SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ KINH NGHIỆM DẠY
TÁC PHẨM VĂN HỌC TRUNG
ĐẠI VIỆT NAM TRONG
CHƯƠNG TRÌNH THPT
I. PHẦN Mở đầu
I.1. Lý do chọn đề tài:
Văn học là nghệ thuật ngôn từ được các nhà văn, nhà thơ sáng tạo ra
bằng tiếng nói, chữ viết, lưu hành trong xó hội từ đời này sang đời khác, có
chức năng, nhận thức giáo dục thẩm mĩ, giúp con người vươn tới cái chân,
thiện, mĩ. Văn học là tấm gương phản ánh trung thành đời sống của một dân
tộc. Văn học giúp cho con người củng cố lũng tự hào dõn tộc chõn chớnh,
cựng với hoài bóo nối gút người trước, khai thác và làm giàu thêm di sản
ông cha.
Như chúng ta đã biết, để đáp ứng yêu cầu của sự phát triển đất nước nói
chung và sự phát triển văn học nói riêng thì yêu cầu đặt ra là phải đổi mới
nội dung và phương pháp dạy - học. Xuất phát từ việc đổi mới này dẫn đến
việc tổ chức các hoạt động học tập cũng phải có sự thay đổi vì : phương
pháp cũ học sinh sẽ thụ động trong quá trình học tập. Học sinh chưa có thói
quen chủ động tìm hiểu và khám phá bài học. Thêm vào đó khả năng cảm
thụ và tư duy của học sinh còn yếu, học sinh ít có khả năng độc lập suy nghĩ.
Vì vậy đổi mới sách giáo khoa hiện nay gắn với mục đích” tích cực” học tập
của học sinh và “’tích hợp’’ của giáo viên trong các bài dạy. Do đó yêu cầu
bộ môn Ngữ văn trong trường THPT.
- Nghiên cứu thực tiễn: khảo sát, tổng kết kinh nghiệm.
II. PHẦN NỘI DUNG
II.1. Cơ sở lý luận.
a. Đặc điểm của VHTĐ VN :
* Về nội dung :
Văn học trung đại cũn được gọi bằng những cái tên khác nhau như
văn học thành văn, văn học phong kiến, văn học cổ điển. Bởi từ TK X đến
TK XIX, văn học trung đại phát triển trong một môi trường xó hội phong
kiến với ý thức hệ nho giỏo, lực lượng sáng tác chủ yếu là tầng lớp trí thức,
Văn học trung đại tồn tại và phát triển trong suốt mười thế kỉ nhưng không
bao giờ tách rời khỏi cảm hứng yêu nước; cảm hứng nhân đạo, thế sự.
- Cảm hứng yêu nước:
Cảm hứng yêu nước là nội dung lớn, xuyên suốt quá trình tồn tại và
phát triển của VHTĐ VN. Cảm hứng này gắn liền với tư tưởng “trung quân
ái quốc”. Nó được thể hiện rất phong phú, đa dạng, có khi là âm điệu hào
hùng khi đất nước chống ngoại xâm, có khi là âm điệu bi tráng lúc nước mất
nhà tan, có khi là giọng điệu thiết tha khi đất nước trong cảnh thái bình
- Cảm hứng nhân đạo:
Khi vận mệnh cá nhân con người, quyền sống, quyền hạnh phúc của
con người bị đe dọa thỡ cảm hứng nhõn đạo lại thăng hoa rực rỡ. Văn học
trung đại Việt Nam luôn gắn bó với số phận con người. Cảm hứng nhân đạo
có hàm chứa cảm hứng yêu nước bởi có những bài ca yêu nước thể hiện nỗi
băn khoăn, day dứt trước số phận con người, qua việc ca ngợi vẻ đẹp con
không chỉ bởi rào cản về ngôn ngữ, văn tự, khoảng cách về văn hóa giữa quá
khứ và hiện tại mà cũn vỡ những khú khăn trong việc tỡm kiếm tư liệu tham
khảo, đặc biệt là dạng sách tuyển chọn những tác phẩm nguyờn gốc. Dẫn
đến việc dạy và học phần VHTĐ gặp rất nhiều khó khăn. II.2. Thực trạng
Một thực tại khách quan đang tồn tại mà bản thân tôi khi đưa ra đề tài
này đã khảo sát khá kỹ lưỡng: Thực ra trong tổ chức hoạt động của giáo viên
cho học sinh tiếp nhận kiến thức và kỹ năng cũng dựa trên hai hình thức hoạt
động cơ bản: Hoạt động độc lập và hoạt động tập thể. Tuy nhiên cả hai hoạt
động này kết quả mà giáo viên thu được đều không cao, nhất là khi dạy phần
VHTĐ. Theo kinh nghiệm giảng dạy của tôi thì có ba nguyên nhân cơ bản
sau :
* Về phía văn bản :
- Văn học trung đại viết theo hệ thống thi pháp cũ: dùng nhiều điển
tích, điển cố, sử dụng lối tả ước lệ tượng trưng, có nhiều từ ngữ cổ hiện nay
ít sử dụng, khó thuộc khó nhớ.
