hình ảnh người phụ nữ trong văn học trung đại việt nam - Pdf 32

GVHD: LÊ VĂN LỰC

NHÓM 6

PHẦN 1: LỜI NÓI ĐẦU
Nhà thơ Huy Cận từng viết:
“Chị em tôi tỏa nắng vàng lịch sử
Nắng cho đời nên cũng nắng cho thơ”
Có thể nói, ngày nay vị trí của người phụ nữ đã được đề cao, tôn vinh. Hình
ảnh người phụ nữ Việt Nam hiện diện ở nhiều mặt trong cuộc đời và đã để lại
nhiều hình ảnh bóng sắc trong thơ văn hiện đại. Nhưng đáng tiếc thay, trong xã
hội cũ người phụ nữ lại phải chịu một số phận đầy bi kịch và đáng thương:
“Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”
(Nguyễn Du)
Nói về hình ảnh người phụ nữ thời xưa người ta thường hay chú ý đến thân
phận của họ, thế nhưng kèm theo chính điều đó là những phẩm chất đáng quý mà
họ có được. Trên hành trình số phận của người phụ nữ các nhà thơ đã dành cho
họ một tình cảm chân thành nhất, đó chính là tấm lòng nhân đạo sâu sắc. Đặt biệt
phải kể đến là giai đoạn thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX, nhờ văn học,
người phụ nữ Việt Nam càng được tôn vinh và hiện hữu ngày một đậm nét. Qua
những áng thơ văn bất hữu, những nhà văn, nhà thơ nổi tiếng như Hồ Xuân
Hương, Nguyễn Du, Đặng Trần Côn, Nguyễn Gia Thiều v.v… đã khắc họa sâu
sắc hình ảnh người phụ nữ đương thời như một điển hình của tạo hóa, của mọi sự
chịu đựng, lam lũ, cần cù, tấm lòng yêu thương tha thiết cũng như số phận khắc
nghiệt mà họ luôn là người chịu đựng. Qua đó, ta càng trân trọng hơn những gì
họ đã mang đến cho cuộc đời này. Tạo hóa vốn dĩ tạo ra người phụ nữ là để tô
hồng cho cuộc sống, để chính những sự mềm yếu, chịu dựng của họ tạo tiền đề

1



2


GVHD: LÊ VĂN LỰC

NHÓM 6

con người cá nhân, khẳng định đời sống trần tục với thế giới nội tâm phong phú,
phức tạp của con người. Đặc biệt là bày tỏ lòng thương yêu con người nhất là
người phụ nữ.
Từ cuộc đời bước vào thơ văn, hình ảnh người phụ nữ mang một dáng dấp,
hình hài nhỏ bé mà vô cùng đáng thương, đáng quý. Nên không phải vô tình mà
lịch sử văn học trung đại, giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XX
là giai đoạn phát triển rực rỡ nhất. Bởi mỗi nhà văn nhà thơ trong giai đoạn này,
thông qua các tác phẩm của mình, họ đã phản ánh trung thực và đầy đủ về hiện
thực xã hội mà họ đang sống, bộ lộ mối quan tâm sâu sắc đến số phận con người,
nhất là số phận của những người phụ nữ. Vì thế hình tượng người phụ nữ đẹp đẽ
mà đau đớn nổi bật trong hơn nửa thế kỉ văn học qua những tác phẩm ưu tú.
Có đọc “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn, ta mới có thể đồng cảm và
thấu hiểu cho lời tâm sự của người chinh phụ khi chờ đợi, ngóng trông, lo lắng
cho sinh mạng của người chồng nơi chiến trường xa chốn mù khơi:
“Hồn tử sĩ gió ù ù thổi
Mặt chinh phụ trăng dõi dõi soi”
Hình ảnh người chinh phụ trong tác phẩm này là cả một tâm hồn đắm chìm trong
buồn nhớ, lo lắng, giận hờn đồng thời cũng mong mỏi:
“Thiếp xin chàng chớ bạc đầu
Thiếp thì giữ mãi lấy màu trẻ trung”
Nếu “Chinh phụ ngâm” đã vẽ nên một người phụ nữ đau khổ trong cơn gió
bụi chiến tranh, thì “Cung oán ngâm” của Nguyễn Gia Thiều đã góp thêm hình

