ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ KIM TIẾN
CON NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT
VIỆT NAM
THỜI KỲ ĐỔI MỚI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS. TS. Trần Khánh Thành
2. PGS. TS. Đoàn Đức Phươg
Hà Nội, 2012
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Đối tượng, phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu 10
4. Phương pháp nghiên cứu 11
5. Đóng góp mới của luận án 12
6. Cấu trúc luận án 12
Chương 1. QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI VÀ CON
NGƯỜI TRONG THỂ LOẠI TIỂU THUYẾT 13
1.1. Quan niệm nghệ thuật về con người 13
1.1.1. Con người với tư cách là đối tượng chủ yếu của văn học 13
1.1.2. Quan niệm nghệ thuật về con người - một phạm trù thi pháp học 15
1.2. Con người trong thể loại tiểu thuyết 22
1.2.1. Con người trong tiểu thuyết trước 1986 23
1.2.1.1. Con người trong tiểu thuyết giai đoạn 1930 - 1945 23
2.2.3. Con người “dị biệt” 126
2.2.3.1. “ Méo mó” về thể xác 126
2.2.3.2. “Lệch lạc” về tinh thần 130
Chương 3. NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN CON NGƯỜI TRONG TIỂU
THUYẾT THỜI KỲ ĐỔI MỚI 135
3.1. Nghệ thuật xây dựng nhân vật 135
3.1.1. Những cách tân từ truyền thống 135
3.1.1.1. Mô tả nhân vật qua phương diện bên ngoài 136
3.1.1.2. Miêu tả trực tiếp tâm lý qua nội tâm 142
3.1.2. Tiếp cận nhân vật với bút pháp hiện đại 147
3.1.2.1. Xây dựng nhân vật theo lối “ẩn danh” 147
3.1.2.2. Xây dựng nhân vật qua những mảnh vụn tâm lý, ký ức rời rạc
không liên kết 154
3.1.2.3. Xây dựng nhân vật với phương thức huyền thoại hóa 161
3.2. Ngôn ngữ nghệ thuật 171
3.2.1. Ngôn ngữ có tính lịch sử cụ thể 172
3.2.2. Ngôn ngữ giản dị, tự nhiên, dễ hiểu 175
3.2.3. Ngôn ngữ mang màu sắc dân gian 178
3.2.4. Ngôn ngữ có tính thế tục 181
3.2.5. Ngôn ngữ chứa đựng tính đối thoại và tính “cá thể hoá” cao 185
KẾT LUẬN 191
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
LUẬN ÁN ĐÃ CÔNG BỐ 197
TÀI LIỆU THAM KHẢO 198
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
cách toàn diện. Phát huy triệt để mọi khả năng thể loại, tiểu thuyết có cơ hội
đối thoại với cuộc đời, từ “cái hôm nay bề bộn, ngổn ngang bóng tối và ánh
sáng” đến những “âm vang của tiếng lòng bí ẩn trong con người” qua cấu trúc
ngôn từ “động” của nó.
Bằng việc đổi mới tư duy nghệ thuật và quan niệm thể loại, tiểu thuyết
sau Đổi mới 1986, vượt qua khung cấu trúc thể loại, đã đa dạng hóa các kiểu
hình nhân vật, mở rộng khả năng khám phá nhiều mặt khác nhau trong con
người, thể hiện sự đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về con người, nhằm
đột phá và kiến giải một “thực tại mới”. Điều này khiến tiểu thuyết khẳng
định được bước tiến của thể loại với nhiều thành tựu nổi bật hơn cả so với thơ
và truyện ngắn, nhất là ở giai đoạn văn học sau 1986, trong hành trình phát
triển của toàn bộ nền văn học Việt Nam.
