M U
1. Lớ do chn ti
1.1.Vn hc trung i Vit Nam bao gm ton b th vn cỏc loi t
th k X n th k XIX. õy l mt giai on vn hc cú nhiu thnh tu
phong phỳ, nhiu tỏc gi, tỏc phm u tỳ. ú l Nguyn Du vi cõu chuyn
bun v cuc i trm luõn ca nng Kiu; ú l ting khúc than ai oỏn ca
ngi cung n qua cỏi nhỡn y thng cm ca Nguyn Gia Thiu trong
Cung oỏn ngõm khỳc; hay ú l ting lũng v tha ca Hng o i Vng
Trn Quc Tun qua Hch tng sCú th núi, mt s lng ln tỏc phm
ó ra i trong sut 10 th k ny. Nú ó vt qua mi khụng gian v thi
gian khng nh v th ca mỡnh trong lũng c gi v tr thnh ti sn quý
ca nn vn hc nc nh. Nhiu cụng trỡnh nghiờn cu v vn hc giai on
ny ó ra i nhng vn tip nhn văn học trung đại lại cha đợc quan tâm
đúng mức. c bit l vic tip nhn vn hc trung i i vi hc sinh trung
hc ph thụng (THPT) trong nh trng hin nay.
1.2. Tip nhn vn hc c hiu nh l giai on hon tt quỏ trỡnh
sỏng tỏc. Nú c xem nh l c ch cm xỳc thm m ca c gi din ra
trong quỏ trỡnh chim lnh ngh thut. ú l c ch cm xỳc thm m trong
lnh hi vn chng ca c gi xem tip nhn vn hc l mt quỏ trỡnh ng
sỏng to chuyn ni dung vn bn ngh thut thnh mt th gii tinh thn,
bin tỏc phm thnh i sng ý thc xó hi.
Nghiờn cu v vn tip nhn cú ý ngha vụ cựng to ln bi tỏc phm
vn chng ch thc s tr thnh tỏc phm khi bt u dũng i ca nú xut
phỏt t tỏc gi n khi ngi c tiếp nhận tác phẩm. Hot ng tip nhn l
hot ng tng tỏc gia ngi c vi tỏc phm v ngi c vi tỏc gi.
Nú vn phong phỳ a chiu do bn cht ca vn hc l mt tỏc phm ngh
thut; do mi ngi tựy vo tỡnh cm, tri thc, kinh nghim, vn sng ca bn
thõn m tip nhn khỏc nhau. Tip nhn vn hc cao vai trũ ca ngi tip
nhn, chớnh ngi tip nhn quyt nh s phn tỏc phm. V vic dy hc
1
2
thm m v tm ún i ca h. Tuy nhiờn, Jauss cc oan khi cao quỏ
mc vai trũ ca ngi tip nhn. Bi nu cha cú sỏng tỏc thỡ khụng th cú
tip nhn, cũn nu khụng hoc cha cú tip nhn vn cú sỏng tỏc dự cha phỏt
huy c tỏc dng.
Manfred Nauman i din cho cỏc nh nghiờn cu macxit cng xem
quan h tỏc phm ngi c l mt vn c bn cú ý ngha then cht. Tuy
nhiờn, h cho rng tỏc phm l mt ỏn tip nhn (Rezeptionvorgabe), l
nhõn t hng u, tớnh nng ng ca ngi c l mt yu t cng ht sc
thit yu.
Năm 1985, lần đầu tiên lý thuyết mỹ học tiếp nhận của trờng phái
Konstanz (Đức) mà đứng đầu là Hans Robert Jauss đợc giới thiệu khá kỹ lỡng
cho bạn đọc Việt Nam trên tạp chí Thông tin KHXH. Đây là một lý thuyết
đã biết tiếp thu thành tựu của các công trình nghiên cứu về thị hiếu và độc giả
của các tác giả trớc nh Levin Schucking (Đức), Harald Weinrich (Đức)từ
đấy xây dựng cho mình một cơ sở khoa học chặt chẽ và có hiệu quả để nghiên
cứu sự tiếp nhận văn học.
Trong hai mi nm tr li õy, cỏc nh nghiờn cu nớc ta cng đã rt
quan tõm n vấn đề tip nhn vn hc. Trn ỡnh S, Phng Lu Nguyn
Vn Hnh, Nguyn Vn Dõn, Hunh Vn Võn, u cú bi vit v vn
ny. Tiờu biu l cỏc cụng trỡnh nh: Tip nhn vn hc ca Phng Lu
(NXB Giỏo dc, 1997), Tip nhn bỡnh din mi ca lý lun vn hc ca
Trn ỡnh S (Văn học nghệ thuật và sự tiếp nhận, Viện thông tin khoa học
xã hội, HN, 1991), Tip nhn vn hc ca Nguyn Vn Dõn (NXB khoa hc
k thut 1991), c v tip nhn vn chng ca Nguyn Thanh Hựng.