ngợi Thúy Kiều mười lăm năm lăn lóc ô nhục:
“Bụi nào cho đục được mình ấy vay”
Cũng một kiếp người được sinh ra, nhưng thương thay họ trót phải mang
thân phận nữ nhi. Họ là những con người yếu đuối, đáng trân trọng nhưng lại
luôn bị vùi dập dưới vũng bùn xã hội phong kiến đen tối. Họ có chống trả, nhưng
càng chống trả thì dường như lại càng bị nhấn sâu hơn vào vũng bùn lầy lội ấy,

4


GVHD: LÊ VĂN LỰC

NHÓM 6

những lề thói phong kiến khắc nghiệt, bạo tàn vẫn bủa vây lấy họ, không cho họ
tự định đoạt hạnh phúc đời mình.
Còn đến với thơ Hồ Xuân Hương, ta thấy chưa bao giờ hình ảnh người phụ
nữ hiện ra mạnh mẽ đến như vậy và chưa bao giờ vấn đề thân phận người phụ nữ
trong đời thường được nêu một cách thống thiết, mạnh mẽ đến như vậy. Hình
ảnh người phụ nữ trong thơ bà là người bình dân với đủ tài giỏi, khôn khéo,
mạnh mẽ, chua cay của họ. Con người ấy dù “bảy nổi ba chìm” vẫn quyết giữ
tấm lòng son thắm đẹp, con người ấy có lúc dám vượt qua điều “cấm kị”:
“Cả nể cho nên mới dở dang
Nỗi niềm chàng có biết chăng chàng”.
Con người ấy còn nguyền rủa cả kiếp sống lẻ mọn:
“Chém cha cái kiếp lấy chồng chung
Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng”
Và thông cảm với nỗi “đèo bồng” của nữ giới:
“Một bên con khóc, một bên chồng
Tất cả những là thu với vén,

“Truyện Kiều” của Nguyễn Du.
Kiều là hiện thân của vẻ đẹp và tài hoa, nàng không chỉ mang vẻ đẹp hình thức
mà còn mang cả vẻ đẹp tâm hồn và vẻ đẹp tài năng. Để làm nổi bật vẻ đẹp đó,
Nguyễn Du đã mô tả vẻ đẹp của Thúy Vân trước, đó như là một thủ pháp nghệ
thuật đắc dụng góp phần làm hoàn chỉnh bức chân dung Thúy Kiều.
“Vân xem trang trọng khác vời,
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang.
Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da.”
Chỉ những câu thơ như thế, đã đủ cho chúng ta hình dung Thúy Vân đẹp đến
nhường nào. Chỉ vài nét chấm phá, bức chân dung của Thúy Vân hiện lên thật
nghiêm trang, đứng đắn và phúc hậu. Gương mặt của nàng đầy đặn như mặt
trăng tròn. Chân mày của nàng đẹp như mày của con bướm tằm. Đuôi mắt của
nàng đẹp như mắt phượng. Miệng của nàng nở nụ cười tươi như đóa hoa đang
6


GVHD: LÊ VĂN LỰC

NHÓM 6

khoe sắc, tỏa hương. Tiếng nói của nàng trong như ngọc. Những làn mây trên
không trung vẫn không đẹp bằng mái tóc mượt mà của nàng. Tuyết là biểu tượng
của màu trắng nhưng không nhường màu cho da mịn màng, trắng trẻo của nàng.
Bằng cách phối hợp các biện pháp nghệ thuật ước lệ, tượng trưng, ẩn dụ, nhân
hóa, liệt kê, đối ngữ, thậm xưng và cách dùng các từ láy, từ Hán Việt một cách
điệu luyện, Nguyễn Du không những miêu tả được vẻ đẹp ưa nhìn của Thúy Vân
mà còn dự báo được tương lai của nàng. Đặc biệt, các từ "thua", "nhường" cho
chúng ta thấy số phận bình an, tốt lành của Thúy Vân trên những chặng đường
đời.