Vì những lý do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài Con người trong
tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ Đổi mới. Thực hiện đề tài này, chúng tôi hướng
đến hai mục đích. Thứ nhất, chúng tôi tái khẳng định vấn đề con người luôn là
đối tượng trung tâm của văn học. Thứ hai, với tư cách là “công cụ hữu hiệu
của văn học”, tiểu thuyết đã giúp nhà văn đưa tâm điểm của văn học vào
trong một trường nhìn mới đầy cởi mở và đa chiều về giá trị con người “chưa
hoàn kết” trong xã hội hiện đại.
2. Lịch sử vấn đề
Là cách hiểu, cách cắt nghĩa về con người, quan niệm nghệ thuật về con
người quyết định đến việc miêu tả, thể hiện chủ đề, đề tài, nhân vật, ngôn ngữ…
trong sáng tác. Với vị trí quan trọng như vậy, vấn đề con người luôn được các
nhà nghiên cứu, phê bình văn học quan tâm, đặc biệt là con người trong văn học
Việt Nam hiện đại. Nhiều tác giả đã đề cập và lựa chọn nó như cơ sở lý thuyết về
mặt quan niệm tư duy nghệ thuật có tác động trực tiếp đến mọi yếu tố của văn
học. Chúng tôi xin đề cập một số công trình nghiên cứu trực tiếp vấn đề này. 3
4
dung của cuộc sống xã hội, ý thức giai cấp, ý thức dân tộc, cho nên ở thể loại
truyện ngắn, tuy đã có sự nhận thức về con người cá nhân nhưng nó lại được
đặt trong mối liên hệ có tính chất “giai cấp tính”.
Đồng tác giả Nguyễn Hải Hà, Nguyễn Thị Bình ra mắt cuốn Quan niệm
nghệ thuật về con người trong văn xuôi Việt Nam sau cách mạng tháng Tám
[133], dành nhiều trang khảo sát những cuốn tiểu thuyết gây xôn xao dư luận
một thời, trong đó các tiểu thuyết đã chú ý đến vấn đề con người cá nhân với
quan hệ gia đình, xã hội như Mùa lá rụng trong vườn, Thời xa vắng…
Trong bài viết Mấy vấn đề trong quan niệm con người của văn học Việt
Nam thế kỷ XX, Trần Đình Sử nhận định con người trong văn học mất dần
tính nguyên phiến sử thi mà hiện ra chiều sâu mâu thuẫn, nhất là trong tình
cảm, đạo đức. Tác giả đã lý giải những biểu hiện của tính phi sử thi hóa qua
việc cho thấy sự hình dung nhiều chiều, không nguyên phiến về con người.
“Ngoài ý chí, tư tưởng tình cảm còn được khắc họa ở phương diện bản năng,
vô thức, tâm linh, nghịch lý” [238;12]. Đó là hình ảnh của sự trở lại với con
người cá thể. Từ đó tác giả đi đến khẳng định phương diện thể hiện con người
trong văn học Việt Nam thế kỷ XX được thể hiện qua ba phạm trù cơ bản
phản ánh cái mới, tính độc đáo và quy luật vận động của văn học: ý thức cá
nhân, sử thi hóa và phi sử thi hóa.
Có thể nói Trần Đình Sử là một trong những người tiên phong đưa ra
những nhận định về con người được phản ánh qua sáng tác của các nhà văn
trong giai đoạn văn học Việt Nam hiện đại. Ở bài Con người trong văn học
Việt Nam sau 1945, tác giả chỉ ra cách nhìn về con người trong văn học giai
đoạn 1945 - 1954; 1954 - 1975 trong văn học chống Pháp và chống Mỹ. Ở
giai đoạn tiền đổi mới 1975 - 1985 con người vừa là đối tượng để ngợi ca hay
phê phán (như giai đoạn văn học trước) vừa là đối tượng để nghiên cứu phân
tích nhiều mặt mang khuynh hướng đạo đức thế sự. Các hiện tượng tiêu cực
của con người đã được văn học đem ra bàn tới như vấn đề chủ nghĩa cá nhân,
6
con người của văn học trong đó bộc lộ một “quan niệm tiến bộ về con người”
được thể hiện qua những điểm mới. Thứ nhất con người và hoàn cảnh, hoàn
cảnh là nhân tố dễ làm tha hóa con người. Thứ hai, văn học đề cập đến những
mâu thuẫn, những nghịch lý cuộc đời và số phận con người. Thứ ba là những
“cái con người” trong con người.