Năm 1986 giáo s Hoàng Trinh đã đề cập đến phạm trù công chúng - một phạm
trù cơ bản của lý thuyết tiếp nhận. Giáo s xuất phát từ quan điểm phát huy tinh
thần làm chủ tập thể của nhân dân trong sáng tác và phê bình văn học để tìm
giỏ tr c in. Th nhng cng ngy chỳng ta cng nhn ra rng giỏ tr ca
vn hc trung i nh sui ngn do dt khi mói khụng bao gi cn.
Vn hc trung i l giai on vn hc phỏt trin cc thnh v cú nhiu
thnh tu mu mc nht ca gn 10 th k vn hc. Nú ó c sng lc k
cng qua thi gian, l kt tinh nhng tinh hoa vn húa, t tng, vn hc dõn
tc. ú l giai on hong kim vi nhng tỏc gia tờn tui ti danh nh:
4
Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn
Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm…với những tác phẩm có sức sống lâu bền.
Chính vì vậy, văn học giai đoạn này luôn là mảnh đất màu mỡ để các
nhà nghiên cứu tìm tòi và khám phá. Qua tìm hiểu các công trình nghiên cứu
về văn học trung đại chúng tôi nhận thấy mỗi tác giả tự tìm cho mình những
hứng thú khác nhau khi nghiên cứu về văn học giai đoạn này. Ví dụ trong Thi
pháp văn học trung đại (Trần Đình Sử), tác giả trình bày quan niệm về con
người trong thơ trung đại; nhận xét về các tác giả lớn với tư cách là con người
trong thơ; đề cập tới vấn đề thi pháp của văn học trung đại. Hay trong Hợp
tuyển văn học trung đại Việt Nam thế kỷ X – XIX (Bùi Duy Tân chủ biên), đã
phác thảo nhưng nét cơ bản về diện mạo văn học Việt Nam trong 10 thế kỷ,
thâu tóm các tác phẩm đặc sắc của các tác giả tiêu biểu, đi sâu tìm hiểu giai
đoạn văn học thế kỷ X – XIV…Hoặc những công trình của một số tác giả
khác như: Văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX của
Hoàng Hữu Yên,Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII – nửa cuối thế kỷ
XIX của Đặng Thanh Lê, Về con người cá nhân trong văn học cổ Việt Nam
(nhóm nghiên cứu Nguyễn Hữu Sơn, Trần Đình Sử, Huyền Giang, Trần Ngọc
Vương, Trần Nho Thìn, Đoàn Thị Thu Vân…). Như vậy, việc nghiên cứu về
văn học trung đại trên diễn đàn văn học diễn ra vô cùng phong phú và đa dạng
với những khía cạnh, những hướng tiếp cận khác nhau.
giảng dạy trong nhà trường phổ thông. Nhưng không phải ai cũng cảm nhận
được hết cái tinh hoa cùng vẻ đẹp văn chương của các bậc thi nhân tiền bối đã
gửi gắm trong từng câu chữ. Đặc biệt đối với bạn đọc – học sinh, họ thường
mắc phải nhiều sai lầm khi đánh giá tác giả và tác phẩm thuộc giai đoạn văn
học này. Để nâng cao hiệu quả tiếp nhận văn học trung đại Việt Nam nói
chung và tiếp nhận văn học trung đại trong nhà trường của học sinh THPT đã
có rất nhiều những công trình nghiên cứu khác nhau: Giảng dạy văn học ở
nhà trường phổ thông (Phương Lựu), Phương pháp dạy hoc ngữ văn THPT –
những vấn đề cập nhật (Nguyễn Thanh Hùng – Lê Thị Diệu Hoa), Mấy vấn
đề về phương pháp dạy thơ văn cổ Việt Nam (Nguyễn Sĩ Cẩn)…Hầu hết, họ
đều tập trung vào việc đưa ra những phương pháp để tiếp cận tác phẩm văn
6
hc mt cỏch hiu qu nht. c bit Nguyn S Cn vi cụng trỡnh ca mỡnh
ó ch ra c th nhng thun li v khú khn khi tip xỳc vi th vn c,
ng thi, ụng cng trỡnh by mt s vn nõng cao cht lng ging
dy th vn c Vit Nam.
Nh vy, tỡm hiu v vn tip nhn vn hc hay vn hc trung i
Vit Nam ó cú rt nhiu nhng cụng trỡnh nghiờn cu khỏc nhau nhng
nghiờn cu c th v vic tip nhn vn hc trung i ca hc sinh THPT li
khỏ mi m. õy chớnh l li i cũn rng m chỳng tụi tip tc khỏm phỏ
v lnh vc ny. Trờn c s tham kho, tip thu nhng gi ý, nhng nh
ngha quý bỏu ca cỏc cụng trỡnh nghiờn cu ca nhng ngi i trc, chỳng
tụi tip tc i sõu nghiờn cu vn vi mt giai on vn hc c th, mt
i tng c th m nhng cụng trỡnh trc cha cp ti.