“Sắc đành họa một, tài đành hoạ hai”
Như vậy, về sắc thì đành chỉ có một mình Thúy Kiều về tài thì may ra, họa hoằn
lắm mới có người thứ hai. Thứ nhất là trí thông minh sẵn có do tạo hóa ban tặng:
“Thông minh vốn sẵn tính trời
Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm
Cung thương lầu bậc ngũ âm,
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương”
Kiều rất mực thông minh và đa tài. Tài của Kiều đạt đến mức lý tưởng theo quan
niệm thẩm mỹ phong kiến, hội đủ cầm, kỳ, thi, hoạ. Đặc biệt tài đàn của nàng đã
là năng khiếu (nghề riêng) của nàng. Vẻ đẹp chân dung Thuý Kiều là bức chân
dung mang tính cách và số phận khi cho tạo hoá phải ghen ghét, các vẻ đẹp khác
phải đố kị, tài hoa trí tuệ thiên bẩm, cả cái tâm hồn đa sầu đa cảm khiến Kiều
không thể tránh khỏi định mệnh nghiệt ngã, số phận éo le, gian khổ. Ta thấy
trong các tác phẩm văn hoc thời kì này, những con người tài sắc vẹn toàn như
nàng Kiều thường gắn với số phận gian truân, hay nói cách khác là “tài hoa bạc
mệnh”.
Kiều không chỉ đẹp về hình thức và tài năng, ở nàng còn nổi bật vẻ đẹp phẩm
chất tâm hồn. Nàng là một người có tâm hồn trong sáng và trái tim đa sầu, đa
cảm.Kiều luôn luôn hiểu và cảm nhận được nỗi đau khổ của người khác và tìm
cách giải quyết. Đặc biệt nàng còn là một người con hiếu thảo,vì khi gia đình
8


GVHD: LÊ VĂN LỰC

NHÓM 6

mắc oan Kiều đã hi sinh bản thân mình, hi sinh hạnh phúc của cá nhân mình để
cứu cha, cứu em và chữ hiếu của Kiều đặt cao hơn tất cả và được thể hiện bằng
hành động.Trong suốt quãng đời lưu lạc, lúc nào Kiều cũng sống trong băn

“Làng cung kiến rắp ranh bắn sẻ,
Khách công hầu gấm ghé mong sao…”
Thế rồi bỗng đâu áng mây đen chụp xuống, ông vua háu sắc thấy tài sắc của
nàng bèn xuống lệnh tuyển nàng vào cung làm cung phi, thực chất là tàn phá
cuộc đời nàng. Vì nhân bản của cung nữ rất lành mạnh nên bất chập tất cả những
sự trớ trêu của tấn trò đời, những phẩm chất thiên chân và nữ tính tuyệt đẹp của
nàng về tình yêu, về đức hạnh…vẫn cứ thể hiện trọn vẹn ngay trong hoàn cảnh
nàng bị lừa dối. Nàng ngộ nhận rằng tình yêu của vua với nàng là một tình yêu
có thực:
“Hạt mưa đã lọt miền đài các,
Những mừng thầm cá nước duyên may…”
2.1.2 Đức hạnh
2.1.2.1 Đức hi sinh
Sự hi sinh vì gia đình và người mình yêu càng góp phần làm cho hình ảnh
của người phụ nữ trong giai đoạn này đẹp đẽ và cao thượng hơn.
Các tác phẩm như Cung oán ngâm khúc (Nguyễn Gia Thiều), Chinh phụ
ngâm khúc (Đặng Trần Côn – Đoàn Thị Điểm), thơ Nôm Hồ Xuân Hương và
đặc biệt hơn là Truyện Kiều của Nguyễn Du đều cho ta thấy sự hi sinh cao cả
của người phụ nữ Việt Nam vốn không được coi trọng trong giai đoạn này.
Dân gian ta có câu:
“Ơn cha nặng lắm ai ơi
Nghĩa mẹ bằng trời chín tháng cưu mang”
Công ơn cha mẹ như núi cao biển rộng, dù dã bán thân để cứu cha nhưng Kiều
vẫn day dứt vì chưa thể có thời gian phụng dưỡng cha mẹ khi về già. Lần nào khi
10