Tôn Phương Lan với Một vài suy nghĩ về con người trong văn xuôi
thời kỳ đổi mới ở Tạp chí Văn học số 9/2001 đã nêu ra vấn đề con người trong
thế tương quan so sánh qua đó khẳng định cái mới trong việc thể hiện con
người. “Nếu như trước đây con người chỉ là đối tượng hầu như chỉ để ca ngợi
hay phê phán thì giờ đây nó được nhà văn đi vào thế giới nội tâm, đi vào số
phận của họ, tìm đến những vấn đề cụ thể, đời thường mà vẫn mang ý nghĩa
nhân loại” [171;43]. Việc đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người khiến
hệ thống nhân vật trong văn xuôi có sự thay đổi về nguồn gốc tính cách, số
phận. Sự đa dạng về góc nhìn nhân vật trong các sáng tác cho thấy “con người
đang được thông hiểu, đang được nhìn nhận từ nhiều phía để được hiện lên
đúng như những gì nó có” [171;47].
Trong bài Đổi mới văn học vì sự phát triển, Vũ Tuấn Anh cho rằng
“đổi mới văn học khởi đầu từ 1986 là sự tự ý thức của văn học trên một chặng
đường mới của lịch sử và của chính nó” [55;14], trong đó văn học đã thể
hiện một tư duy nghệ thuật về hiện thực và con người. Sự thay đổi tư duy
nghệ thuật về con người gắn liền với sự thay đổi quan niệm chính trị - xã
hội về con người. Vì thế hầu hết các tác phẩm, nhân vật trung tâm là
những con người bình thường, nhiều khi là những số phận thiệt thòi,
những con người bất hạnh. Yếu tố thực sự mới mẻ của văn học mười năm
qua (1985 - 1995) là nhà văn đã “cố gắng khám phá cái thế giới bí ẩn,
khuất lấp đầy bất trắc và bất thường bên trong mỗi con người, bên trong
bản thể Người” [55;18] qua thế giới tâm linh con người và con người tự
sử; con người duy ý chí, ảo tưởng; con người mang tính nhân loại; con người
sản phẩm của tự nhiên; con người và đời sống tâm linh. Chúng tôi chú ý đến 8
bình diện thứ tư và thứ năm mà tác giả đề cập. Ở con người là sản phẩm của
tự nhiên tác giả nhấn mạnh đến phương diện nhu cầu tình dục, bản năng, tiềm
thức, vô thức. Con người và đời sống tâm linh, người viết nhận định đây là
phương diện mới của quan niệm về con người trong văn xuôi sau 1975 vì “nó
đem lại sự phong phú trong cấu trúc nhân cách nhân vật và góp phần xây
dựng một quan niệm toàn diện về con người, đối lập với lối tư duy cằn cỗi,
máy móc hoặc chỉ biết sùng bái lý tính” [78;109]. Thể hiện đắc địa khía cạnh
này theo tác giả chính là sự trở lại của phương thức huyền thoại hóa.
Nguyễn Văn Kha - Đổi mới quan niệm về con người trong truyện Việt
Nam 1975 - 2000 [158], khai thác cách nhìn con người qua năm chương.
Chương 1: Vấn đề con người trong đời sống chính trị, xã hội và văn học Việt
Nam từ sau 1975. Chương 2: Con người với cộng đồng quê hương đất nước.