3. i tng v phm vi nghiờn cu
3.1 i tng nghiờn cu
Lun vn tp trung nghiờn cu nhng vn v lý thuyt tip nhn và
hot ng tip nhn vn hc trung i ca hc sinh THPT hin nay.
hc sinh THPT hin nay.
Vai trũ ca ngi tip nhn ó c nghiờn cu nhiu trong nhng nm
gn õy. Tuy nhiờn, vn kt hp, cng hng gia lý thuyt tip nhn vi
mt giai on vn hc, v mt i tng c th thỡ cha cú mt cụng trỡnh
nghiờn cu no c th, chuyờn sõu. Trong gii hn cú th, lun vn cung cp
mt cỏi nhỡn chi tit hn v vic tip nhn vn hc trung đại ca hc sinh
THPT hin nay nhm gúp phần đẩy mạnh việc nghiên cứu văn học trung đại
v i mi dy v hc tỏc phm vn hc trong nh trng.
6. Cu trỳc ca lun vn
Ngoài phn m u v phn kt lun, phần nội dung của luận văn bao
gồm 3 chơng:
Chng 1: My vn v tip nhn vn hc
Chng 2: Tip nhn vn hc trung i ca hc sinh THPT hin nay
Chng 3: Tiếp nhận văn học trung đại Việt Nam của học sinh THPT
hiện nay - những vấn đề lý luận và thực tin
NộI DUNG
8
Chơng 1: Mấy vấn đề về tiếp nhận văn học
1.1. Về tiếp nhận văn học
1.1.1 Lịch sử lý luận tiếp nhận văn học
Ai cũng biết rằng văn học sáng tác ra phải đợc tiếp nhận, nhng trớc đây
ngời ta chỉ chú ý nhiều đến khâu sáng tác mà quên mất khâu tiếp nhận.
Trớc đây, Platon đã nói tới sự tác động của nghệ thuật tới công chúng,
nói tới khoái cảm và thị hiếu của ngời tiếp nhận nghệ thuật. Nhng cũng chính
ông lại là ngời có một quan niệm phản tiếp nhận khi cho rằng khoái cảm thẩm
mỹ chỉ làm tâm hồn con ngời rối loạn, gây tác hại đến lí trí. Ông đã từng
tuyên bố: khoái cảm là kẻ bịp bợm tồi tệ nhất. Phải chăng vì thế cho nên mãi
những hiện tợng không chấm hết tại thời điểm cái chết của nhà văn mà vẫn
tiếp tục phát triển trong ý thức xã hội. ở đây, Beiêlinxki đã nhìn thấy những
khả năng bất tận của các tác phẩm Puskin trong mối liên hệ với ngời đọc, tác
phẩm của Puskin sẽ không đứng yên mà luôn luôn biến đổi theo sự tiếp nhận
của ngời đọc.
Nh vậy, trong quá khứ lý thuyết tiếp nhận đã đợc đề cập ở những góc độ
nhất định. Tuy nhiên, để nói đến tiền đề vững chắc cho sự ra đời của lý thuyết
tiếp nhận phải nhắc đến vai trò của chủ nghĩa cấu trúc trờng phái Prague và
hàng loạt những trờng phái khác nh: giải thích học, chủ nghĩa hình thức Nga,
xã hội học văn họcTiếp nhận văn học bắt đầu hình thành lý thuyết với một
số khái niệm quan trọng của nó nh: tác phẩm, ngời đọc, việc đọc, sự đồng nhất
thẩm mỹ, đề án tiếp nhận, kết cấu vẫy gọi
Chủ nghĩa cấu trúc ra đời trên cơ sở phát triển những thành tựu của chủ
nghĩa hình thức Nga. Khái niệm lạ hoá của Skhlopxki lần đầu tiên đã nhấn
mạnh đến vai trò của ngời đọc. Xuất phát từ nhân tố ngời đọc, ông đã đề xuất
cách miêu tả làm cho sự vật trở nên mới lạ, hấp dẫn đối với ngời đọc
Chủ nghĩa cấu trúc tiếp tục nhấn mạnh vai trò của ngời đọc. Họ cho
rằng, khi ngời đọc tiếp xúc với một tác phẩm, không phải là đang đối diện với
một văn bản mang hàm nghĩa nào đó, mà chỉ là một văn bản đợc đan dệt một
cách có nghệ thuật những lời văn, và bạn đọc, do đó, mỗi ngời sẽ có một cách
lý giải khác nhau đối với tác phẩm.
Đến chủ nghĩa hậu cấu trúc, Jacques Derrida một lần nữa tạo tiền đề
cho sự ra đời của lý thuyết tiếp nhận khi cho rằng cái đợc biểu đạt có thể trở
thành cái biểu đạt, tức là cái biểu đạt sẽ tạo ra hàng loạt những cái đợc
biểu đạt tuỳ theo sự tiếp nhận của ngời đọc.
Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu thuộc trờng phái hiện tợng luận
(Roman Ingarden) và giải thích học (Hans Georg Gadama) cũng nhấn mạnh
đến vai trò của ngời đọc. Những nhận định của họ đã góp phần tạo tiền đề cho
sự ra đời của mỹ học tiếp nhận.
Đến những năm 50 của thế kỷ XX, mô hình mỹ học tiếp nhận tơng đối
đối tợng tiếp nhận, nó là một quá trình tồn tại qua nhiều giai đoạn: ý đồ, tởng
tợng, văn bản, sự khách thể hoá ý đồ trong một cấu trúc có tính ký hiệu, sự
cảm thụ của ngời thởng thức. Do đó, tác phẩm không phải là hiện thực đợc
vật chất hoá hoàn bị và đông cứng trong tính trọn vẹn của nó. Trái lại, bất cứ
tác phẩm nào cũng gồm một phần có thực, khách quan và một phần khác do
ngời đọc phát hiện ra, mà theo M. Bakhtin là một hiện thực đã đợc thẩm mỹ
hoá.
1.1.2. Bạn đọc - chủ thể tiếp nhận
Nhà hoạ sĩ sáng tạo ra bức tranh, nhà soạn nhạc sáng tác ra bản giao hởng, nhà văn hoàn thiện cuốn tiểu thuyết nhng số phận của tác phẩm ấy trong
cuộc sống lại tuỳ thuộc vào công chúng nghệ thuật.
Tiếp nhận văn học là quá trình ngời đọc thể nghiệm chính mình, đồng
thời tìm tòi, phát hiện sự sáng tạo của nhà văn biểu hiện vừa hữu hình, vừa tồn
tại ở dạng tiềm năng trong văn bản. Bởi mọi tác phẩm văn học đều dang dở,
luôn đòi hỏi sự bổ sung mà không bao giờ ta đạt tới giới hạn cuối cùng bằng
văn bản (Roman Ingarden). Mỗi ngời đọc, khi tiếp nhận tác phẩm đợc
xem nh một phơng án, phản ánh những mức độ khác nhau của khả năng
tiếp nhận. Tuy nhiên, cách tiếp nhận của mỗi cá nhân, ở mỗi thời đại lại có
11
những khác biệt nên lịch sử tiếp nhận là quá trình không ngừng khám phá
những ý nghĩa mới mẻ của tác phẩm trên cơ sở khả năng hấp dẫn không
cùng từ văn bản.
Mặt khác, nói đến quá trình tiếp nhận văn học, ta nghĩ ngay đến sản
phẩm đợc làm ra. Tác phẩm, sản phẩm ấy cha qua tay ngời tiêu dùng, tức là
cha có sự tác động ngợc lại của một chủ thể tiếp nhận thì tác phẩm ấy chỉ tồn
tại trong dạng tiềm năng. Vì thế, theo Gơt, muốn đợc gọi là một tác phẩm
hoàn chỉnh thì những con chữ, những từ, những dòng, những trang của tác
phẩm ấy phải chịu sự phản ứng qua những xúc động, tình thơng và ý nghĩa
của một chủ thể tiếp nhận.
phẩm bằng những cảm thụ và đánh giá riêng của mình. Trong khi tiếp nhận
tác phẩm, họ đã lấp đầy những khoảng trống mà nhà văn có ý thức hoặc vô
tình tạo nên. Ngời đọc bằng hoạt động liên tởng, tởng tợng của mình làm phát
lộ những ẩn ý tiềm tại trong mạch lạc của nó, làm dậy lên tiếng nói của những
khoảng lặng. Chính tính tích cực, sáng tạo của ngời đọc giúp cảm nhận hình tợng một cách toàn vẹn. Là con đẻ của nhà văn nhng khi ra đời tác phẩm lại đợc nuôi dỡng bởi bàn tay của ngời đọc. Nó có thể chết khi nhà văn còn sống
và ngợc lại, nó có thể sống và trở thành bất tử cả khi nhà văn không còn nữa.
Biết bao văn sĩ đã biến mất khỏi ký ức của nhân loại vì tác phẩm của họ cha
đủ lu dấu với thời gian. Bởi tác phẩm nghệ thuật có giá trị phải là sự thoả
mãn nhu cầu cả về phía ngời sáng tạo lẫn chủ thể tiếp nhận (Nguyễn Ngọc
Thiện).
ở cấp độ cao hơn, ngời đọc phát hiện ra những ý nghĩa mới của tác
phẩm cùng những mối liên hệ chỉnh thể tơng ứng với chúng. Đây chính là yếu
tố then chốt tạo nên sức sống trờng cửu của tác phẩm. Có những tác phẩm
sống mãi với thời gian và đi vào lich sử văn học dân tộc nhng cũng có những
tác phẩm khi mới ra đời đã hoàn toàn bị quên lãng.