GVHD: LÊ VĂN LỰC

NHÓM 6


nguôi vì không thể quạt nồng, ấp lạnh, phụng dưỡng song thân khi già yếu.
Thành ngữ “quạt nồng, ấp lạnh” và điển cố “Sân Lai”, “gốc tử” đều nói lên tâm
trạng nhớ thương, hiếu thảo của Kiều. Nàng tưởng tượng nơi quê nhà tất cả đã
đổi thay. Cha mẹ thì mỗi người một thêm già yếu mà nàng chẳng thể bên cạnh
lúc này để chăm sóc. Giờ đây khoảng cách giữa nàng và gia đình là cách mấy
nắng mưa. Thiên nhiên không chỉ tàn phá cảnh vật mà còn tàn phá cả tâm hồn
con người. Kiều xót xa nhìn cảnh mà thương nhớ quê nhà, nổi nhớ ấy của nàng
được gửi vào chiều dài thời gian và chiều sâu không gian bởi vậy mà càng thêm
da diết sâu sắc.
“Xót thay huyên cỗi xuân già,
Tấm lòng thương nhớ biết là có nguôi.
Chốc đà mười mấy năm trời,
Còn ra khi đã da mồi tóc sương.”
Đã mười mấy năm tha phương lưu lạc nơi quê người, Kiều xót xa tưởng nhớ về
quê hương, nơi có cha mẹ gia cùng hai người em thân thương đang ngày đêm
trông ngóng mình, nơi mà ngày xưa Kiều đã từng có cuộc sống “ êm đềm
trướng rủ màn che.” Kiều ngậm ngùi thương nhớ, một nổi nhớ khôn nguôi, Kiều
nghẹn lòng “xót thay huyên cỗi xuân già”, khi nghĩ rằng cha mẹ già giờ đã “ da
mồi tóc sương.” Nàng như tự trách mình, chẳng thể ở bên Người khi ốm yếu.
Một phẩm chất cao đẹp thể hiện một tình cảm bền vững của nàng đối với gia
đình.
Thân phận nàng Kiều cũng chính là thân phận chung cho những người phụ
nữ trong xã hội lúc bấy giờ, thân phận bạc mệnh, đau đớn, tủi nhục…trong xã
hội phong kiến thối nát, với những lễ giáo khe khắt, cổ hủ nhưng sâu trong tâm
hồn họ vẫn tiềm ẩn vẻ đẹp sáng ngời, Thúy Kiều dù bị đầy đọa, bị chà đạp, lăng
12


