân dân.

47. Nguyễn Văn Thọ (2009), Quyên, NXB Hội nhà văn.
48. Thuận (2005), Pari 11 - 08, NXB Đà Nẵng.
49. Thuận, T. mất tích, trên http://www.tienve.org.
50. Thuận (2009), Chinatown, NXB Văn học.
51. Phạm Ngọc Tiến (2004), Tàn đen đốm đỏ, Tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới, NXB
Hội nhà văn.
52. Nguyễn Khắc Trường (2006), Mảnh đất lắm người nhiều ma, NXB Hội nhà văn.
53. Khôi Vũ (2004), Lời nguyền hai trăm năm, NXB Thanh niên.
B. TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1. TIẾNG VIỆT
54. Trần Thị An (2007), “Sức ám ảnh của tín ngưỡng dân gian trong tiểu thuyết Mẫu
thượng ngàn”, Tạp chí Nghiên cứu văn học (6), tr.27- 47.
55. Vũ Tuấn Anh (1995), “Đổi mới văn học vì sự phát triển”, Tạp chí Văn học (4), tr.14 -19.
56. Vũ Tuấn Anh (1996), “Quá trình văn học đương đại nhìn từ phương diện thể loại” Tạp
chí Văn học (9), tr.28 - 36.
57. Vũ Tuấn Anh (2001), Văn học nhận thức và thẩm định, NXB Khoa học xã hội.
58. Lê Tú Anh (2006), “Tự truyện và tiểu thuyết trong Gia đình bé mọn” Báo Văn nghệ
(15), tr.7.
59. Nguyễn Thị Kiều Anh (2007), Một chặng đường lý luận về tiểu thuyết trong văn học
Việt Nam (chuyên luận), NXB Công an nhân dân.
60. Trần Hoài Anh, “Quan niệm về tiểu thuyết trong lý luận phê bình văn học đô thị miền
Nam 1954 - 1975”, http://vienvanhoc.org.vn.
61. Đào Tuấn Ảnh (bs) (2003), Văn học hậu hiện đại thế giới, NXB Hội nhà văn.
62. Lại Nguyên Ân, Trần Đình Sử (1983), “Văn xuôi nghiên cứu đời sống hôm nay”, Báo
Văn nghệ (24), tr.2, 11.
63. Lại Nguyên Ân (1986), “Thử nhìn lại văn xuôi mười năm qua”, Tạp chí Văn học (1),
tr.14 - 25.
64. Lại Nguyên Ân (2003), Sống với văn học cùng thời, NXB Thanh niên.
65. Lại Nguyên Ân (2003), 150 thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
66. Lại Nguyên Ân, “Tiểu thuyết và lịch sử”, http://vietbao.vn.

chí Văn học (12), tr.37 - 41.
85. Trần Cương (1995), “Văn xuôi viết về nông thôn từ nửa sau những năm 80”, Tạp chí
Văn học (4), tr.34 - 36.
86. Nguyễn Minh Châu (1989), “Bên lề tiểu thuyết”, Báo Văn nghệ (32), tr.2.
87. Anh Chi (2009), “Hiện tượng văn chương Hồ Anh Thái”, Tạp chí Nghiên cứu văn học
(8), tr.47 - 56.
88. Nguyễn Huệ Chi (1994), “Vài cảm nhận văn học Việt Nam hải ngoại”, Tạp chí Văn học
(2), tr.7 - 12.
89. Văn Chinh (2008), “Cha, con và Dòng sông Mía”, Báo Văn nghệ (48), tr.8.
90. Nam Dao, Nguyễn Mộng Giác, “Thảo luận về tiểu thuyết lịch sử”,
http://www.nhanvan.com.
91. Nguyễn Văn Dân (1997), “Dấu ấn phương Tây trong văn học Việt Nam hiện đại - vài
nhận xét tổng quan” Tạp chí Văn học (2), tr.77 - 84.