Ngời đọc không những làm phong phú, lấp đầy khoảng trống mà họ còn
là ngời sàng lọc và bảo tồn tác phẩm văn học về mặt chất lợng. Ngời đọc tiếp
nhận tác phẩm luôn luôn song hành với loại bỏ. Tuy việc sàng lọc là không
xuôi chiều, có những tác phẩm mới ra đời bị lạnh nhạt nhng càng về sau mới
đợc khẳng định là kiệt tác, hoặc vốn cũng đợc chào đón ngay từ đầu nhng đợc
đánh giá rất khác nhau của ngời đọc qua các thời đại nhng nhờ sàng lọc mà
những tác phẩm thật sự có giá trị sẽ còn lại với thời gian. Nh vậy, tác phẩm
lừng lẫy ít hay nhiều, đứt quãng hay liên tụcphải qua sự sàng lọc của ngời
đọc. Chỉ có công chúng bạn đọc mới thực sự chuyển hoá những giá trị tinh
thần trong tác phẩm trở thành những động lực tình cảm trong tiến trình lịch sử.
Do đó, nghiên cứu và tiếp nhận văn chơng phải lắng nghe và tôn trọng tiếng
nói của độc giả. Họ có thể giải mã những thông điệp nghệ thuật mà nhà văn
đã nhập mã vào tác phẩm hoặc tạo ra một kiểu giải mã gần đúng với mã của
tác phẩm cũng có khi dùng một mã hoàn toàn trái ngợc với mã của tác giả.
Trong khi tiếp nhận, ngời tiếp nhận luôn đòi hỏi sự đồng cảm, họ giao
trình tiếp nhân? Vấn đề này liên quan đến khái niệm tầm đón nhận của
H.R.Jauss - đó là tiền đề tiếp nhận tác phẩm ở ngời đọc.
1.2.1.1. Quan niệm về tầm đón nhận
Khởi nguồn từ cộng hoà liên bang Đức với trờng phái Konstanz, lý
thuyết tiếp nhận hiện đại đã đợc nhiều nớc trên thế giới tiếp thu và phát triển.
Cống hiến của lý thuyết tiếp nhận là khẳng định vai trò không thể thiếu của
ngời đọc trong đời sống tác phẩm. Lý luận tiếp nhận đợc bắt đầu từ sự ý thức
về đối tợng thẩm mỹ. Tiếp nhận thẩm mỹ không phải là sự tái hiện đơn giản
mà là quá trình phức tạp: quá trình tham dự và đồng sáng tạo của ngời tiếp
nhận. ở đó, quyết định số phận của mỗi thời đại là tầm đón nhận
(Erwrtungshorizont) của ngời đọc.
Tác phẩm văn học mang đặc trng riêng của cấu trúc nghệ thuật ngôn từ.
Đó là một chỉnh thể bao gồm các thành tố nhà văn văn bản ngời đọc t14
ơng tác với nhau. Nội dung thẩm mỹ của tác phẩm văn học gắn liền với tầm
đón nhận của ngời đọc. Thuật ngữ này đợc Jauss mợn của nhà triết học, xã hội
học K. Mannheim vận dụng vào văn học, chỉ khả năng, giới hạn và nhu cầu
tiếp nhận văn học cụ thể (thống nhất với khát vọng đạo đức, lý tởng thẩm
mỹ) ở từng cá nhân, thế hệ, loại hình ngời đọc. Nó đợc hình thành, xây dung
trong cả quá trình dài quá trình ngời đọc tiếp xúc, làm quen, đối ngoại với
nghệ thuật để đạt đợc sự chủ động nhất định trong quan hệ đối với nó. Tầm
đón nhận không đứng yên mà có sự vận động, thay đổi, dới sự tác động ngợc
trở lại của những sáng tác mang nhiều tính cách tân.
Theo Jauss tầm đón nhận là hệ quy chiếu của kinh nghiệm văn học
của ngời tiếp thụ văn học, nó là tầm hiểu biết về văn học của ngời tiếp thụ và
nó sẽ luôn luôn thay đổi theo lịch sử và tuỳ thuộc vào tác phẩm đợc tiếp nhận.
Nó là một tập hợp các quy chuẩn thẩm mỹ có thể tái lập đợc của một công
chúng văn học xác định, nó có thể và cần phải điều chỉnh đợc về mặt xã hội
học tuỳ theo những khuynh hớng đặc thù của các tập đoàn, tầng lớp hoặc giai
phạm vi ấy. Nó cũng có thể biểu hiện tập trung ở tầm đón nhận của các nhà
phê bình kiệt xuất, thái độ công minh, chính trực, kiên quyết, uyên bác, năng
lực thẩm văn sâu sắc và tinh tế.
1.2.1.2. Cấu trúc của tầm đón nhận
Trần Đình Sử cho rằng, trong tầm đón nhận có hai mặt: tầm đón nhận
thẩm mỹ và tầm đón nhận đời sống.
1. Tầm đón nhận thẫm mỹ là kinh nghiệm thẩm mỹ, trình độ lý giải,
phân tích, cắt nghĩa các vấn đề văn học, mỹ học, là mức độ tiếp nhận những
cái mới trớc một văn bản văn học.