GVHD: LÊ VĂN LỰC


GVHD: LÊ VĂN LỰC

NHÓM 6

“Một thân nuôi già, dạy trẻ
Dạy con đèn sách thiếp làm phụ thân”
Ca dao Việt Nam cũng đã từng nhắc đến:
“Anh đi em ở lại nhà
Hai vai gánh vác mẹ già con thơ
Lầm than bao quản muối dưa
Anh đi anh liệu chen đua với đời”
Người phụ nữ trong xã hội xưa đều có chung một số phận, đều mang tên chung
là bất hạnh. Dù họ có sắc đẹp, có tâm hồn cao thượng đều bị phong tục cổ hủ, lễ
nghi khắc nghiệt ràng buộc. Họ có thể vùng dậy mạnh mẽ nhưng họ không thể
chiến thắng được các thế lực đen tối tàn bạo của xã hội bất công. Dù bị chà đạp,
bị đè nén nhưng ở họ luôn toát lên những vẻ đẹp, không chỉ đẹp ở ngoại hình mà
còn mang vẻ đẹp của nội tâm.
2.1.2.2 Chung thủy trong tình yêu và đợi chờ ngày hạnh phúc
Phụ nữ Việt Nam là những người chung thủy, luôn sống trọn tình vẹn
nghĩa. Hình ảnh hòn vọng phu – đá trông chồng là biểu tượng cảm đông nhất về
phẩm chất rạng ngời của người phụ nữ Việt Nam. Từ ngàn xưa, quan niệm về
một tình yêu đẹp, trọn vọn không thể thiếu lòng thủy chung – thước đo giá trị
tình cảm của những người yêu thương nhau. Thời phong kiến lòng chung thủy
của người phụ nữ còn được gắn với ước mong đợi chờ ngày hạnh phúc. Hoàn
cảnh lịch sử đã đưa người phụ nữ rơi vào thế bị đông khi mà họ phải chịu nhiều
đau thương, sự chèn ép của xã hội. Nhưng cũng chính những khó khăn ấy lại là
động lực tạo nên sức mạnh để họ có thể vững tin vào tình yêu và hướng đến
hạnh phúc trong tương lai
14



GVHD: LÊ VĂN LỰC

NHÓM 6

Yêu thương, chung thủy với chồng không những khi đang chung sống bên
nhau một dạ sắc son mà khi người chồng ra đi biền biệt, bỏ lại sau lưng ruộng
đồng, nhà cửa, gánh nặng gia đình “nuôi dạy con thơ, phụng dưỡng mẹ già” để
làm ra trận đầu tuyến binh lửa.Sợ chia ly nhưng vẫn quyến luyến giây phút ly
biệt:
“Áo chàng đỏ tựa ráng pha
Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in”
(Chinh phụ ngâm)
Rồi sau đó, một mình người phụ nữ vẫn can đảm vượt mọi khó khăn, chồng đánh
giặc ngoài, thân mình gánh vác việc nhà, chung thủy chờ chồng trở về trong
ngày chiến thắng.
“ Một thân nuôi già nuôi dạy trẻ”
“Dạy con đèn sách thiếp là phụ thân”
( Chinh phụ ngâm)
Làm tròn trách nhiệm dù vẫn bẽ bàng không thể tưởng tượng ra cảnh xa chồng
khi còn rất trẻ mà đối với nàng đó chỉ là một điều rất xa chưa hề có ý niệm:
“ Thiếp chẳng tưởng ra người chinh phụ
Chàng há từng là lũ vương tôn?
Cớ sao cách trở nước non
Khiến người thôi sớm thì hôm những sầu”
Thái độ và cách ứng xử của nàng trong nghịch cảnh vượt xa những hạng đàn bà
tầm thường như vợ Tô Tần ngày xưa:

16



GVHD: LÊ VĂN LỰC

NHÓM 6

Thủy chung với chồng, thủy chung với tình yêu, sống “trọn tình trọn nghĩa”
thì dù cho đã lỡ bước “gian truân” thì người phụ nữ vẫn mong giữ gìn một tình
yêu đẹp, cực chẳng đã như Thúy Kiều ( Truyện Kiều- Nguyễn Du) một thân lỡ
bước vào nơi lưu lạc vì cứu cha, thương em phải bán mình mà lỡ hẹn với Kim
Trọng, đành phải đau đớn “trao duyên” cho em. Sau những cuộc vui, lòng nàng
lại thổn thức:
“Đem tỉnh rượu, lúc tàn canh
Giật mình, mình lại thương mình xót xa
Khi sao phong gấm lư lò
Giờ sao tan tác như hoa giữa đường”
Đau đớn của nàng trở thành tiếng kêu khẩn khiết, hướng về một tình yêu duy
nhất, một người đã trọn câu thề:
“Ôi! Kim Lang! Hỡi Kim Lang
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây”
Hay sẵn sàng hi sinh mạng sống để giữ lòng trinh bạch :
“Nàng rằng: “Trời thẳm đất dày!
Thân này đã bỏ những ngày ra đi
Thôi thì thôi có tiếc gì”
Cuộc đời như một lần sống “dở”, sống chưa trọn kiếp người bị đày đọa, ức hiếp
giữa “cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia” nhưng vẫn không nguôi nhớ về Kim
Trọng, mong ngày đoàn tụ:

18



GVHD: LÊ VĂN LỰC

NHÓM 6

( Chinh phụ ngâm)
Trong tấn bi kịch của cung nữ trong Cung oán ngâm của Đặng Gia Thiều,
trước được vua sủng ái “ Cái đêm hôm ấy đêm gì,/ Bóng dương lồng với bóng
đồ mi trập trùng”; “ Dẫu mà tay có nghìn vàng/ Đố ai mua được một tràng mộng
xuân” sau lại bị lãng quên vứt bỏ, vẫn không nguôi tha thiết nguyện cầu về hạnh
phúc, chờ đợi từ người “chồng” chưa chết nhưng hầu như không tồn tại:
“Hoa này bướm nỡ thờ ơ
Để gầy hoa thắm, để xơ nhụy vàng”
Vẫn là vô vọng, chỉ như phí hoài, biết nhưng phải cố hi vọng để sống, tựa vào để
trông đợi:
“Bóng câu thoáng bên mành mấy nỗi,
Những hương sầu phấn tủi sao xong!
Phòng khi động đến cửu trùng
Giữ sao cho được má hồng như xưa”
( Cung oán ngâm)

2.2 Đời sống nội tâm
2.2.1 Tâm trạng cô đơn
Người phụ nữ trong thế kỉ XVIII-XIX không chỉ là những người có nhan
sắc, đức hạnh, hi sinh, hết lòng chung thủy và yêu thương gia đình, mà khi
nghiên cứu hình ảnh của họ điều nổi bật cần phải đồng cảm đó là tâm trạng cô
đơn. Phụ nữ là thế giới nhạy cảm với nội tâm vô cùng phức tạp.Những giá trị cao
cả mà những người phụ nữ mang lại cho đời sống thế kỉ này thì đáng ra họ phải
20


21


GVHD: LÊ VĂN LỰC

NHÓM 6

người thiếu phụ tàn phai, gầy guộc. Thời gian trôi đi có chờ đợi cái gì, không
chờ đợi tuổi xuân cũng không đem lại hạnh phúc cho chinh phụ, nó cứ trôi mau
không tiếc nuối, không xót thương hồng nhan của nàng.
“Thoi đưa ngày tháng ruổi mau
Người đời thấm thoát qua màu xuân xanh.”
Biết phải làm sao khi thực tế không ai níu được thời gian cũng không xoay
chuyển được tạo hóa. Thời gian vô tình mãi làm cho nỗi cô đơn người con gái
ngày càng sâu thẳm đến nỗi” mỗi năm một nhạt màu son phấn”. Nhưng người
chinh phụ không vì thế nà bội bạc, nàng luôn ngóng trông, mong đợi khao khát
niềm vui đoàn tụ đến với mình. Có thể nói sự chung thủy chờ đợi không làm họ
nản lòng dù cho đôi lúc nhìn lại vẫn là cảnh phòng không gối chiếc, lạnh lẽo.
Trong những ngày xuân ấm áp mà lẽ ra đôi lứa hẹn hò, hạnh phúc thì những
ngày vui ấy lại trôi qua trong nỗi buồn tủi thân một cách âm thầm lặng lẽ.
Và không chỉ một đoạn trong Chinh phụ ngâm mới nói lên tâm trạng buồn tủi
chung của những kiếp bẽ bàng duyên phận mà hầu như xuyên suốt tác phẩm thì
hình ảnh người chinh phụ cô đơn luôn ẩn hiện. Ai chẳng từng xúc động khi nghe
những lời thì thầm sâu lắng “Thiếp xin chàng chớ bạc đầu” còn “ Thiếp thì giữ
mãi lấy màu trẻ trung”. Trong cái cô đơn của mình thì người chinh phụ vẫn thể
hiện sự cố gắng, luôn hi vọng một tình yêu hạnh phúc sẽ trở lại dù cho thực tế
nàng biết rằng không có gì khó chịu bằng sự chờ đợi, sống trong mong nhớ. Đợi
chờ ở đây không phải là một phút, một năm mà có lẽ là mãi mãi, không có câu
trả lời.Thử hỏi một gia đình mất đi sự gánh vác to lớn của người chồng thì đôi
vai người thiếu phụ sẽ như thế nào? Thật! quả thật chỉ còn là sự yếu đuối trên đôi