Chương 3: Con người cá nhân, mỗi con người có cuộc đời riêng, bản lĩnh
riêng. Chương 4: Con người phong phú, phức tạp. Chương 5: Một số biện
pháp nghệ thuật (thời gian - không gian, kết cấu, ngôn ngữ, các chi tiết nghệ
thuật và yếu tố huyền thoại). Đây là công trình nghiên cứu cách nhìn về con
người qua truyện ngắn và tiểu thuyết còn mang nhiều dấu ấn của thể loại
truyền thống.
Ngoài ra, trong luận án tiến sĩ của Mai Hải Oanh năm 2007 với đề tài
Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1986 - 2006
[229] ở chương Một có lý giải đổi mới về quan niệm nghệ thuật trong tiểu thuyết
trong đó có quan niệm mới về con người ở ba phương diện: con người xã hội,
con người tự nhiên, con người tâm linh. Tuy nhiên tác giả chỉ dừng lại ở giới
thuyết làm cơ sở để xây dựng nên những cách tân nghệ thuật của tiểu thuyết.
Luận án tiến sĩ của Trần Thị Mai Nhân (2008) - Những đổi mới trong
quan niệm nghệ thuật về con người theo chúng tôi cũng bộc lộ toàn diện và
mang tính chất đồng thuận rõ rệt. Thứ hai chúng tôi chỉ xét sự thay đổi quan
niệm nghệ thuật về con người qua thể loại tiểu thuyết, một thể loại có sự đổi
mới sau phóng sự và thơ nhưng lại là thể loại “xung kích” mạnh mẽ nhất
trong văn học thời kỳ Đổi mới. 10
3. Đối tượng, phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Đề tài nghiên cứu về con người trong tiểu thuyết Việt Nam thực
chất là lý giải quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết thời kỳ
Đổi mới.
3.2. Do hiện tượng phản ánh phong phú nên trong quá trình triển khai
đề tài, chúng tôi chủ yếu tập trung vào một số tác phẩm tiểu thuyết Việt Nam
trong nước sau năm 1986 - 2010 gây tiếng vang và có dư luận như: Thiên sứ
(Phạm Thị Hoài); Thân phận tình yêu (Bảo Ninh); Đám cưới không có giấy
giá thú (Ma Văn Kháng); Lão Khổ, Thiên thần sám hối, Đi tìm nhân vật (Tạ
Duy Anh); Tấm ván phóng dao (Mạc Can); Cơ hội của Chúa, Khải huyền
muộn (Nguyễn Việt Hà); Giàn thiêu (Võ Thị Hảo), Hồ Quý Ly, Mẫu thượng
ngàn (Nguyễn Xuân Khánh); Luật đời và cha con (Nguyễn Bắc Sơn); Mảnh
đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Lời nguyền hai trăm năm
(Khôi Vũ); những tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương và Hồ Anh Thái…
Một số tiểu thuyết của Chu Lai, Nguyễn Khải, Lê Lựu do có khá nhiều
bài viết bàn kỹ, sâu cả phương diện nội dung và nghệ thuật, để tránh sự lặp
lại, chúng tôi chỉ đưa ra những nhận định khái quát có tính chất kế thừa các
kết quả nghiên cứu trước đó nhằm tăng tính thuyết phục vấn đề chúng tôi đề
cập trong luận án. Thay vào đó, chúng tôi chọn một số tiểu thuyết tuy chưa
gây tiếng vang mạnh mẽ nhưng theo chúng tôi đã có dấu hiệu đổi mới về nội
dung thể loại trong việc thể hiện con người như Cõi tiền (Đỗ Vĩnh Bảo); Đêm
thánh nhân (Nguyễn Đình Chính); Đàn đáy (Trần Thu Hằng), Tiểu thuyết
đổi về cuộc đời, con người của các nhà văn đương đại.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp lịch sử - xã hội
- Phương pháp loại hình
- Phương pháp tiếp cận thi pháp học hiện đại, tự sự học 12
Các phương pháp này sẽ được chúng tôi thực hiện trong thao tác so
sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê để tiến hành nghiên cứu, xử lý và viết đề
tài. Đặc biệt việc sử dụng phương pháp loại hình kết hợp với thi pháp học cho
phép người viết có thể tiếp cận hình tượng con người trong văn học dựa theo
lý thuyết hiện đại có tính chất đổi mới tương xứng với nền văn học Việt Nam
ở thời kỳ Đổi mới trong cái nhìn tương quan với văn học giai đoạn trước.