2. Tầm đón nhận đời sống là kinh nghiệm sống hiện có, trình độ lý giải
các vấn đề xã hội, lịch sử, đạo đức, chính trị.
Theo giáo s Phơng Lựu tầm đón nhận đợc biểu hiện cụ thể ở các mặt
sau:
1. Tầm đón chờ ý nghĩa: Bất cứ bạn đọc nào đối với bất kỳ tác phẩm
văn học nào, cũng mong muốn nó vừa biểu hiện vừa củng cố và nâng cao
những t tởng, tình cảm, những hứng thú và sở thích phù hợp với lý tởng của
mình. Cũng có thể đó là sự khẳng định trực tiếp những cái chính diện, cũng có
thể là gián tiếp qua sự phủ định những cái ngợc lại.
2. Tầm đón chờ ý tợng: Khi tiếp xúc với một hình ảnh trong văn bản tác
phẩm, ngời đọc bao giờ cũng liên tởng từ những kinh nghiệm và thể nghiệm
vốn có của mình, để định hớng sự lý giải nội dung bên trong của nó. Đọc
những hình ảnh trong thơ cổ nh thanh tùng, hàn mai ngời đọc có thể liên
tởng đến những nhân cách thanh tao, cơng nghịMột nét hình ảnh của
Maxlova đã đợc L. Tônxtôi miêu tả nh sau: Nàng chít khăn lên đầu và rõ
ràng là cố ý để lộ một vài mớ tóc mỏng xoà trên tránĐôi mắt đen, hơi mọng
lên, nhng vẫn lấp lánh sáng(Sống lại). Lớt qua mấy dòng này, với một
kinh nghiệm đời thế nào đó, rất có thể một số ng ời đọc sẽ liên tởng đến
một ngời phụ nữ với cuộc đời bi đát, nhng không chịu khuất phục trớc số
phận
Tâm thế là tâm trạng, trạng thái tâm lý tình cảm của ngời đọc khi tiếp
xúc với tác phẩm. Là trạng thái cảm xúc chung bao trùm lên toàn bộ các rung
động và làm nền cho hành động của con ngời.
Tâm thế tiếp nhận là điểm tiếp xúc trực tiếp của độc giả với tác phẩm, là
sự chú ý, khả năng huy động những kiến thức, kinh nghiệm của ngời đọc để
tiếp nhận tác phẩm.
Tâm thế, tâm trạng của con ngời do một tập hợp nguyên nhân từ xã hội,
thiên nhiên và cả thân nhân, không phải chỉ là biểu hiện của t tởng và đạo đức.
Đúng là xã hội có công bằng, sự nghiệp có thành đạt, gia đình có hoà thuận
hay không đều quyết định rát lớn đến tâm trạng sống của con ngời. Nhng
thiên nhiên khắc nghiệt, hay ma thuận gió hoà, ngày xuân ấm áp hay những
17
tháng đông buốt giáđều ảnh hởng đến tâm thế con ngời. Và chính con ngời,
già yếu hay trẻ khoẻ, mệt mỏi hay khoẻ mạnh cờng trángdù đã qua sự điều
chỉnh của ý chí, vẫn không thể không tác động đến tâm trạng.
1.2.3. Động cơ tiếp nhận
Không tách rời mà còn giao thoa với tầm đón nhận là động cơ tiếp
nhận. Cuộc sống phong phú, văn học lại đa dạng, động cơ tiếp nhận của bạn
đọc vốn đã không giống nhau, nhất là khi đứng trớc các tác phẩm cụ thể, lại
càng khác biệt.
Động cơ là cái có tác dụng chi phối, thúc đẩy ngời ta suy nghĩ và hành
động. Đứng trớc bất cứ một tác phẩm nào con ngời cũng đều có những suy
nghĩ, cảm xúc khác nhau. Có khi đó là cảm giác sung sớng, thoả mãn khi
nhân vật mình yêu thích có một kết thúc đẹp; có khi đó là những trăn trở, suy
t về vấn đề đặt ra trong tác phẩm; cũng có khi đó là niềm hạnh phúc khi đợc
hiểu thêm nhiều vấn đề về cuộc sống, nhìn thấy những góc khuất trong tâm
hồn của con ngời mà bấy lâu còn là một bí ẩnNh vậy, động cơ tiếp nhận
chính là mục đích mà chủ thể tiếp nhận hớng tới, mong muốn đạt đợc khi tiếp
nghệ thuật của tác phẩm với sự vận động của đời sống, với các khuynh hớng
phát triển của đời sống, tơng quan với hiện thực, với kinh nghiệm tinh thần
không chỉ là của thời đại khi nghệ sĩ sáng tác, mà còn là của các thời đại sau.
Và trong quá trình tồn tại lịch sử của tác phẩm cái cục bộ, cái cá biệt lu mờ
dần đi, nhờng chỗ cho các thuộc tính tâm lý của con ngời, là những cái sống
một thời gian dài, và cho các yếu tố toàn nhân loại.