- Đời sống được phản ánh trong VHTĐ là bối cảnh xã hội từ những
thế kỷ trước nên xa lạ với học sinh dẫn đến làm cho các em khó cảm nhận về
giá trị nội dung tư tưởng.
- Tư tưởng, tình cảm, suy nghĩ của con người ngày xưa khác rất nhiều
ngày nay, khiến cho học sinh rất khó cảm nhận.
* Về phía giáo viên:
- Giao nhiệm vụ cho học sinh chưa rõ ràng, cụ thể mà còn chung
2 phút để kể tóm tắt ( thật ngắn gọn ) hoặc đọc diễn cảm một đoạn văn ( thơ
) của văn bản sắp học hoặc kể lại một điển tích, điển cố được nói đến trong
văn bản. Tuỳ vào từng bài cụ thể để chọn hình thức hấp dẫn. Có nhiều cách,
nhưng dù là cách nào thì cũng phải làm cho học sinh có ấn tượng về văn bản
sắp học.
+ Căn cứ vào đặc trưng của thể loại, dung lượng kiến thức của từng bài
cụ thể GV hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài chi tiết từ nội dung như : tìm
hiểu bối cảnh lịch sử, hoàn cảnh sáng tác, chủ đề, điển cố, điển tích, của văn
bản; cho đến cách thức và phương pháp chuẩn bị: đọc phần mục tiêu bài
học, đọc nhiều lần phần văn bản, tìm hiểu phần chú thích và trả lời các câu
hỏi hướng dẫn chuẩn bị bài trong SGK. Nếu có điều kiện tìm hiểu thêm các
tài liệu liên quan đến tác phẩm.
* Ví dụ 1 :
Giảng dạy đến bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm. GV nên dành
1 khoảng thời gian thích hợp ( khoảng 2 – 3 phút ) từ tiết học trước tạo tâm
thế và hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài ở nhà.
- Đầu tiên nhằm thu hút được sự chú ý của học sinh GV có thể đề cấp tới
một quan niệm sống nào đó, chẳng hạn như quan niệm sống hưởng thụ của
một bộ phân thanh niên ngày nay từ đó cho học sinh biết bài thơ “Nhàn” của
Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng nói về một quan niệm sống.
- Sau đó GV hướng dẫn học sinh về nhà chuẩn bị bài theo gợi ý :
+ Tìm hiểu hoàn cảnh sáng tác bài thơ, bối cảnh xã hội lúc bài thơ ra đời.
( Bài thơ ra đời trong hoàn cảnh nào? Bối cảnh xã hội lúc bấy giờ ra sao? )
nay dòng sông và những chiến công hiển hách đã là niềm cảm hứng hoài cổ
hào hùng của bao thế hệ thi nhân mà Bạch Đằng giang phú của Trương
Hán Siêu là một trong những tác phẩm đầu tiên và thành công nhất.
- Sau đó yêu cầu học sinh chuẩn bị bài theo gợi ý :
+ Tìm hiểu về tác giả Trương Hán Siêu.