5. Đóng góp mới của luận án
Luận án đã tổng quan, khái quát được sự phát triển, chi phối của quan
niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ Đổi mới. Từ
đó, luận án đi sâu khảo sát những biểu hiện của quan niệm về con người dưới
phương diện nội dung và hình thức tiêu biểu. Ở một góc độ nhất định, luận án
đã chỉ ra được những cái mới trong việc xây dựng hình tượng nghệ thuật.
Luận án có cơ hội bàn sâu hơn quan niệm nghệ thuật về con người gắn
với đặc điểm một thể loại cụ thể. Các kết quả nghiên cứu trong luận án đóng
góp một phần giá trị khoa học, về mặt lý thuyết và lịch sử văn học, đối với
người dạy - học lý luận văn học trong nhà trường cũng như trong giới phê
bình, sáng tác, tiếp nhận văn học Việt Nam hiện đại.
6. Cấu trúc luận án
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận án được triển khai thành ba chương:
Chương 1: Quan niệm nghệ thuật về con người và con người trong thể
loại tiểu thuyết
người, giúp con người hiểu thêm về chính mình, trở nên phong phú hơn và
một phần từ chỗ hiểu mình, từ sự phong phú của chính mình, con người hiểu
thêm về thế giới, về sự phong phú của thế giới” [215;494]. Vì vậy, tầm vóc
của một nền văn học thể hiện ở cách đặt vấn đề về con người. Văn học thế
giới thế kỷ XX qua sáng tác của F. Kafka, A. Grillet đã mở ra một nhận thức 14
mới về con người: con người bị tha hóa, cô đơn và sa vào khủng hoảng tinh
thần triền miên, bị buộc chặt với hoàn cảnh không sao dẫy dụa được. Con
người, với bao mâu thuẫn phức tạp đang lo âu trước các hiểm họa của xã hội
hậu công nghiệp, của những mối quan hệ xa lạ và thù nghịch. Trong cái thời
hiện đại nhiều bất trắc, chủ nghĩa nhân văn của thế kỷ XX và XXI sẽ tính đến
cả tính phi nhân của con người. Tức là trong con người phần động vật cũng
như phần thần thánh, đều có nguy cơ bị phát điên, nguy cơ trở nên thái quá,
trở thành dã man. Nói như Francois Lyotard, cái phi nhân là một sức mạnh
hủy diệt vượt quá khả năng kiểm soát của cá nhân con người, một cái “không
thể trình bày được” tràn trề trong suy tư. Qua những tác phẩm của Proust,
Kafke, Melville mối bận tâm về con người được văn học khoác cho nó nhiều
màu sắc, trong đó biểu hiện của cái phi nhân là sự lo lắng về chính bản thể
con người. Xã hội hiện đại luôn đầy rẫy những điều nghịch lý bóp nghẹt con
người, nó đẩy con người đến sự chuyển đổi mong manh giữa cực người và
cực thú. Do đó “con người không bao giờ cũng cứ là vô cùng, chứa đầy
những điều đã biết và chưa biết, những tất nhiên và ngẫu nhiên, những hợp lý
và phi lý; và con người trong sự sinh tồn của mình bao giờ cũng chứa nhiều
phương án, nhiều khả năng, vừa xây dựng vừa phá hoại, vừa lạc quan vừa
yếm thế, vừa đầy sức mạnh vừa hết sức mong manh, bé nhỏ” [175;132].