Theo Giáo s Phơng Lựu, quá trình tiếp nhận chính là quá trình bạn đọc
thực tế chuyển hoá văn bản thứ nhất của tác giả thành văn bản thứ hai của
chính mình. Tác phẩm văn học đã từ vật tự nó biến thành vật của ta.
Quá trình tiếp nhận còn đợc hiểu là quá trình cụ thể hoá tác phẩm trong trí
tởng tợng, là đối thoại liên tục với tác giả trên mọi lĩnh vực. Nh Roman Ingarden
từng nói: Tiếp nhận văn học là một quá trình cụ thể hoá tác phẩm nh nó vốn
có.Theo ông, đời sống của tác phẩm diễn ra trong sự cụ thể hoá. Mọi tác phẩm
văn học đều trải qua giai đoạn ngời ta mới bắt đầu hiểu, tiếp theo là thời kỳ có
nhiều sự cụ thể hoá, sau đó là thời kỳ ít có sự cụ thể hoá.
Hay theo Nguyễn Thị Thanh Hơng, đó là quá trình tri giác tác phẩm, cụ
thể hoá, khái quát hoá nghệ thuật để hiểu giá trị đích thực của tác phẩm. Đối
với bạn đọc-học sinh, đó là quá trình các em phát huy những năng lực của
mình để tiếp nhận tác phẩm, tích cực tham gia vào quá trình tiếp nhận dới sự
dẫn dắt và định hớng của giáo viên, biến mình thành một chủ thể tiếp nhận
một cách sáng tạo, tự giác tham gia vào quá trình đồng sáng tạo với tác giả.
Nói một cách khái quát, đó chính là quá trình thoả thuận giữa văn chơng và sự
tái sáng tạo bản sắc riêng của ngời đọc.
Có ý kiến khác cho rằng, quá trình tiếp nhận văn học là quá trình đi
ngợc lại hành trình sáng tác của nhà văn mà hình tợng tác phẩm là điểm
gặp gỡ và tạo nên mối đồng cảm thẩm mỹ giữa ngời sáng tác với ngời thởng thức.
Quá trình tiếp nhận là một quá trình diễn ra theo một hoạt động nổi bật
là hoạt động đọc. Nhà văn là ngời sáng tạo ra tác phẩm.Tuy nhiên, số phận
19
năng độc giả có thể lĩnh hội đợc dụng ý của tác giả. Song không chỉ dừng lại ở
đó, việc tiếp nhận hình tợng văn học trong quá trình tiếp nhận là một khâu vô
cùng quan trọng. Hình tợng xuất hiện trớc mắt bạn đọc rất phong phú về quan
hệ xã hội và tâm lý trong môi trờng giao tiếp riêng. Khi độc giả tái tạo một
bức tranh nghệ thuật cho mình, họ có thể tô đậm đặc điểm của quá trình giao
tiếp đợc diễn tả trong tác phẩm nhng cũng có thể làm lu mờ che lấp chúng.
Bởi thực chất của hành động giao tiếp văn học là sự gặp gỡ, tiếp xúc giữa ngời
20
đọc và hình tợng văn học. Tuy nhiên, lĩnh hội hình tợng phải thấy đợc nội
dung phản ánh thông qua hình thức biểu hiện đó.
Tóm lại, một tác phẩm văn học thực sự đến với bạn đọc là một tác phẩm
đã đợc nhận thức một cách rõ ràng cụ thể nhng tuỳ vào kinh nghiệm riêng của
mỗi ngời mà cách thâm nhập một tác phẩm không hoàn toàn giống nhau. Theo
Giáo s Phơng Lựu, diễn biến của quá trình tiếp nhận văn học trải qua các bớc
chuyển dịch nh sau:
21
- Lấp chỗ trống, đối thoại
Nhà mỹ học tiếp nhận Đức Iser cho rằng văn bản tác phẩm là một kết
cấu vẫy gọi, nó gợi mở cho bạn đọc trong phạm vi có thể phát huy dồi dào
năng lực sáng tạo của mình. Gadamer lại nhấn mạnh ý nghĩa của tác phẩm văn
học không chỉ nằm trong một lần mà trong vô số cuộc đối thoại mãi mãi.
Văn bản thứ nhất thì chỉ có một nhng có vô số văn bản thứ hai xuất hiện
vô tận trong lịch sử. Tác phẩm nghệ thuật, do đó, là một hệ thống mở. Ngời
Trung Quốc cũng thờng nói ý tại ngôn ngoại, ngôn hữu tận, nhi ý vô
+ Thay đổi lại theo tình cảm khác: Tác phẩm văn học thành công nào
cũng chan chứa tình cảm, đủ các sắc thái vui, buồn, giận, thơngtất nhiên
trong đó sẽ nổi lên một trạng thái tình cảm chủ đạo. Nhng ngời đọc chỉ thích
và nhớ nhất những trạng thái tình cảm nào phù hợp với sự xúc động thờng
ngày của bản thân.