92. Nguyễn Văn Dân (2000), “Văn học phi lý - một đóng góp đáng ghi nhận cho lịch sử văn
học nhân loại”, Tạp chí Văn học (4), tr.67 - 76.
93. Nhân Dân (1983), “Văn nghệ là mặt trận, văn nghệ sĩ là chiến sĩ”, Báo Văn nghệ (23),
tr.1.
94. Donhieporop. V (1961), Những mưu toan đổi mới trong nền tiểu thuyết hiện đại (Nhiều
người dịch), NXB Văn học.
95. Dorothy Brewster & John Angus Burel (2003), Tiểu thuyết hiện đại, (Dương Thanh
Bình dịch), NXB Lao động.
96. Đỗ Đức Dục (1990), “Văn học và chiến lược”, Tạp chí Văn học (6), tr.76 - 81.
97. Trương Đăng Dung (1994), “Tiểu thuyết lịch sử trong quan niệm mỹ học của G.
Lucacs”, Tạp chí Văn học (5), tr.40 - 43.
98. Trần Ngọc Dung (2006), “Đời sống thể loại văn học sau 1975”, Tạp chí Văn học (2),
tr.91 - 97.
99. Đinh Xuân Dũng (1990), “Đổi mới văn xuôi chiến tranh”, Báo Văn nghệ (51), tr.7.
100. Đinh Xuân Dũng (1995), “Văn học Việt Nam về chiến tranh - hai giai đoạn của sự phát
triển”, Tạp chí Văn nghệ quân đội (7), tr.91 - 95.
101. Đinh Trí Dũng (1996), “Sự thể hiện con người “tha hóa” trong các tiểu thuyết hiện thực

120. Văn Giá, “Tấm ván phóng dao - sức sống của giá trị nhân văn cổ điển”,
http://evan.com.vn.
121. Văn Giá, “Thử nhận diện loại tiểu thuyết ngắn ở Việt Nam những năm gần đây”,
http://vietvan.vn.
122. Văn Giá (2006), “Sex với những xúc cảm thiêng liêng”, Tạp chí Sông Hương (11), tr.74
- 76.
123. Nguyễn Hương Giang (2001), “Người lính sau hòa bình trong tiểu thuyết chiến tranh thời
kỳ đổi mới”, Tạp chí Văn nghệ quân đội (4), tr.108 - 113.
124. Nguyễn Thị Hồng Giang, Vũ Lê Lan Hương, Võ Thị Thanh Hà (2007), Thế giới nghệ
thuật Tạ Duy Anh, NXB Hội nhà văn.
125. Chu Giang Nguyễn Văn Lưu (1996), Luận chiến văn chương, NXB Văn học.
126. Grillet. A. R (1997), Vì một tiểu thuyết mới, (Lê Phong Tuyết dịch), NXB Hội nhà văn.
127. Nguyễn Hà, “Ngồi của Nguyễn Bình Phương”, http://evan.vnexpress.net.
128. Nam Hà (1992), “Viết về đề tài chiến tranh”, Báo Văn nghệ (33), tr.2
129. Nguyễn Hà (2000), Cảm hứng bi kịch nhân văn trong tiểu thuyết Việt Nam nửa sau
thập niên 80, Tạp chí Văn học (3), tr.51 - 58.
130. Hồ Thế Hà (2006), “Văn học Việt Nam về đề tài chiến tranh - những giá trị và sáng tạo
chưa kết thúc”, Tạp chí Sông Hương (3), tr.53 - 61.
131. Trần Thanh Hà (2005), “Từ phân tâm học tìm hiểu tính hiện đại thể hiện qua tiểu thuyết
Thân phận của tình yêu của Bảo Ninh”, Tạp chí Sông Hương (5), tr.81 - 85.
132. Trần Thanh Hà (2008), Học thuyết S. Freud và sự thể hiện của nó trong văn học Việt
Nam, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
133. Nguyễn Hải Hà, Nguyễn Thị Bình (1995), Quan niệm nghệ thuật về con người trong
văn học Việt Nam sau cách mạng tháng Tám, Xưởng in giao thông, H.