Rõ ràng vấn đề con người giữ vị trí trung tâm của mọi khoa học, là vấn
đề cốt lõi của các lý luận xã hội và nhân văn, kinh tế, quản lý… Trong văn
học con người là điểm xuất phát, đồng thời cũng là đích cuối cùng của mọi sáng
người trong các hình thái ý thức xã hội khác.
Triết học luôn giải quyết vấn đề bản chất của con người, xem xét vị trí
và vai trò của con người đối với thế giới như thế nào. Khổng Tử, Lão Tử,
Mạnh Tử… xem xét tính đa dạng và phong phú về vấn đề con người được đặt
trong mối quan hệ với chính trị, đạo đức. Trong khi đó triết học phương Tây,
ở Hy Lạp cổ đại, con người được xem là điểm khởi đầu của tư duy triết học. 16
Con người và thế giới xung quanh là tấm gương phản chiếu lẫn nhau. Đến
thời Phục Hưng con người mới được nhìn nhận như một thực thể cá thể. Sang
triết học cổ điển Đức, Hegel đã khẳng định vai trò chủ thể của con người đối
với lịch sử, đồng thời là kết quả của sự phát triển lịch sử. Còn Fuerbach đã
xem con người là kết quả của sự phát triển của thế giới tự nhiên. Sau này
Marx - Engles đã khẳng định con người hiện thực là sự thống nhất giữa yếu tố
sinh học và yếu tố xã hội. Chính những lý giải về con người của triết học theo
quan điểm nhận thức đã giúp văn học có cơ sở để cắt nghĩa con người thông
qua cái nhìn bằng nghệ thuật.
Con người cũng là đối tượng mang tính chủ thể thẩm mỹ của mỹ học.
Đó là những con người xã hội có khả năng thưởng thức, đánh giá và sáng tạo
thẩm mỹ. Thông thường mỹ học nhìn nhận con người với giá trị của những
phạm trù thuộc về cái đẹp, ứng với thị hiếu thẩm mỹ hoặc lĩnh vực của sự
phán đoán thẩm mỹ từng thời kỳ, từng giai đoạn. Ngược lại, đạo đức học nhìn
con người trong sự thể hiện với các chuẩn mực, lấy những lời nói việc làm,
hành động của con người theo khung của nguyên tắc xử thế. Văn học không
quy mọi tính cách con người vào những chuẩn mực đạo đức một cách trọn
vẹn. Điều này cũng có nghĩa, mọi chuẩn mực của con người trong văn học,
được xây dựng từ những tình huống đơn giản đến phức tạp, nhằm bộc lộ tính
cách, dựa trên những lập trường xã hội khác nhau, với tiêu chí lý giải các
dạng thức quan hệ xã hội của con người trong tính toàn vẹn.
những quan niệm suy ngẫm về nhân sinh, về mọi điều trong quan hệ với con
người. Vì thế để những hình tượng trong thế giới nghệ thuật chứa đựng tính khái
quát, anh ta cần một cái nhìn, một lối nhìn về đối tượng nhận thức trên cơ sở của
tình cảm xã hội thẩm mỹ về đời sống, số phận con người qua từng thời kỳ. Tức
là yếu tố thời đại có ảnh hưởng đến quan niệm thẩm mỹ của nhà văn khiến quan
niệm nghệ thuật của nhà văn thay đổi. Văn học trung đại chịu ảnh hưởng của tư
tưởng Nho giáo, văn chương phải “tải đạo”. Con người trong con mắt của những 18
nhà nho được xem trọng và đề cao là con người đạo đức, con người của quân
thần, sống hết mình với cương thường đạo lý, mang tư tưởng kinh bang tế thế.
Trải qua bao biến động về mặt xã hội, cách mạng và kháng chiến giai đoạn 1945
- 1975, nhà văn không phải không nhận biết được tính toàn diện của bản chất
con người. Nhưng để tồn tại và chiến thắng trước thử thách khắc nghiệt của
chiến tranh con người cần phải giản ước mọi ham muốn, không được phép nghĩ
nhiều về cá nhân, chỉ đề cao mọi phẩm chất tốt đẹp tiềm ẩn trong bản thân mình.