+ Giải thích lại theo quan niệm khác: Khi một bạn đọc, nhất là các nhà
khoa học đã có một quan niệm riêng về con ngời và thế giới, thậm chí đã hình
thành một chủ thuyết, thì tất nhiên họ thờng giải thích lại mọi việc đời, nhất là
đối với những kiệt tác văn học nghệ thuật, vì đây là những bức tranh nhân
sinh thu gọn.
Thật ra, sự tái tạo hay thay đổi còn diễn ra trên vô số cấp độ và bình
diện khác. Sự thay đổi đó, thậm chí còn diễn ra ở một con ngời đọc một tác
phẩm xác định nhng trong những lúc khác nhau.
+ Lý giải và ngộ nhận: Sự tiếp nhận của bạn đọc vừa có khả năng lý giải
đúng, nhng cũng vừa có khả năng ngộ nhận ý đồ của tác giả. Tuy nhiên,
không phải tất cả những ngộ nhận đều sai. Cần phân biệt chính ngộ và
phản ngộ. Chính ngộ tuy không phù hợp với ý đồ của tác giả nhng vẫn
có căn cứ trong tác phẩm. Phản ngộ là sự tiếp nhận tuỳ tiện, cắt xén,
xuyên tác, không có căn cứ trong tác phẩm. Nếu biểu hiện của chính ngộ
là muôn màu muôn vẻ thì nguyên nhân của sự phản ngộ cũng rất phức tạp.
Đó có thể là do động cơ, tâm thế, hoặc tầm đón kỳ quặc, hoặc quá cao
siêu hoặc dới mức tầm thờng.
-Trạng thái thông thờng mà tốt đẹp trong mối quan hệ giữa sáng tác và
tiếp nhận: Thông thờng tức là không nói tới hai cực. Những sáng tác qua
xoàng xĩnh, những công chúng hoàn toàn mù văn thì bàn làm gì? Hay
những đại kiệt tác, những phê bình xuất chúng thì lại rất hiếm. Tất cả ở đây
chỉ đợc xét ở mức trung bình lý tởng, nghĩa là ở trong trạng thái thông thờng
phổ biến, nhng không bao giờ tự thoả mãn, mà luôn biết vơn lên cái tốt đẹp
hơp. Cũng không bàn sáng tác và tiếp nhận một cách cô lập mà trong sự tơng
2.1. Về văn học trung đại Việt Nam
2.1.1. Một vài đặc điểm của văn học trung đại Việt Nam
Nền văn học trung đại Việt Nam gắn bó máu thịt với vận mệnh đất nớc,
số phận những con ngời Việt Nam ngay từ khi mới ra đời. Tinh thần yêu nớc,
tinh thần nhân đạo là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ tiến trình phát triển của 10
thế kỷ văn học trung đại.
Buổi đầu dựng nớc văn học tập trung khẳng định sự trờng tồn, tất thắng
của dân tộc. Văn học Lý-Trần với những Lĩnh Nam chích quái của Vũ Quỳnh,
Kiều Phú tràn đầy niềm tự hào dân tộc; với Dự chu tì tớng hịch văn của Trần
Hng Đạo, thơ Trần Nhân Tôngrực ngời hào khí Đông A. Giặc Minh đến xâm
lợc có văn học Lam Sơn và khép lại bằng áng thiên cổ hùng văn Bình Ngô đại
cáo của Nguyễn Trãi. Hơn 300 trăm năm sau cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại
chống quân Thanh xâm lợc ở phơng Bắc, quân Xiêm ở phia Nam đã đợc văn
học Tây Sơn phản ánh khá đầy đủ. Kẻ thù truyền thống phơng Bắc vừa rút
khỏi một kẻ thù mới thực dân Pháp kéo vào và văn học yêu nớc chống Pháp
với những tên tuổi lớn nh Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Thôngđã toát lên
24
tinh thần bất khuất của ngời Việt trong một thời kỳ lịch sử khổ nhục nhng vĩ
đại. Đó là những Thiên Nam liệt truyện, Nam triều công nghiệp diễn trí
Văn học trung đại không chỉ quan tâm đến những vấn đề của vận mệnh
đất nớc mà còn thể hiện tình yêu đối với thiên nhiên, những suy nghĩ day dứt
về cuộc đời, về số phận con ngời, đặc biệt là những con ngời bé nhỏ. Thế kỷ
XVI, Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ đã cho ngời đọc hiểu đợc số phận bi
kịch của ngời phụ nữ. Đồng thời, những khát vọng chân chính của con ngời:
quyền đợc sống, đợc yêu, đợc mu cầu hạnh phúc mà tác phấm nhen lên đã đợc
các tác giả thế kỷ XVIII kế thừa, phát triển tới đỉnh cao, tô đậm truyền thống
nhân văn của văn học trung đại.
Văn học trung đại là kết tinh, là hiện thân của con ngời, đất nớc Việt