134. Phạm Minh Hạc (cb) (2001), Nghiên cứu con người: đối tượng và những hướng chủ
yếu, NXB Khoa học xã hội.
135. Hoàng Ngọc Hiến, “Rộng hơn đề tài gia đình”, http://vietbao.vn.
136. Hoàng Ngọc Hiến (1989),”Cách kể trong tiểu thuyết”, Báo Văn nghệ (33), tr.6.
137. Hoàng Ngọc Hiến (2006), Những ngả đường vào văn học, NXB Giáo dục.
138. Đỗ Đức Hiểu (2000), Thi pháp hiện đại, NXB Hội nhà văn.

văn học cách mạng), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
157. Kundera. M (1998), Nghệ thuật tiểu thuyết, (Nguyên Ngọc dịch), NXB Đà Nẵng.
158. Nguyễn Văn Kha (2006), Đổi mới quan niệm về con người trong truyện Việt Nam 1975
- 2000, NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.
159. Nguyễn Khải (1984), “Văn xuôi trước yêu cầu của cuộc sống”, Tạp chí Văn nghệ quân
đội (1), tr.99 - 105.
160. Nguyễn Xuân Khánh (2001), “Về nghệ thuật viết tiểu thuyết”, Báo Văn nghệ (38), tr.3.
161. Nguyễn Xuân Khánh, “Đọc Ba người khác của bác Tô Hoài”, http://talawas.org.
162. Nguyễn Quốc Khánh (2005), “Thi pháp huyền thoại sự kiện và vấn đề”, Tạp chí Văn
hóa nghệ thuật (4), tr.140 - 142.
163. Ma Văn Kháng (1998), “Tiểu thuyết, nghệ thuật khám phá cuộc sống”, Tạp chí Văn
nghệ quân đội (11), tr.82 - 85.
164. Khoa Văn học và ngôn ngữ (2007), Huyền thoại và văn học, NXB Đại học Quốc gia
Thành phố Hồ Chí Minh.
165. Khrapchenko. M. B (1984), Sáng tạo nghệ thuật, hiện thực, con người, (Nguyễn Hải Hà,
Lại Nguyên Ân, Duy Lập dịch), NXB Khoa học xã hội.
166. Khrapchenko. M. B (2002), Những vấn đề lý luận và phương pháp luận nghiên cứu văn
học, (Trần Đình Sử tuyển chọn và giới thiệu), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
167. Thụy Khuê, “Phạm Thị Hoài, Thiên sứ”, http://thuykhue.free.fr.
168. Tương Lai (1983), “Phạm trù người của triết học Mác xít và nghiên cứu văn học”, Tạp
chí Văn học (3), tr.9 - 14.
169. Thạch Lam (1962), Theo dòng, Nxb Đời nay, Sài Gòn.
170. Tôn Phương Lan (1994), “Chiến tranh qua những tác phẩm văn xuôi được giải”, Tạp
chí Văn học, (12), tr.14 - 16.
171. Tôn Phương Lan (2001), “Một vài suy nghĩ về con người trong văn xuôi thời kỳ đổi
mới”, Tạp chí Văn học, (9), tr.43 - 48.
172. Lã Duy Lan (2001), Văn xuôi viết về nông thôn tiến trình và đổi mới, NXB Khoa học
xã hội.
173. Phong Lê (1983), “Văn học Việt Nam những năm 80”, Tạp chí Văn học (3), tr.66 - 72.
174. Phong Lê (1986), “Con người mới và nhân vật tích cực - mục tiêu theo đuổi và nhận

192. Meletinsky. E. M (2004), Thi pháp của huyền thoại, (Trần Nho Thìn, Song Mộc dịch),
NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
193. Hoài Nam (2008), “Bàn về tiểu thuyết lịch sử”, Báo Văn nghệ (45), tr.22.
194. Hoài Nam, “Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam: truyện kể hay tiểu thuyết”,
http://evan.vnexpress.net
195. Đỗ Hải Ninh, “Khuynh hướng tự truyện trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại”,
http://tapchisonghuong.com.vn.