Đó là cơ sở cho sự xuất hiện kiểu con người hành động, con người giai cấp, con
người cộng đồng… Như vậy, trong tư duy nghệ thuật của nhà văn giai đoạn này,
con người như một tư tưởng, một tính cách, một mô hình được nhà văn nhào
nặn, sắp xếp hơn là một cá thể, một nhân vị trong quan hệ biện chứng với xã hội.
Mặt khác, khi quan niệm có tính chất là “cắt nghĩa” thế giới và con người, nhà
văn buộc phải có một phương pháp sáng tác thể hiện được những nguyên tắc
nghệ thuật nhất định để lý giải con người. Gắn với yếu tố thời đại và phương
pháp sáng tác, qua từng thời kỳ văn học, quan niệm nghệ thuật về con người
luôn có sự thay đổi, phản ánh sự chiếm lĩnh, thụ cảm về hiện thực và con người
khác nhau, kế thừa phát triển lẫn nhau. Nhìn vào văn học Việt Nam, nguyên lý
này càng rõ nét.
Giai đoạn 1930 - 1945 trong mắt của các nhà thơ Mới, con người chính
là cái tôi cô đơn hiu quạnh, buồn tẻ đến lay lắt. Văn học 1945 - 1975 đã có
hiện thực hóa đời sống tâm hồn một cá thể qua sự tinh lọc, khúc xạ bề sâu tâm
hồn con người.
1.1.2.3. Một nền văn học mang tầm vóc, chiều sâu và ý nghĩa chẳng
những phụ thuộc vào lý tưởng và mục đích phục vụ của nó, mà còn phụ thuộc
và cách hiểu biết, tiếp cận, sáng tạo nên hình tượng con người trong nó. Mỗi
một thời đại, một giai đoạn văn học có cách quan niệm, thể hiện con người
khác nhau. Thực chất, sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người chính là
quá trình vận động biện chứng của ý thức nghệ thuật cho phù hợp với đặc
điểm lịch sử, xã hội. Nói cách khác, việc chuyển đổi mối quan tâm của văn 20
học chính là nguyên nhân chi phối sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con
người trong văn học.
Theo Nguyễn Minh Châu, cuộc chiến đấu cho quyền sống của từng con
người mới thực sự lâu dài. Trong bối cảnh chiến tranh đã lùi xa, cơ chế xã hội
mới đặt con người ta vào hoàn cảnh mới. Xã hội đang có những bước đi lên,
cùng lúc cái nhìn về thời cuộc cũng khác trước. Nhà văn tước bỏ những ánh
hào quang văn chương đã khoác trước đây, để sự hy sinh và chiến công hiện
ra trần trụi trong ánh sáng đích thực của nó. Con người không chỉ khẳng định
phẩm chất tư tưởng xả thân mà điều quan trọng là được thể hiện ở các mối
quan hệ lịch sử, trên phương diện xã hội và với thiên nhiên.
Từ sau 1975, cuộc sống đã dần trở lại với quy luật bình thường của nó
cùng lúc con người đối mặt với những biến động, đổi thay của xã hội. Guồng
quay xã hội gián tiếp cho ý thức cá nhân thức tỉnh, họ quay về đối diện chính
mình với những đòi hỏi riêng của mỗi người, mỗi số phận. Khi “văn học và đời
sống là hai vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm của nó là con người” (Nguyễn
Minh Châu), nhà văn phải có một cái nhìn đặc sắc, đầy xác thực về con người,
mới có thể kiến giải có ý nghĩa về cuộc sống và xã hội. Ý thức cá nhân con
người ngày càng có những khát vọng mạnh mẽ, chúng ta càng phải đặt ra vấn