điều trông thấy mà đau đớn lòng”. Nguyễn Du không chỉ có cái nhìn sắc xảo
“trông thấy cả sáu cõi mà còn có trái tim nhân hậu”.Nhà thơ nhìn thấy thân phận
những người phụ nữ bị chà đạp, vùi dập. Mà Kiều trong tác phẩm của ông là
hình ảnh không thể không nói đến. Thân phận rơi vào bi kịch và tâm trạng cô
đơn của Kiều là một hình mẫu mà tác giả muốn gửi gắm để cất lên tiếng nói

23


GVHD: LÊ VĂN LỰC

NHÓM 6

đồng cảm cho những người phụ nữ xã hội phong kiến. Kiều đã phải chịu sự trôi
nổi qua dòng đời éo le khi phải vào chốn lầu xanh cũng như khi phải chia cắt
mối tình của nàng.
“Người lên ngựa, kẻ chia bào
Rừng phong thu đã nhuộm màu quan san
Dặm hồng bụi cuốn chinh an,
Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh.
Người về chiếc bóng năm canh
Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi
Vầng trăng ai xẻ làm đôi,
Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường!”
Đoạn thơ trên nói lên tình li biệt của Thúc Sinh với Thúy Kiều. Mặc dù Thúc
Sinh không “tài mạo tót vời” như Kim Trọng và cũng chẳng phải là anh hùng
hào kiệt như Từ Hải. Nhưng là con nười đã cứu vớt Thúy Kiều ra khỏi cuộc sống
đáng sợ nơi lầu xanh. Trải qua nhiều trắc trở, họ đã được sống những ngày tháng
hạnh phúc bên nhau “từng cay đắng mặn mà hơn xưa”. Sự li biệt ấy có kẻ ở có
người đi. “Màu quan san” người li biệt mà cảnh cũng nhuốm mảu tâm trạng,

Đau lòng lư lạc nên vài bốn câu.”
Sau khi trải qua liên tiếp nhiều tai biến thì lầu Ngưng Bích là khoảnh khắc yên
thân trong giây lát của Kiều. Lúc này nàng đối diện với cảnh vật thiên nhiên và
đối diện với lòng mình trong đất khách quê người, trước một tương lai mờ mịt.
Bi kịch nội tâm đang dần lan tỏa trong một khung cảnh thiên nhiên vắng lặng
không một bóng người, trong dư vị đau khổ vừa trải qua “bẽ bàng mây sớm đèn
khuya”. Một khung cảnh thiên nhiên “ bát ngát xa trông” thâu gồm cả ngọn núi
xa trông và và ánh trăng gần gũi vào bầu trời vô tận.Cái vắng lặng của thiên
nhiên và cái mênh mông của vũ trụ khắc sâu thêm cảm giác cô đơn trong tâm
hồn Kiều và dồn tới lớp lớp những nỗi niềm chua xót đau thương.Nỗi nhớ của
nàng lúc này là hướng về Kim Trọng và song thânvới Kim Trọng thì “tấm son
gột rửa” còn với song thân thì “quạt nồng ấp lạnh”, “sân lai”, “gốc tử”. Tâm
25


Trích đoạn Sự thể hiện ý thức cá nhân mạnh mẽ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status