196. Đỗ Hải Ninh (2009), “Quan niệm về lịch sử trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân
Khánh”, Tạp chí Nghiên cứu văn học (2), tr.48 - 57.
197. Nhà xuất bản văn học (1998), 50 năm nhà xuất bản văn học, NXB Văn học.
198. Vương Trí Nhàn (1986), “Số phận của tiểu thuyết: Lý thuyết không xám, lý thuyết cũng
xanh tươi”, Tạp chí Văn học (2), tr.119 - 123.
199. Vương Trí Nhàn (1987), “Một đóng góp vào việc nhận diện con người Việt Nam hôm
nay”, Báo Văn nghệ (49) + (50), tr.7, 15.
200. Vương Trí Nhàn (2007), “Đề tài lịch sử cảm hứng sáng tạo”, Báo Văn nghệ (16), tr.10.
201. Phùng Quý Nhâm (2000), “Cái nhìn của nhân vật”, Tạp chí Văn học (10), tr.28 - 30.
202. Trần Thị Mai Nhân (2008), Những đổi mới trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 - 2000,
Thư viện Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh.
203. Trần Thị Mai Nhi (1994), Văn học hiện đại - Văn học Việt Nam giao lưu - gặp gỡ,
NXB Văn học.
204. Nhiều tác giả (tổng thuật và lược dịch) (1988), Một số vấn đề tiểu thuyết hiện đại, NXB
Thông tin Khoa học xã hội.
205. Nhiều tác giả (1990), “Thảo luận về tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú”, Báo
Văn nghệ (6), tr.2, 6 - 7.
206. Nhiều tác giả (1990), “Trao đổi về Lời nguyền hai trăm năm - tiểu thuyết của Khôi
Vũ”, Báo Văn nghệ (29), tr.6.
207. Nhiều tác giả (1991), “Thảo luận về tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma”, Báo
Văn nghệ (11), tr.6 - 7, 14.
208. Nhiều tác giả (1991), “Thảo luận về tiểu thuyết Thân phận tình yêu”, Báo Văn nghệ
(37), tr.6 - 7, 14.

học (9), tr.63 - 72.
228. Mai Ngữ (1994), “Thử bàn về thế giới tâm linh”, Báo Văn nghệ (37), tr.14.
229. Mai Hải Oanh (2007), Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn
1986 - 2006, Viện Văn học, H.
230. Thanh Phúc, “Tiểu thuyết đàn bà”, http://davibooks.vn.
231. Hồ Phương (1998), “Với tôi, khuynh hướng ngợi ca vẫn là chủ yếu”, Tạp chí Văn nghệ
quân đội (11), tr.85 - 87.
232. Hồ Phương (2001), “Có gì mới trong tiểu thuyết về đề tài chiến tranh hôm nay”, Tạp
chí Văn nghệ quân đội (4), tr.106 - 108.
233. Huỳnh Như Phương (1983), “Đứng trước biển”, Báo Văn nghệ (21), tr.3.
234. Huỳnh Như Phương (1988), “Cảm hứng phê phán trong văn chương hiện nay”, Báo
Văn nghệ (24), tr.2 - 3.
235. Huỳnh Như Phương (1991), “Văn xuôi những năm 80 và vấn đề dân chủ nền văn học”,
Tạp chí Văn học (4), tr14 - 17.
236. Anh Quyên (2007), “Mất tích hay chạy trốn sự cô độc?”, Báo Văn nghệ (2), tr.12.
237. Trần Đình Sử (2000), Lý luận và phê bình văn học (những vấn đề và quan niệm hiện
đại), NXB Giáo dục.
238. Trần Đình Sử (2001), “Mấy vấn đề trong quan niệm con người của văn học Việt Nam”,
Tạp chí Văn học (8), tr.6 - 13.