+ Tìm hiểu địa danh Bạch Đằng với những chiến công lịch sử? Tìm những
bài thơ viết về sông Bạch Đằng mà em biết ?
+ Tìm hiểu hoàn cảnh sáng tác bài phú ?
+ Bố cục bài phú chia làm mấy phần ?
+ Sử dụng những điển tích, điển cố nào? ý nghĩa của nó ?
- Sau đó trả lời các câu hỏi trong phần hướng dẫn học bài.
► Kiểm tra việc chuẩn bị bài của học sinh:
Sau khi hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài ở nhà, thì nhất thiết phải có
sự kiểm tra. Đây cũng là bước quan trọng đòi hỏi sự kiên trì của GV. Nhiều
GV giao việc cho học sinh, song lại không chú trọng kiểm tra xem học sinh
đã chuẩn bị bài như thế nào, thì sẽ dẫn đến tình trạng học sinh lười suy nghĩ,
soạn bài một cách chống đối. Nếu GV duy trì tốt công việc này sẽ tạo được
cho học sinh nề nếp, thói quen chuẩn bị bài ở nhà.
Tuy nhiên thực hiện việc kiểm tra như thế nào vừa không mất nhiều
thời gian, lại vừa thu được hiệu quả? Công việc này cũng là một nghệ thuật,
đòi hỏi người GV phải linh hoạt khéo léo. Xin đưa ra một số cách như sau:
ra sao ?” “ Bài thơ thể hiện quan niệm sống như thế nào cuả Nguyễn Bỉnh
Khiêm ?”
Hoặc : khi dạy đến bài Bạch Đằng giang phú của Trương Hán Siêu
GV có thể yêu cầu học sinh đọc một đoạn thơ mà mình thích hoặc thấy ấn
tượng? Nếu có thể yêu cầu học sinh kể lại một điển tích, điển cố được sủ
dụng trong bài thơ ?
Đây là những câu hỏi đơn giản, nếu học sinh đã chuẩn bị bài thì việc
trả lời tốt những câu hỏi này không phải là khó khăn. GV nên linh hoạt trong
cách đặt câu hỏi, sao cho có thể nắm bắt được sự chuẩn bị bài của học sinh,
không nên lúc nào cũng chỉ đặt ra một dạng câu hỏi, và câu hỏi đưa ra không
nên yêu cầu quá cao.
Bên cạnh đó, nếu học sinh nắm được nội dung cần thiết của bài học,
thể hiện rằng mình đã chuẩn bị bài chu đáo, GV có thể cộng thêm điểm cho
học sinh, nhằm động viên khuyến khích các em. Còn nếu học sinh không trả
lời được, hoặc trả lời lơ mơ, GV cũng nên nhắc nhở, uốn nắn kịp thời ( tuy
nhiên không được trừ điểm của học sinh ).
Tuỳ theo nội dung bài học, kinh nghiệm của GV và tuỳ vào đối tượng
học sinh từng lớp mà người GV đưa ra những cách kiểm tra khác nhau sao
cho linh hoạt và đạt hiệu quả cao nhất. Song điều cần thiết là phải kiên trì,
nhiệt tình và trách nhiệm, tránh tình trạng giao việc rồi lại để đó, không kiểm
tra.
► Cách tổ chức các hoạt động dạy học:
- Vận dụng linh hoạt các phương pháp, các kiểu dạy học. Đặc biệt chú
ý đến cách tổ chức cho học sinh thảo luận:
+ Tình huống thảo luận không đưa quá nhiều, cần có gợi ý cụ thể.
Trên đây là một số ít ỏi kinh nghiệm của tôi rút ra được trong quá
trình giảng dạy. Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các
đồng nghiệp để bản thân có thể hoàn thiện hơn giờ dạy của mình. Mong
rằng trong một chừng mực nhất định, kinh nghiệm giảng dạy này sẽ tạo
được điều kiện thuận lợi cho việc dạy tác phẩm văn học trung đại ở
trường phổ thông và cũng phần nào giúp được người học trên con đường
chiếm lĩnh tác phẩm văn chương đạt hiệu quả cao nhất.