239. Trần Đình Sử (cb) (2004), Tự sự học - Một số vấn đề lý luận và lịch sử Tập 1, NXB Đại
học Sư phạm.
240. Trần Đình Sử (2005), Tuyển tập Trần Đình Sử Tập 2, NXB Giáo dục.
241. Todorov (2004), M. Bakhtin - nguyên lý đối thoại, (Đào Ngọc Chương dịch), NXB Đại
học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.
242. Todorov (2008), Dẫn luận về văn chương kỳ ảo, (Lê Hồng Sâm, Đặng Anh Đào dịch),
NXB Đại học Sư phạm.
243. Todorov (2008), Thi pháp văn xuôi, (Đặng Anh Đào, Lê Hồng Sâm dịch), NXB Đại
học Sư phạm.
244. Nguyễn Chí Tình (1998), “Sự đổi mới về quan niệm nhân vật trong tiểu thuyết phương
Tây hiện đại”, Tạp chí Văn nghệ quân đội (11), tr.95 - 100.

263. Đoàn Cầm Thi (2008), “Đọc Nguyễn Bình Phương”, Báo Văn nghệ, (48), tr.11.
264. Đoàn Cầm Thi, “Từ Thiếu nữ ngủ ngày, đọc Người đi vắng của Nguyễn Bình Phương,
http://tienve.org.
265. Đoàn Cầm Thi, “Chiến tranh, tình yêu, tình dục trong văn học Việt Nam đương đại”,
http://evan.vnexpress.net
266. Nguyễn Huy Thiệp (2006), Giăng lưới bắt chim, NXB Hội nhà văn.
267. Xuân Thiều (1991), “Người và xe chạy dưới ánh trăng”, Báo Văn nghệ (4), tr.2.
268. Hữu Thỉnh (2005), “Cuộc tự vượt đáng trân trọng”, Báo Văn nghệ (37), tr.6, 14.
269. Nguyễn Huy Thông (2006), “Về cuốn tiểu thuyết Ngồi của Nguyễn Bình Phương”, Báo
Văn nghệ (51), tr.9.
270. Lý Hoài Thu (2001), “Tiểu thuyết - tầm vóc hiện thực và số phận con người”, Tạp chí
Văn nghệ quân đội (2), tr.105 - 108.
271. Bích Thu (1995), “Những dấu hiệu đổi mới của văn xuôi từ sau 1975 qua hệ thống
môtíp chủ đề”, Tạp chí Văn học (4), tr.24 - 28.
272. Bích Thu (2006), “Một cách tiếp cận tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới”, Tạp chí
Nghiên cứu văn học (11), tr.15 - 28.
273. Đỗ Thị Minh Thúy (1989), “Từ Những thiên đường mù, nghĩ về sự phản ánh bi kịch xã
hội”, Báo Văn nghệ (34), tr.6.
274. Đỗ Lai Thúy (bs) (2001), Nghệ thuật như là thủ pháp (lý thuyết chủ nghĩa hình thức
Nga), NXB Hội nhà văn.
275. Đỗ Lai Thúy (bs) (2002), Phân tâm học và văn hóa tâm linh, NXB Văn hóa thông tin.
276. Đỗ Lai Thúy (bs) (2004), Phân tâm học và văn hóa nghệ thuật, NXB Văn hóa nghệ
thuật.
277. Lộc Phương Thủy (cb) (2007), Lý luận - phê bình văn học thế giới thế kỷ XX Tập 2,
NXB Giáo dục.
278. Khuất Quang Thụy (1989), “Sự thật về con người - một đòi hỏi khe khắt của nghệ thuật
tiểu thuyết”, Báo Văn nghệ (32), tr.3.
279. Phan Trọng Thưởng (cb) (1999), Tuyển tập 40 năm Tạp chí Văn học (1960 - 1999) Tập
3, NXB Thành phố Hồ Chí Minh.
280. Hoàng Trinh (1971), Phương Tây - văn học và con người, NXB Khoa học xã hội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status